CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TRONG HỆ
THỐNG CÁC DNNN.
I.Lý luận chung về đầu tư,đầu tư phát triển.
1.Khái quát về đầu tư,đầu tư phát triển
1.1.Đầu tư
Đầu tư nói chung là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các
hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn
các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được kết quả đó. Như vậy, mục tiêu của mọi
công cuộc đầu tư là đạt được các kết quả lớn hơn so với những hy sinh về
nguồn lực mà người đầu tư phải gánh chịu khi tiến hành đầu tư.
Nguồn lực phải hy sinh có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao
động và trí tuệ.
Đầu tư được chia làm ba loại chính:
- Đầu tư phát triển
- Đầu tư tài chính
- Đầu tư thương mại
Ba loại đầu tư này luôn luôn tồn tại và có quan hệ tương hỗ nhau. Đầu tư
phát triển để tăng tích lũy,phát triển đầu tư tài chính và đầu tư thương
mại.Ngược lại đầu tư tài chính và đầu tư thương mại hỗ trợ và tạo điều kiện
để tăng cường đầu tư phát triển.
1.2.Đầu tư phát triển
1.2.1 Khái niệm đầu tư phát triển
Đầu tư phát triển là bộ phận của đầu tư, là việc chi dùng vốn ở hiện tại để
tiến hành các hoạt động nhằm làm tăng thêm hoặc tạo ra những tài sản vật
chất (nhà xưởng thiết bị…) và tài sản trí tuệ (tri thức kỹ năng…), gia tăng
năng lực sản xuất, tạo nên việc làm và vì mục tiêu phát triển.
Đầu tư phát triển cần rất nhiều loại nguồn lực. Theo nghĩa hẹp, nguồn lực
cho đầu tư phát triển là tiền vốn. Theo nghĩa rộng, nguồn lực cho đầu tư phát
triển là tiền vốn, đất đai, lao động, máy móc thiết bị, tài nguyên. Như vậy,
khi xem xét lựa chọn dự án đầu tư hay đánh giá hiệu quả hoạt động của đầu
tư phát triển cần tính đúng tính đủ các nguồn lực tham gia.
- Quy mô tiền vốn, vật tư, lao động cần thiết cho đầu tư phát triển thường
rất lớn. Vốn đầu tư lớn nằm khê đọng lâu trong suốt quá trình đầu tư. Quy
mô vốn đầu tư lớn đòi hỏi phải có giải pháp tạo vốn và huy động vốn hợp lý,
xây dựng các chính sách, quy hoạch, kế hoạch đầu tư đúng đắn, quản lý chặt
chẽ tổng vốn đầu tư, bố trí vốn theo tiến độ đầu tư, thực hiện đầu tư trọng
tâm trọng điểm.
- Thời kỳ đầu tư kéo dài. Thời kỳ đầu tư tính từ khi khởi công xây dựng
dự án đến khi dự án hoàn thành và đi vào hoạt động. Nhiều công trình đầu tư
phát triển kéo dài hàng chục năm. Do vốn lớn lại khê đọng trong suốt quá
trình thực hiện đầu tư nên để nâng cao hiệu quả sử vốn đầu tư, cần tiến hành
phân kỳ đầu tư, bố trí vốn và các nguồn lực tập trung hoàn thành dứt điểm
từng hạng mục công trình, quản lý chặt chẽ tiến độ kế hoạch đầu tư, khắc
phục tình trạng thiếu vốn, nợ đọng vốn đầu tư xây dựng cơ bản.
- Thời gian vận hành các kết quả đầu tư kéo dài. Thời gian vận hành các
kết quả đầu tư tính từ khi đưa công trình vào hoạt động cho đến khi hết thời
hạn sử dụng và đào thải công trình. Nhiều thành quả đầu tư phát huy tác
dụng lâu dài, có thể tồn tại vĩnh viễn như Kim Tự Tháp Ai Cập, Nhà Thờ La
Mã ở Rôm, Vạn Lý Trường Thành ở Trung Quốc …. Trong suốt quá trình
2
vận hành, các thành quả đầu tư chịu tác động của hai mặt, cả tích cực và tiêu
cực, của nhiều yếu tố tự nhiên, chính trị, xã hội…Để thích ứng với đặc điểm
này công tác quản lý hoạt động đầu tư cần chú ý một số nội dung sau:
+ Thứ nhất, cần xây dựng cơ chế và phương pháp dự báo khoa học ở cả
cấp vĩ mô và vi mô về nhu cầu thị trường đối với sản phẩm đầu tư trong
tương lai, dự kiến khả năng cung từng năm và cả vòng đời dự án.
