MỤC LỤC
1
LỜI NÓI ĐẦU
Quá trình thực tập tốt nghiệp là một cơ hội tốt để sinh viên cũng cố, nâng cao
kiến thức đã học, vận dụng kiến thức lý luận đó vào thực tế để gắn lý luận với
thực tiễn. Phân tích, đánh giá các hoạt động quản lý và kinh doanh tại cơ sở,
kiến nghị phương hướng, biện pháp nhằm tiếp tục đổi mới và hoàn thiện các
hoạt động kinh doanh…qua đó giúp sinh viên hoàn thiện và nâng cao kiến
thức đã được trang bị, làm quen với công tác quản lý kinh tế, rèn luyện tác
phong, phương pháp của một người cán bộ quản lý kinh tế, quản lý kinh
doanh thương mại dịch vụ.
Được sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn và khoa Thương mại –
Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân, em được phân công về Viện Chính sách
và Chiến lược phát triển Nông nghiệp Nông thôn để thực hiện công tác thực
tập.
Qua 5 tuần thực tập tổng hợp đã giúp em hiểu rõ hơn về Viện Chính
sách và Chiến lược phát triển Nông nghiệp Nông thôn, và đây là bản báo cáo
tổng hợp nêu lên những vấn đề cơ bản nhất của Viện về quá trình hình thành
và phát triển, chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức, thực trạng hoạt động của
Viện và qua đó xác định được hướng đề tài nghiên cứu phù hợp với tình hình
cơ sở thực tập.
2
PHẦN 1 : TỔNG QUAN VỀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT
TRIỂN CỦA VIỆN CHÍNH SÁCH VÀ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN
NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN
1. Quá trình hình thành và chức năng, nhiệm vụ của Viện
Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn
1.1. Giới thiệu chung về Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông
nghiệp Nông thôn
Tên tổ chức Khoa học và Công nghệ : Viện Chính sách và Chiến lược
Phát triển Nông nghiệp Nông thôn.
Ngày nay, chúng ta đang bước vào một giai đoạn phát triển với những
thách thức và cơ hội mới, đó là thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại
hóa trong hoàn cảnh lao động nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn và dân cư nông
thôn chiếm đa số, tốc độ chuyển đổi cơ cấu nông thôn diễn ra chậm.
Nông nghiệp Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển theo chiều sâu và
hội nhập toàn diện vào nền kinh tế thế giới. Nhiều cơ hội và thách thức lớn
đang đặt ra đòi hỏi Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn phải đưa ra được
những quyết sách sáng tạo, hiệu quả. Trong bối cảnh đó, phát triến Nông
nghiệp Nông thôn, xóa đói giảm nghèo được coi là ưu tiên quan trọng của
Việt Nam, việc đổi mới chính sách và chiến lược là giải pháp quyết định. Để
thực hiện nhiệm vụ quan trọng này, Chính phủ đã ra quyết định số 930/QĐ-
TTg ngày 09/9/2005 phê duyệt đề án sắp xếp hệ thống tổ chức khoa học thuộc
4
Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, bao gồm quyết định thành lập Viện
Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn, và đến cuối
năm 2005 Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn
đã được thành lập trên nền tảng của Viện Kinh tế Nông nghiệp và một số bộ
phận khác của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn với vai trò là cơ quan
nghiên cứu và tham mưu chính sách và chiến lược cho Chính phủ và Bộ,
Ngành.
1.3. Chức năng, nhiệm vụ của Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển
Nông nghiệp Nông thôn
1.3.1. Chức năng của Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp
Nông thôn
Viện có chức năng nghiên cứu khoa học, thông tin, đào tạo, tư vấn,
chuyển giao công nghệ và thực hiện các hoạt động theo quy định của pháp
luật nhằm phục vụ công tác xây dựng chính sách và chiến lược và phục vụ các
đối tượng của ngành Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.
1.3.2. Nhiệm vụ của Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp
Nông thôn
e. Quản lý tổ chức, kinh phí, tài sản và các nguồn lực được giao; thực
hiện các chế độ, chính sách với viên chức và người lao động; thực hiện các
hoạt động của đơn vị theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa
học và công nghệ công lập.
6
2. Những lĩnh vực hoạt động chủ yếu và các mối quan hệ của
Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông
thôn
2.1. Những lĩnh vực hoạt động chủ yếu của Viện
2.1.1. Thị trường, ngành hàng
Ngày nay, Việt Nam đã trở thành một nước sản xuất và xuất khẩu nhiều
loại nông sản đóng vai trò quan trọng trên thị trường quốc tế như gạo, cà phê,
cao su, hồ tiêu, điều, hoa quả…Để giúp cho các nhà quản lý và người sản xuất
kinh doanh ra các quyết định đúng đắn về tổ chức, đầu tư, phát triển thị
trường, Viện đã và sẽ cung cấp một số sản phẩm và dịch vụ như sau :
a. Trước mắt
Báo cáo đánh giá thị trường hàng quý và năm tóm tắt, đánh giá diễn
biến thị trường của các mặt hàng chính. Bản tin thị trường và ngành hàng
được xuất bản hàng tháng, Báo cáo và cung cấp thông tin giá cả, các bài viết
chuyên đề, hướng dẫn thị trường. Báo cáo hồ sơ nghành hàng tổng quan,
nghành hàng từ tổ chức sản xuất đến tiêu thụ và phân tích các yếu tố tác động
đến các ngành hàng. Báo cáo được xuất bản thành các chuyên đề và được cập
nhật theo thời gian. Trang web thị trường và ngành hàng và enews thị trường
đưa thông tin thị trường và cập nhật tin tức trong ngày, Thông tin cũng được
gửi trực tiếp cho các thành viên có đăng ký. Chương trình thông tin thị trường
nông sản đăng tải các bản tin về biến động giá cả và nhận xét ngắn gọn trên
các bản tin đặc biệt trên đài truyền hình Trung Ương, đài truyền hình Kỷ thuật
số và một số đài địa phương.
b. Về lâu dài
kết cấu của các tổ chức ở nông thôn để dụ đoán các phản ứng, tác động của
chính sách và biến động thị trường đến các tác nhân. Nghiên cứu chuyên đề
về tổ chức, hệ thông canh tác, quy hoạch nông thôn…nhằm đưa ra căn cứ
khoa học cho các đề xuất chính sách phát triển kinh tế, xã hội, môi trường
nông thôn. Sản phẩm thông tin (ấn phẩm, bản tin phát triển nông thôn…)
cung cấp các kết quả nghiên cứu nông thôn, tạo cơ chế trao đổi thôn tin đa
chiều, giúp cho người dân nắm bắt chính sách và có ý kiến phản hồi đóng góp
xây dựng chính sách.
b. Lâu dài
Hỗ trợ xây dựng mô hình phát triển nông thôn và xóa đói giảm nghèo,
sử dụng cách tiếp cận xây dựng tài nguyên cộng đồng và phát triển cộng
đồng…để huy động nội lực và đưa người dân vào quá trình ra quyết định.
Mạng lưới các trạm quan sát nông thôn thu thập thông tin thường xuyên của
các hộ nông thôn đại diện để giám sát diễn biến về lao động, việc làm, dinh
dưỡng, thu nhập…, đánh giá tác động của chính sách, thị trường và các biến
động khác. Diễn đàn điện tử về phát triển nông thôn trình bày ý kiến, giới
thiệu thông tin, trang bị kỹ năng và kiến thức cho các đối tượng làm việc
trong lĩnh vực Phát triển Nông nghiệp Nông thôn. Diễn đàn sẽ tư vấn, trực
tiếp trả lời người dân.