+ Thứ hai, quản lý tốt quá trình vận hành, nhanh chóng dưa các thành quả
đầu tư vào sử dụng, hoạt động tối đa công suất để nhanh chóng thu hồi vốn,
tránh hao mòn vô hình.
+ Thứ ba, chú ý đúng mức đến yếu tố độ trễ thời gian trong đầu tư. Đầu
tư trong năm nhưng thành quả đầu tư chưa chắc đã phát huy tác dụng ngay
quản lý kém, chất lượng sản phẩm không đạt yêu cầu… có nguyên nhân
khách quan nhu giá nguyên liệu tăng, giá sản phẩm giảm, công suất không
đatj công suất thiết kế…Ví dụ, để nghiên cứu tính khả thi về mặt thị trường,
chủ đầu tư phải nghiên cứu tình hình cung, cầu, giá cả… của sản phẩm dự
dịnh đầu tư của dự án. Với mức giá sản phẩm là 10000đồng/sản phẩm, dự án
xây dựng dòng tiền thu, chi và tính được tổng lợi nhuận thuần của cả vòng
đời dự án. Tổng lợi nhuận thuần cang lớn, quyết định đầu tư càng dễ dàng.
Tuy nhiên nếu khi dự án đi vào hoạt động, giá của sản phẩm giảm và chỉ là
5000 đ, thì trong các điều kiện khác không đổi, tổng lợi nhuận thuần của dự
án chỉ đạt 50% so với dự kiến ban đầu. Đây là rủi ro do giá bán sản phẩm
giảm. Như vậy, để quản lý hoạt động đầu tư có hiệu quả, cần thực hiện các
biện pháp quản lý ruỉ ro bao gồm:
+ Thứ nhất, nhận diện rủi ro đầu tư. Có nhiều nguyên nhân rủi ro, do vay,
việc xác định đúng nguyên nhân rủi ro sẽ là khâu quan trọng đầu tiên đẻ tìm
ra giả pháp phù hợp để khắc phục.
+ Thứ hai, đánh giá mức độ rủi ro. Rủi ro có khi xảy ra rất nghiêm trọng,
nhưng có khi chưa đến mức gây nên nhưng thiệt hại về kinh tế.Đánh giá
đúng mức độ rủi ro sẽ giúp ta đưa ra nhưng biện pháp phòng và chống phù
hợp.
+ Thứ ba, xây dựng các biện pháp phòng và chống rủi ro. Mỗi loại rủi ro
và mức độ rủi ro nhiều hay ít sẽ có biện pháp phòng và chống tương ứng
nhằm hạn chế đến mức thấp nhất có thể có do rủi ro này gây ra.
1.2.4 Nguồn vốn cho đầu tư phát triển
Nguồn lực để thực hiện đầu tư là vốn. Nội dung và nguồn gốc của vốn
là những vấn đề cốt lõi cần phải giải quyết của lý thuyết đầu tư phát
triển.Bản chất của đầu tư phát triển còn được thể hiện ở nội dung vốn và
nguồn vốn đầu tư, lý luận biện chứng về mối quan hệ hữu cơ giữa hai vấn đề
này.
Vốn đầu tư phát triển là bộ phận cơ bản của vốn nói chung. Trên
phương diện kinh tế, vốn đầu tư phát triển là biểu hiện bằng tiền toàn bộ
mại nước ngoài và nguồn vốn trên thị trường vốn quốc tế. Trong mỗi thời kỳ
khác nhau, quy mô và tỷ trọng vốn của từng nguồn vốn có thể thay đổi
5
nhưng để chủ động phát triển KTXH của quốc gia theo định hướng chiến
lược và kế hoạch đặt ra, cần nhất quán quan điểm: xem vốn trong nước giữ
vai trò quết định, vốn nước ngoài là quan trọng.
II.LÝ LUẬN VỀ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC (DNNN).
1.Khái niệm chung về DNNN
Trên cơ sở Nghị quyết Trung ương Ba, khóa IX, Luật DNNN năm
2003, tại Điều 1 đã quy định: "DNNN là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu
toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới
hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn".
Đó là những doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc giữ
hơn 50% vốn điều lệ. DNNN được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước,
công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, trong đó:
1 - DNNN có 100% vốn Nhà nước hoạt động theo Luật DNNN mới (năm
2003) được gọi là Công ty nhà nước (để phân biệt với DNNN có 100% vốn
nhà nước hoạt động theo các luật khác);
2 - Công ty cổ phần, công ty TNHH một hoặc hai thành viên trở lên có
100% vốn Nhà nước hoạt động theo Luật Doanh nghiệp;
3 - Công ty cổ phần, Công ty TNHH hai thành viên trở lên có cổ phần chi
phối hoặc vốn góp chi phối của Nhà nước hoạt động theo Luật Doanh
nghiệp, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
Do khái niệm DNNN được mở rộng hơn trước đây, cho nên, nếu dùng
cùng một khái niệm DNNN thì dễ lẫn lộn giữa ba loại DNNN nói trên. Để
phân biệt giữa DNNN hoạt động theo Luật DNNN mới với DNNN hoạt
động theo các luật khác, loại DNNN do Nhà nước thành lập, sở hữu 100%
vốn điều lệ hoạt động theo luật DNNN mới (Luật DNNN năm 1995 gọi là
DNNN) được gọi là Công ty Nhà nước.
Ngoài ra theo khoản 1 điều 4 chương I của Luật doanh nghiệp 2005
cáo…
2.1. Đầu tư xây dựng cơ bản
Đầu tư xây dựng cơ bản là hoạt động đầu tư nhằm tái tạo tài sản cố định
của doanh nghiệp. Đầu tư xây dựng cơ bản bao gồm các hoạt động chính
như: Xây lắp và mua sắm máy móc thiết bị. Trong doanh nghiệp đặc biệt
doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, để các hoạt động diễn ra bình thường đều
cần xây dựng nhà xưởng, kho tàng, các công trình kiến trúc, mua và lắp đặt
trên nền bệ các máy móc thiết bị… Hoạt động đầu tư này đòi hỏi vốn lớn và
chiếm tỉ trọng cao trong tổng vốn đầu tư phát triển của đơn vị.
2.2. Đầu tư bổ sung hàng tồn trữ.
2.2.1 Khái niệm
Hàng tồn trữ trong doanh nghiệp là toàn bộ nguyên-nhiên vật liệu, bán
thành phẩm và sản phẩm hoàn thành được tồn trữ trong doanh nghiệp. Tùy
theo loại hình doanh nghiệp, quy mô và cơ cấu các mặt hàng tồn trữ cũng
khác nhau. Nguyên vật liệu là một bộ phạn hàng tồn trữ không thể thiếu của
doanh nghiệp sản xuất nhưng lại không có trong doanh nghiệp thương mại
dịch vụ. Tỉ trọng đầu tư vào hàng tồn trữ trong tổng vốn đầu tư phát triển
của doanh nghiệp thương mại thường cao hơn các loại hình doanh nghiệp
khác. Do vậy xác định quy mô đầu tư hàng tồn trữ tối ưu cho doanh nghiệp
là rất cần thiết.
7
*Vai trò của dự trữ
Dụ trữ luôn là vấn đề sống còn là một đòi hỏi tất yếu khách quan, nó
đảm bảo tính liên tục và hiệu quả của sản xuất và tiêu dùng .
Trong mô hình dự trữ JIT ( Just in time ) chỉ ra:
+ Nếu dự trữ thật nhiều dẫn đến ứng đọng vốn , hàng hoá hỏng , tăng
chi phí bảo quản không hiệu quả.
+ Nếu dự trữ ít quá không đủ nguyên vật liệu để sản xuất , không đủ
hàng hoá để bán và dẫn đến gián đoạn sản xuất kinh doanh .
+ Cần phải phân biệt giữa dự trữ và tình trạng dư thừa ứng đọng sản
- Đặc điểm chi phí dự trữ là thay đổi tỷ lệ thuận với quy mô đặt hàng.
2.3. Đầu tư phát triển nguồn nhân lực.