2.1.3. Chính sách chiến lược
Để làm tham mưu hiệu quả cho công tác quản lý nhà nước của Bộ, cần
phải trả lời các câu hỏi và cung cấp các thông tin cần thiết, cung cấp ý tưởng
và phát triển ra vấn đề từ thực tiễn cho các cơ quan hoạch định chính sách và
chiến lược. Các sản phẩm sau đã và sẽ được cung cấp :
a. Trước mắt
9
Nghiên cứu chuyên đề để trả lời câu hỏi của các nhà lập chính sách, đề
xuất các sáng kiến chính sách đưa lên từ địa phương, tổng kết kinh nghiệm
chích sách Nông nghiệp Nông thôn trong nước và quốc tế. Cơ sở dữ liệu
chính sách cập nhật và phân loại chính sách phát triển Nông nghiệp Nông
a. Trung tâm tư vấn chính sách nông nghiệp ( CAP )
Trung tâm được phát triển theo mô hình Trung tâm xuất sắc để thu hút
các chuyên gia kinh tế chính sách đựơc đào tạo từ các trường Đại học có uy
tín quốc tế.
Trung tâm tập chung chủ yếu vào 2 lĩnh vực : nghiên cứu, phân tích thị
trường ngành hàng và xây dựng, khai thác mô hình kinh tế mô phỏng phân
tích chính sách.
b. Trung tâm Thông tin phát triển Nông thôn (AGROINFO)
Lĩnh vực hoạt đông của trung tâm là cập nhật thông tin diễn biến ngành
hàng tại khắp các vùng nông thôn, huy động các công cụ hiện đại để kết nối
giữa người nghiên cứu với các đối tượng ra quyết định, găn kết các nhà
nghiên cứu ở các cơ quan hợp tác với Viện và liên kết giữa Viện với người
nông dân trong cả nước, cung cấp dịch vụ công.
c. Trung tâm phát triển Nông thôn (RUDEC)
Trung tâm phát huy lợi thế bám sát địa bàn nghiên cứu tại địa phương,
tiếp thu được sức sáng tạo và hiểu biết nhu cầu thiết thực của nông dân và các
tác nhân nông thôn.
Lĩnh vực chính của trung tâm là nghiên cứu, xây dựng mô hình tổ chức
tác nhân và quản lý chất lượng theo chuỗi ngành hàng; nghiên cứu và hỗ trợ
11
xây dựng mô hình thể chế nông thôn; áp dụng cách tiếp cận huy động cộng
đồng vào công tác phát triển nông thôn.
d. Cơ sở phía nam (SOIPSARD)
Đây là đơn vị đại diện cho Viện tại các tỉnh phía Nam, có trụ sở tại
Thành Phố Hồ Chí Minh.
Cơ sở phía Nam tập trung nghiên cứu các ngành hàng có lợi thế ở phía
Nam như : lúa gạo, rau quả, cà phê, cao su…
2.2. Các mối quan hệ của Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông
nghiệp Nông thôn
Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn
nghiệp
PGS Tiến
sỹ
3 Dương Ngọc Thí Phó Viện
trưởng
Kinh tế nông
nghiệp
Tiến
sỹ
Lãnh đạo Viện có Viện trưởng và các Phó Viện trưởng do Bộ trưởng
Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn bổ nhiệm theo quy định hiện hành.
3.1.2. Các phòng chức năng và Bộ môn nghiên cứu
a. Phòng Khoa học
b. Phòng Tổ chức và Hành chính
c. Phòng Tài chính
d. Bộ môn nghiên cứu Chiến lược và Chính sách
e. Bộ môn nghiên cứu Thị trường và Ngành hàng
g. Bộ môn Hệ thống Nông nghiệp
h. Bộ môn nghiên cứu Kinh tế Tài nguyên và Môi trường
3.1.3. Các đơn vị trực thuộc Viện
a. Trung tâm tư vấn Chính sách Nông nghiệp
b. Trung tâm Phát triển Nông thôn
c. Trung tâm Thông tin Phát triển Nông nghiệp Nông thôn
d. Cơ sở phía Nam
13
Ngoài các đơn vị, bộ phận trực thuộc Viện do Bộ thành lập, Viện còn có các
Hội đồng Tư vấn do Viện tổ chức như : Hội đồng Khoa học, Hội đồng Tư vấn
Chính sách Chiến lược và các Hội đồng khác thuộc thẩm quyền tổ chức thành
lập của Viện.
3.2. Sơ đồ tổ chức của Viện
ở các cơ quan hợp tác với Viện và liên kết giữa Viện với hàng triệu nông dân
trong cả nước thông qua sự phối hợp hoạt động của các phương tiện truyền
thông đại chúng, là cơ quan cung cấp dịch vụ công, ngân sách của Trung tâm
được đóng góp bởi nhà nước và người sử dụng tin.
3.2.4. Cơ sở phía Nam (SOIPSARD)
Các tỉnh miền Nam là vùng trọng điểm nông nghiệp của cả nước. Cơ sở
phía Nam là đơn vị đại diện cho Viện tại các tỉnh phía Nam, trụ sở của Viện
đặt tại Thành phố Hồ Chí Minh và hoạt động như một phân Viện với chức
năng nghiên cứu, thông tin và tư vấn.
Ngoài nhiệm vụ chung, Cơ sở phía Nam còn tập trung nghiên cứu các
ngành hàng có lợi thế ở phía Nam như: lúa gạo, cà phê…Cán bộ ở đây thường
xuyên bám sát địa bàn và thường nghiên cứu bằng mô hình thực tiễn.
PHẦN 2 : THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA VIỆN CHÍNH SÁCH VÀ
CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN
15
1. Thực trạng hoạt động của Viện trong 5 năm gần đây
1.1. Kết quả hoạt động nghiên cứu Khoa học và Công nghệ của Viện
Từ năm 2003 đến nay, công tác quản lý khoa học đã có nhiều đổi mới :
những đề tài thuộc chương trình được tuyển chọn đấu thầu, cạnh tranh còn đề
tài khác giao trực tiếp cho các đơn vị trực thuộc. Bình quân mỗi năm Viện
trúng thầu từ 2-4 đề tài; được giao từ 3-6 đề tài cấp Bộ và 4-6 đề tài thường
xuyên cơ sở; ngoài ra còn được giao chủ trì từ 2-4 dự án điều tra cơ bản.
THỐNG KÊ CÁC ĐỀ TÀI, DỰ ÁN GIAI ĐOẠN 2005-2007
STT
Chỉ tiêu
2005 2006 2007
Số
ĐT
Kinh
phí
Doanh nghiệp và hiệp hội 1 50 1 100
16
Phát triển nông thôn 3 180 2 300
Hội nhập kinh tế quốc tế 2 300
Môi trường đầu tư
Cơ chế quản lý và NC KHCN 2 300 4 700
2
DỰ ÁN ĐIỀU TRA CƠ BẢN
2 650 3 1000 1.050
3
MỘT SỐ SẢN PHẨM
3.1 Đề xuất luận cứ khoa học xây dựng Quyết định 80/2002/QĐ-TTg ngày 24/6/2002
về khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hoá thông qua hợp đồng.
3.2 Ban cán sự Bộ NN&PTNT sử dụng kết quả đề tài nghiên cứu thực tiễn và lý luận
20 năm đổi mới nông nghiệp nông thôn báo cáo gửi Ban Bí thư Trung ương Đảng
chuẩn bị văn kiện Đại hội Đảng
3.3 Sử dụng kết quả nghiên cứu đề tài: Nghiên cứu hoàn thiện các hình thức khoán
trong nông lâm trường quốc doanh để đề xuất chính sách sắp xếp, đổi mới và phát
triển nông lâm trường quốc doanh (Nghị định 170/2004/NĐ-CP và Nghị định
200/2004/NĐ-CP)
3.4 Bản tin, thông tin: Xuất bản 2 bản tin: Từ tháng 6/2005 xuất bản 1 bản tin Thị
trường và hội nhập, và từ tháng 6/2006 xuất bản thêm bản tin Thị trường nông sản.