Nguồn nhân lực có vị trí đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế và
doanh nghiệp. Chỉ có nguồn nhân lực chất lượng cao mới đảm bảo dành
thắng lợi trong cạnh tranh. Do vậy, đầu tư nâng cao chất lượng nhân lực là
rất cần thiết. Đầu tư phát triển nguồn nhân lực bao gồm: đầu tư cho hoạt
động đào tạo (chính quy, không chính quy, dài hạn, ngắn hạn, bồi dưỡng
nghiệp vụ….) đội ngũ lao động; đầu tư cho công tác chăm sóc sức khỏe-y tế;
đầu tư cải thiện môi trường-điều kiện lao động của người lao động…Trả
lương đúng và đủ cho người lao động cũng được xem là hoạt động đầu tư
phát triển. Đầu tư phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp bắt đầu từ
khâu tuyển người lao động. Đây là cơ sở để có được lực lượng lao động tốt,
bởi vậy khâu tuyển người đòi hỏi cần phải rất khắt khe cẩn thận nhất.Tuyển
người hiện nay đòi hỏi phải đạt được các yêu cầu như : Trình độ văn hoá ,
ngoại ngữ, trình độ vi tính …Tiếp đến là quá trình nâng cao khả năng lao
động của người lao động thường xuyên.Trong điều kiện đổi mới hiện nay rất
nhiều công nghệ hiện đại đã và đang được ứng dụng trong các loại hình
doanh nghiệp nước ta.Vì vậy việc đào tạo lao động là yêu cầu vô cùng quan
trọng .Cuối cùng là việc khen thưởng tổ chức các hoạt động về tinh thần
giúp người lao động hăng say trong công việc từ đó nâng cao năng suất lao
động. Các hinh thức khen thưởng đang được thực hiện ở các doanh nghiệp
các cá nhân thành viên có thanh tích tốt đều được thưởng xứng đáng góp
phần nâng cao trong xí nghiệp , công ty , các cuộc thi các cá nhân …Nhờ có
chính sách đào tạo lao động nhiều doanh nghiệp đã đạt được những thanh
công to lớn , góp phần không nhỏ trong chiến lược sản xuất kinh doanh
cũng như chiến lược cạnh tranh của mình.
2.4. Đầu tư nghiên cứu và triển khai các hoạt động khoa học và công nghệ.
Phát triển sản phẩm mới và các lĩnh vực hoạt động mới đòi hỏi đầu tư
cho các họat động nghiên cứu, triển khai, ứng dụng công nghệ. Đầu tư
nghiên cứu hoặc mua công nghệ đòi hỏi vốn lớn và độ rủi ro cao. Hiện nay
Thứ nhất là : đầu tư cho việc nghiên cứu thị trường của doanh nghiệp
trước hết là nghiên cứu khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.Có thể nói
cạnh tranh là một đặc tính cơ bản nhất của thị trường của doanh nghiệp, sẽ
không có thị trường nếu không có cạnh tranh, trong môi trường cạnh tranh
hoàn hảo mục tiêu của doanh nghiệp, người tiêu dùng là tối đa hoá lợi nhuận
và sự tiện ích của chính mình, khả năng cạnh tranh là nguồn năng lượng
thiết yếu để doanh nghiệp tiếp tục vững bước trên con đường hội nhập kinh
tế.
11
Thực tế cho thấy doanh nghiệp kinh doanh thành công thực hiện các kĩ
năng cạnh tranh rất thuần thục, nó tạo thành phương pháp cạnh tranh đặc
trưng của doanh nghiệp
Các kĩ năng này tập trung vào :
-Tạo lập và phát triển uy tín doanh nghiệp
-Coi trọng chiến lược mở rông thị trương
-Xây dựng và thực hiện đổi mới sản phẩm , mẫu mã
-Luôn tìm cách giảm chi phí sản xuất
-Sách lược tiêu thụ sản phẩm khôn khéo
Thứ hai là: khi nghiên cứu thị trường trong đầu tư tài sản vô hình của
doanh nghiệp ta cần phải nghiên cứu hành vi của người tiêu dùng.
Hành vi của người tiêu dùng thực hiện trong việc tìm kiếm, mua, sử
dụng đánh giá và vứt bỏ các sản phẩm và dịch vụ mà họ dự định sẽ thoả mãn
các nhu cầu của họ. Nghiên cứu hành vi của người tiêu dùng là nghiên cứu
các cá nhân đưa ra quyết định thế nào đối với việc chi tiêu các nguồn tài
nguyên có thể sử dụng của họ trong các hạng mục liên quan đến sự tiêu
dùng. Qua việc nghiên cứu hành vi người tiêu dùng sẽ cung cấp cho các nhà
sản xuất những thông tin quan trọng để họ lên kế hoạch sản xuất thiết kế cải
tiến và xây dựng được cac chiến lược khuyến mại.