Ngoài ra còn xuất bản 5 đầu sách/năm về kết quả nghiên cứu KHCN
3.5 Phản biện kế hoạch 2006-2020 của Bộ NN&PTNT
3.6 Xây dựng cơ sở dữ liệu về chính sách, ngành hàng, lao động và việc làm, chuyển
dịch cơ cấu nông nghiệp nông thôn…
Viện còn mở rộng hợp tác nghiên cứu Khoa học Công nghệ với các tổ
chức trong và ngoài nước, đặc biệt là hợp tác quốc tế : ADB, ACIAR, GRET,
GIZ…Viện còn phối hợp với các tổ chức quốc tế khác triển khai một số hoạt
động nghiên cứu và nâng cao năng lực nghiên cứu Khoa học Công nghệ.
trường nông sản
Triệu
đ/thán
g
25,00 Từ T5/2006 do dự án
DANIDA
1.2. Đánh giá chung thực trạng hoạt động của Viện
1.2.1. Về hoạt động nghiên cứu Khoa học và phát triển Công nghệ
a. Thuận lợi
Kể từ năm 2005 cho đến nay, Bộ đã tập trung đổi mới lại hoạt động của
Viện; bổ sung cán bộ lãnh đạo và cán bộ chuyên môn, tăng đầu tư, thay đổi
tên, tăng cường chức năng, nhiệm vụ… Nhờ đó đã tạo ra nguồn sinh khí mới
cho quá trình phát triển của Viện.
Có thể khẳng định, sau 1 năm gia nhập Tổ chức Thương mại Quốc tế
WTO, năm 2007 Viện đã cơ bản thực hiện đầy đủ các nội dung do Nghị quyết
Cán Bộ Công Chức năm 2006 đặt ra.
Một ưu điểm quan trọng của Viện là trong thời gian gần đây, Viện đã,
đang tích cực thu hút đội ngũ cán bộ trẻ có trình độ, có năng lực và được đào
tạo tốt về công tác tại Viện, tạo nên một sức mạnh mới về năng lực nghiên
cứu và tác phong làm việc.
18
Sự trợ giúp của các tổ chức quốc tế cho Viện cũng tăng mạnh thời gian
qua góp phần cải tạo trang bị, công nghệ và điều kiện làm việc. Nhiều cán bộ
của Viện được cử đi tham dự cả chương trình đào tạo ngắn, dài hạn; đào tạo
chính quy trong và ngoài nước. Nhờ đó, năng lực nghiên cứu và phục vụ quản
lý của Viện đã được cải thiện đáng kể.
Nhờ có các lợi thế trên, các đề tài nghiên cứu của Viện đã bám sát hơn
với công tác quản lý của Bộ. Một số công trình nghiên cứu đã thực sự đóng
góp cho chỉ đạo chiến lược của ngành. Lãnh đạo Bộ và các Cục, Vụ đã gắn
kết chặt chẽ hơn để chỉ đạo Viện và huy động Viện vào công tác của Bộ. Một
khác với các viện nghiên cứu khác, tuy nhiên các công cụ phục vụ công tác
nghiên cứu như máy vi tính, các phần mềm về mô hình phân tích và xử lý số
liệu, tài liệu,…đến nay vẫn chưa được đầu tư đồng bộ và cập nhật hàng năm.
Trang thiết bị và cơ sở hạ tầng phục vụ nghiên cứu KHCN của Viện còn lạc
hậu, nghèo nàn vào loại nhất trong Bộ.
Bên cạnh những khó khăn khách quan nêu trên cần phải kể đến các
nguyên nhân chủ quan như: mô hình quản lý và cơ chế hoạt động của Viện
chậm thay đổi (Viện là một trong hai đơn vị cuối cùng của Bộ vẫn chưa
chuyển đổi sang thực hiện nghị định 10 quản lý theo cơ chế sự nghiệp có thu),
nội bộ mất đoàn kết, kiện cáo kéo dài, một số kết luận của thanh tra chưa
được xử lý, năng lực của một số cán bộ chưa đáp ứng được yêu cầu, tác
phong, nề nếp làm việc chậm đổi mới.