Mục đích của nghiên cứu người tiêu dùng là phục vụ cho công tác quản
lí kinh doanh sản xuất và dịch vụ. Các nhà quản lí muốn biết nguyên nhân
(Nguồn: Niên giám thống kê 2006)
Từ bảng số liệu chúng ta thấy rằng số lượng các DNNN có xu hướng
ngày càng giảm và điều này hoàn toàn phù hợp. Xét về lý thuyết, khu vực
DNNN trong nền kinh tế thị trường không cần có tỷ trọng cao mà chỉ cần
chiếm giữ những vị trí then chốt. Lý thuyết và kinh nghiệm thực tiễn cho
thấy, tỷ trọng DNNN được coi là quá lớn khi vượt quá giới hạn 20-25% và
quá nhỏ khi ở dưới mức 5% GDP. Trong thời kỳ chuyển đổi cần khẳng định
vai trò chủ đạo của DNNN nhưng xét về lâu dài DNNN sẽ giữ vai trò nòng
cốt, là một trong những công cụ điều tiết vĩ mô. Xét về cơ cấu sở hữu,
DNNN là một bộ phận quan trọng, cùng với các bộ phận sở hữu khác phát
triển bình đẳng và cạnh tranh với nhau.
Trong những năm vừa qua, phần lớn các DNNN được sắp xếp lại theo
hướng cổ phần hóa đã nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm đối với nền
kinh tế, sản xuất kinh doanh đã có lãi, nhiều DN đã mạnh dạn đầu tư đổi mới
công nghệ, máy móc thiết bị để nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản
phẩm, khắc phục tình trạng lỗ lũy kế và có vốn tích lũy để tái sản xuất mở
rộng.
Trong đó vốn là nguồn lực để thực hiện đầu tư phát triển. Việc sử
dụng vốn như thế nào có ý nghĩa rất quan trọng đối với doanh nghiệp.
DNNN là loại hình kinh tế được nhà nước đầu tư vốn lớn vì vậy việc sử
dụng vốn có hiệu quả hay không ảnh hưởng rất nhiều đến sự phát triển của
nền kinh tế. Từ sau khi thực hiện công cuộc đổi mới nền kinh tế, nhà nước
đã có những chính sách phù hợp hơn đối với sự phát triển của DNNN, nhờ
vậy hiệu quả sử dụng vốn của DNNN đã được nâng cao rõ rệt. Tuy nhiên
vẫn còn nhiều mặt hạn chế để hiểu rõ tinh hình sử dụng vốn đầu tư của
DNNN ta xem bảng số liệu sau :
Vốn sản xuất kinh doanh và doanh thu thuần của DNNN
Tỷ đồng
2000 2002 2003 2004 2005
Vốn sản xuất kinh doanh
số DN (%)
Số DN lãi 78.82 79.35 82.96
Số DN lỗ 17.45 16.69 14.67
( Nguồn : Tổng cục thống kê)
Đi sâu vào phân tích hoạt động sử dụng vốn vào SXKD, và quan
trọng hơn là mảng sử dụng vốn cho hoạt động đầu tư phát triển của các
DNNN nhà nước, chúng ta có thể bắt gặp một số tồn tại cơ bản sau:
1.Về đầu tư xây dựng cơ bản.
Xây dựng cơ bản luôn là quá trình đi tiên phong của bất cứ quá trình
đầu tư nào. Nó tạo ra các cơ sở vật chất mới làm tiền đề cho việc tiến hành
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Quyết toán chi ngân sách nhà nước (tóm lược)
Tỷ đồng
2000 2001 2002 2003 2004
TỔNG CHI
10896
1
12977
3
14820
8
18118
3
21417
6
15
Trong tổng chi
Chi đầu tư phát triển
29624 40236 45218 59629 66115
Trong đó: Chi XDCB
“Mọi dự án đầu tư xây dựng cơ bản đều có sai phạm”.
Kết quả kiểm tra năm 2002 của 995 dự án với tổng vốn đầu tư 20.736
tỷ đồng, đã phát hiện sai phạm về tài chính và sử dụng vốn đầu tư là 1.151 tỷ
đồng, bằng khoảng 5,5% tổng vốn đầu tư các công trình được kiểm tra.
Riêng 17 công trình do Thanh tra Nhà nước thực hiện kiểm tra phát hiện sai
phạm tài chính lên tới 13%. Đó là chưa kể đến các lãng phí lớn do chậm
triển khai công trình và nhất là do sai sót trong chủ trương đầu tư mà hiện
chưa có cách đánh giá thống nhất
16
(Nguồn: Báo cáo tại hội nghị toàn quốc về Quản lý đầu tư và Xây
dựng Cơ bản)
Theo kết quả thanh tra quản lý đầu tư xây dựng, tất cả các dự án đều
có sai phạm, diễn ra ở tất cả các khâu, các giai đoạn đầu tư, đặc biệt là công
tác lập dự án, thiết kế sơ sài dẫn tới vượt dự toán rất cao.
Qua thống kê 36 tỉnh, thành phát hiện tổng giá trị sai phạm lên tới
113,913 tỷ đồng, chủ yếu là thất thoát, lãng phí do chất lượng khảo sát, thiết
kế không phù hợp, thay đổi chủng loại vật liệu, trang thiết bị không đảm
bảo… Trong công tác đấu thầu, các sai phạm thường gặp như chỉ định thầu,
xét thầu, áp dụng kết quả đấu thầu sai qui định, bán thầu
Đây là một kết quả đáng chú ý của việc thực hiện việc thanh tra, kiểm
tra hành chính, chuyên ngành năm 2006. Đến nay, toàn ngành thanh tra đã
cơ bản kết thúc 12.636 cuộc trong tổng số 14.167 cuộc đã triển khai; phát
hiện sai phạm với tổng giá trị 6.382,961 tỉ đồng và 5.478,583 triệu USD,
hơn 11.346ha đất. Qua thanh tra, kiểm tra, ngoài kiến nghị xử lý, khắc phục
phần có giá trị sai phạm, giảm trừ, loại khỏi quyết toán , các tổ chức thanh
tra nhà nước đã kiến nghị thu hồi 447,712 tỉ đồng và 207.923 USD; kiểm tra
xử lý hành chính gần 3.000 trường hợp và kiến nghị cơ quan điều tra xử lý
95 vụ với 201 người.
Đi sâu vào tìm hiểu vấn đề náy chúng ta thấy rằng: Vốn đầu tư thất
thoát diễn ra từ khâu chuẩn bị dự án, thẩm định và phê duyệt dự án đầu tư
nhân lực hiện nay thể hiện rất rõ trạng thái mất cân bằng, trong đó cung lớn
hơn cầu, đại bộ phận lao động nông thôn thiếu việc làm.
Có thể nói, phát triển nguồn nhân lực và nhân tài trong quản lý kinh
doanh hơn bao giờ hết đang là một vấn đề cần được đặc biệt chú trọng. Với
ý nghĩa này, các nhân tố phát năng sự phát triển nguồn nhân lực được đề cập
là: giáo dục và đào tạo; sức khoẻ và dinh dưỡng; môi trường và việc làm.
Riêng đối với khu vực kinh tế nhà nước đặc biệt là các DNNN trong
những năm qua đã tiến hành rất nhiều lần cải cách nhằm thanh lọc những
cán bộ yếu kém về năng lực, chủ động và mạnh dạn sử dụng các cán bộ trẻ
có năng lực-trình độ, cộng với hoài bão lớn và nhiệt huyết của tuổi trẻ. Tuy
nhiên vấn đề đầu tư phát triển nguồn nhân lực trong quản lý kinh doanh của
các DNNN vẫn chưa thực sụ được quan tâm đúng mức. Có một thực trạng là
các học sinh-sinh viên ra trường với bằng ưu thường được các DNNN chủ
động nhận về làm việc nhưng trong quá trình làm việc họ ít được quan tâm
theo dõi sát sao để phát triển các năng lực thế mạnh của mình.
- Đầu tiên là vấn đề giáo dục-đào tạo, các DNNN ít khi chủ động liên
hệ với các cơ sở đào tạo để nâng cao trình độ cho cán bộ công nhân viên,để
tiếp cận tri thức khoa học mới, có chăng là họ cũng chỉ tổ chức những buổi
tọa đàm-nói chuyện về kinh nghiệm nghề nghiệp.
- Thứ hai là vấn đề chế độ đãi ngộ: có một cái khó cho các DNNN ở
đây là mức lương thì do Quốc hội và Bộ tài chính thông qua, các DNNN
không thể tự điều chỉnh được do đó với chế độ lương hiện tại thì không thể
đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt của cán bộ công nhân viên. Tuy nhiên
chúng ta vẫn có thể lấy lợi nhuận sau thuế làm tiền thưởng cho cán bộ nhưng
với các DNNN khoản lợi nhuận thường là âm do vẫn còn dư âm của chế độ
bao cấp nên các DNNN chưa thực sự hoạt động hết mình.