Các khó khăn nêu trên khiến cho hoạt động nghiên cứu khoa học của
Viện trong thời gian dài chưa đáp ứng được yêu cầu của Bộ. Các cán bộ lãnh
đạo của Bộ ít sử dụng các thông tin và kết quả nghiên cứu của Viện. Hoạt
20
động nghiên cứu ít gắn với công tác quản lý nhà nước của Bộ, ít công trình có
giá trị về mặt khoa học được công bố.
1.2.2. Về sản xuất và dịch vụ
Trong thời gian qua, chức năng chủ yếu của Viện là nghiên cứu kinh tế
nông nghiệp. Viện là một trong những đơn vị sự nghiệp có thu vì không xác
định được nguồn thu rõ ràng. Chính vì vậy, Viện không thực hiện một hoạt
động dịch vụ Khoa học Công nghệ nào. Ngược lại, cơ chế quản lý hoàn toàn
dựa vào đầu tư của nhà nước lại tạo ra tâm lý ỷ lại và cản trở Viện áp dụng
những hình thức hoạt động mang tính thị trường như hợp đồng cán bộ nghiên
cứu, tham gia đấu thầu các đề tài nghiên cứu.
Tình trạng trên dẫn đến khó khăn của Viện trong việc tiếp cận với các
công cụ nghiên cứu KHCN mới, nắm bắt đáp ứng nhu cầu thực tế cuộc sống,
nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ và tạo động lực khuyến khích cán bộ tập
trung đầu tư tốt hơn cho công tác nghiên cứu KHCN. Do những cản trở về
Về công tác thị trường và ngành hàng, các nghiên cứu về dự báo cung cà
phê thu hút sự chú ý của cả các cơ quan nhà nước và tổ chức quốc tế và tuy
còn đang trong giai đoạn nghiên cứu nhưng đã tỏ ra triển vọng có thể áp dụng
vào thực tế trong tương lai. Hoạt động về thông tin thị trường trong các mô
hình về rau quả ở Đồng bằng sông Cửu Long đã thực sự đem lại hiệu quả
trong sản xuất và kinh doanh, được các tổ chức quốc tế và một số địa phương
đầu tư mở rộng.
Về phát triển nông thôn, các hoạt động về nghiên cứu tổ chức dịch vụ
của nông dân và nông thôn bước đầu đã tạo nên các mô hình về chuỗi ngành
nghề thành công (vải thiều Thanh Hà, gạo tám Hải Hậu, nhãn lồng Hưng
22
Yên). Các hoạt động này đã từng bước làm rõ quy trình hỗ trợ cho các địa
phương trong việc phát triển các chỉ dẫn địa lý và tên gọi xuất xứ cho các
ngành hàng đặc sản. Đây là những dịch vụ có thể thu hút được sự đầu tư trong
và ngoài nước trong tương lai.
Về kinh tế chính sách, với sự tích cực tăng cường năng lực của các
Trung tâm và Viện về các mô hình mô phỏng, phân tích chính sách và áp
dụng các công cụ nghiên cứu hiện đại khác, nhiều tổ chức nghiên cứu trong
nước và quốc tế đã ký hợp đồng với các đơn vị của Viện để thực hiện các
nghiên cứu chính sách như đánh giá tác động của quá trình hội nhập kinh tế
quốc tế, phân tích tác động của các chính sách của chương trình xoá đói giảm
nghèo, đánh giá tác động của các chính sách về bảo vệ môi trường và quản lý
tài nguyên…
Nhìn chung có thể nói những định hướng về dịch vụ và áp dụng công
nghệ vào sản xuất của Viện đang ngày càng rõ nét và có chiều hướng phát
triển tốt nếu được đặt trong môi trường thuận lợi về thể chế và chính sách.
Năm 2008, với quyết tâm đổi mới của toàn thể cán bộ với xu thế phát
triển của Bộ, của đất nước, chúng ta có cơ sở để tin tưởng rằng Viện Chính
sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn đang bước vào một
giai đoạn phát triển mới rực rỡ.