18
- Thứ ba là môi trường làm việc còn sắp xếp thiếu khoa học, không có
tính cạnh tranh cao, không thúc đẩy được người lao động tham gia sản xuất
với hiệu quả cao nhất.
Việt Nam hiện nay, hơn bao giờ hết đang là vấn đề rất bức thiết, đòi hỏi phải
có cả một chiến lược để giúp cho họ thích ứng được trong sự phát triển hệ
thống các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường, trong cuộc chạy đua
kinh tế toàn cầu diễn ra sôi nổi cùng với tiến trình hội nhập khu vực và thế
giới. Những vấn đề về kiến thức, kỹ năng quản lý, quản trị kinh doanh, khả
năng tiếp thu các thành tựu mới tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ thế
giới, trình độ nhận thức về pháp luật, phong cách giao tiếp phù hợp với quy
mô, tính chất và hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh đa dạng, linh hoạt và
năng động.
Từ thực tiễn hoạt động, cần phát hiện những nhân tài trong kinh
doanh với sự liên kết về tố chất của một nhà kinh doanh tài năng. Năng lực
trí tuệ cao trong điều kiện cần có một định chuẩn thống nhất về phẩm chất
và nhân cách nhà kinh doanh với các phương pháp đánh giá tuyển chọn khoa
học.
3.Về đầu tư bổ sung hàng tồn kho.
Hàng tồn kho trong các doanh nghiệp có nhiều loại, nhiều thứ có vai
trò, công dụng khác nhau trong quá trình sản xuất kinh doanh. Việc xác định
và ghi nhận hàng tồn kho đòi hỏi phải được quan tâm thường xuyên vì hàng
tồn kho chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số các tài sản lưu động của các doanh
nghiệp. Để quản lý tốt hàng tồn kho cần phải phân loại, sắp xếp hàng tồn
kho theo những nhóm và theo tiêu thức nhất định. Tiêu thức phân loại thông
dụng nhất là phân loại theo công dụng của hàng tồn kho.
Theo kế toán Việt Nam: hàng tồn kho bao gồm: nguyên vật liệu, hàng
mua đi đường, công cụ dụng cụ, giá trị sản phẩm dở dang, hàng gửi bán,
thành phẩm, hàng hoá.
Ngoài ra, hàng tồn kho còn được phân loại theo các khâu của quá
trình sản xuất kinh doanh, đó là hàng tồn kho ở khâu dự trữ (nguyên vật liệu,
hàng đi đường, công cụ dụng cụ ); hàng tồn kho ở khâu sản xuất (giá trị sản
phẩm dở dang) và hàng tồn kho ở khâu lưu thông (thành phẩm, hàng hoá,
hàng gửi bán). Việc phân loại hàng tồn kho gắn với các khâu của quá trình
khoa học, công nghệ; đồng thời, cũng có những doanh nghiệp có khả năng
tài chính nhưng chưa chú trọng tới khoa học và công nghệ, chưa dự báo
được sự cạnh tranh mạnh mẽ trong thời kỳ hội nhập. Họ chấp nhận vốn đầu
tư ban đầu để thu hút vốn nhanh. Điều này trước mắt có thể có lợi cho doanh
nghiệp song đây sẽ là điểm hạn chế khi thực hiện chủ trương từng bước hiện
đại hóa công nghệ.
Những người trong ngành thừa nhận sự trì trệ của cả doanh nghiệp lẫn
giới nghiên cứu công nghệ là một nguyên nhân quan trọng khiến năm nay,
Diễn đàn kinh tế thế giới chỉ xếp Việt Nam đứng thứ 92 về công nghệ (trong
số 104 nước tham gia xếp hạng), tụt hậu xa so với Trung Quốc (62) và Thái
Lan (43).
Việt Nam hiện có 160.000 doanh nghiệp, trong đó 80% là doanh
nghiệp có quy mô nhỏ, khoảng gần 6.000 doanh nghiệp nhà nước, hầu hết
đều chưa quan tâm đến đầu tư khoa học công nghệ. Thậm chí 47% doanh
nghiệp không có chiến lược dài hạn, không phân tích thị trường và không
biết đối thủ cạnh tranh.
Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, chuyên viên cấp cao Bộ Kế hoạch và Đầu tư,
cho biết, kết quả kiểm toán 9 tổng công ty cho thấy, các giám đốc doanh
nghiệp nhà nước không có động lực để cải tiến doanh nghiệp. "Bởi nếu cải
tiến thành công, họ có thể được tăng lương chút ít, hoặc được thưởng, nhưng
nếu thất bại (mà nguy cơ rủi ro không phải là nhỏ) thì thiệt hại đối với họ là
rất lớn, như mất chức, giảm bậc lương Do vậy, các giám đốc thường yên
phận với hoạt động hiện tại của công ty, mà không cần quan tâm đến thị
trường và khách hàng", ông nói. Ông cho biết thêm, tình trạng thua lỗ
thường chỉ bộc lộ sau thời gian dài trì trệ và trở nên nghiêm trọng, làm cho
các doanh nghiệp nhà nước hoạt động dưới tiềm năng, và kém phát triển
nhất trong số các loại hình doanh nghiệp.
Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, tình hình cũng không sáng sủa
hơn. Ông Lý Đình Sơn, Giám đốc Trung tâm xây dựng năng lực doanh
nghiệp, cho biết, điều tra của Trung tâm trên 200 cơ sở cho thấy, khó khăn
tư cho hoạt động khoa học và công nghệ chậm hơn so với tốc độ tăng của
tổng vốn đầu tư của khu vực kinh tế nhà nước. Thứ hai là tỷ trọng của vốn
đầu tư cho hoạt động KH-CN còn chiếm tỷ trọng rất nhỏ, chưa đến 1% tổng
23
vốn đầu tư của DNNN chứng tỏ các DNNN chưa hề quan tâm đến mảng đầu
tư này.
CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
MỚI VÀO SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP
Một số chỉ tiêu có thể dùng để đánh giá hiệu quả đầu tư khoa học
công nghệ (KHCN) vào sản xuất kinh doanh (SXKD) của doanh nghiệp
(DN). Các chỉ tiêu đó là:
+ Giá thành sản phẩm;
+ Chất lượng hàng hóa;
+ Lợi nhuận.
*Đánh giá hiệu quả đầu tư KHCN mới vào SXKD bằng các chỉ tiêu
nêu trên có nhiều ưu điểm, đang được nhiều DN áp dụng. Tuy nhiên đối với
DN (ngành, lĩnh vực) có chu kỳ SXKD dài hạn từ 5 đến 7 năm, tức là kể từ
khi đầu tư KHCN mới phải trải qua 5-7 năm mới có sản phẩm, hàng hóa, lợi
nhuận, nhưng lại có yêu cầu biết hiệu quả ngắn hạn (Ví dụ sau một năm đầu
tư KHCN mới) nhằm điều chỉnh SXKD và đầu tư KHCN. Thậm chí có
trường hợp còn muốn biết hiệu quả trước khi đầu tư KHCN để đưa ra quyết
định có đầu tư hay không, hay đầu tư như thế nào. Ở đây thấy rất rõ ràng là
chưa có các thông tin: Giá thành, chất lượng hàng hóa hay lợi nhuận để đánh
giá hiệu quả đầu tư KHCN mới. Muốn khắc phục trở ngại này cần phải dùng
thông tin thay thế thích hợp đối với DN. Chẳng hạn như thay thế thông tin
lợi nhuận bằng thông tin số lao động có công ăn việc làm. Ở nước ta hiện
nay đầu tư KHCN mới làm tăng (giảm) số lao động có công ăn việc làm
cũng được coi là hiệu quả. Nếu vậy hiệu quả được đánh giá bằng công thức
sau đây:
00
∆
x
= x
1
- x
0
x
l
: Mức đầu tư KHCN mới (kỳ báo cáo)
x
0
: Mức đầu tư KHCN cũ (kỳ gốc)
Ví dụ có số liệu thống kê về đầu tư KHCN và số lao động có việc làm của
DN như sau:
Ký
hiệu
Kỳ gốc
Kỳ báo
cáo
Tăng (giảm)
Tuyệt
đối
%
Mức đầu tư KHCN (tỷ đ) x 10 10,2 0,2 2
Số lao động có việc làm
(người) N 100 130 30 30
H = 30% : 2% = 15
Kết quả bằng số cho biết: tăng thêm 1% đầu tư KHCN làm tăng 15%
số lao động có việc làm đã chứng tỏ đầu tư có hiệu quả. Ở đây cần lưu ý nếu
đầu tư thêm KHCN làm giảm số lao động có việc làm thì phải căn cứ vào kế