đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp công nghiệp việt nam thực trạng và giải pháp - Pdf 10

MỤC LỤC
Trang
Lời mở đầu …………………….…… … ….…………………… ……… 3
Chương I……………………………… ………………………… …… 5
Những vấn đề chung về đổi mới công nghệ trong công nghiệp …… … … 5
1. Khái niệm về đổi mới công nghệ trong công nghiệp …… ….…….…… … 5
2. Một số phương hướng lựa chọn công nghệ thích hợp trong công nghiệp …… 8
3. Đánh giá công nghệ và chuyển giao công nghệ trong phát triển
công nghiệp……………………………….… ………………………… 9
Chương II ….… …………………………………………………………. 13
Thực trạng đổi mới công nghệ trong các DN công nghiệp
Việt Nam……….………………………….……………………………. 13
1. Hiện trạng của đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp công nghiệp
Việt Nam…………………… …… ……………………………… 13
2. Những nhân tố thúc đẩy và cản trở đối với quá trình đổi mới công nghệ
trongcác doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam ……… ……………… 22
Chương III … …………………………………………………………… 26
Các giải pháp nhằm nâng cao hoạt động đổi mới công nghệ trong các
doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam ………………………………… 26
1. Các giải pháp đối với doanh nghiệp công nghiệp …………………………. 26
2. Các giải pháp, kiến nghị đối với cơ quan Nhà nước có liên quan ………… 27
Kết luận ……………………………… …….…………………….…… 30
Danh mục tài liệu tham khảo …… ……………….………………… …. 31
1
LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh ngày càng gay gắt như hiện nay,
nhất là từ khi Việt Nam gia nhập làm thành viên của tổ chức thương mại thế giới
WTO, các doanh nghiệp(DN) Việt Nam nói chung và các DN công nghiệp Việt
Nam nói riêng đang phải đối mặt với nhiều cơ hội cũng như thách thức cản trở
trên con đường hội nhập. Muốn tồn tại và phát triển được buộc các DN phải tập
trung không ngừng tự hoàn thiện và làm mới phù hợp với quy luật phát triển

công nghiệp
1. Khái niệm về đổi mới công nghệ trong công nghiệp.
1.1 Khái niệm chung về công nghệ và đổi mới công nghệ.
Trong thời đại ngày nay, khoa học – công nghệ đang đi trên một con đường
phát triển mạnh mẽ như vũ bão. Nó đã ảnh hưởng sâu rộng đến tất cả các mặt
của đời sống kinh tế xã hội. Đặc biệt, đối với một quốc gia nói chung hay một
DN nói riêng thì khoa học – công nghệ lại là yếu tố cơ bản để tạo nên sức mạnh
kinh tế và khả năng cạnh tranh cho DN đó.
Khái niệm về công nghệ thì hiện nay đang tồn tại rất nhiều quan niệm khác
nhau. Công nghệ (hay công nghệ học hoặc kỹ thuật học) có nhiều hơn một định
nghĩa. Một trong số đó là phát triển và ứng dụng của các dụng cụ, máy móc,
nguyên liệu và quy trình để giúp đỡ giải quyết những vấn đề của con người. Với
tư cách là hoạt động con người, công nghệ diễn ra trước khi có khoa học và kỹ
nghệ. Nó thể hiện kiến thức của con người trong giải quyết các vấn đề thực tế để
tạo ra các dụng cụ, máy móc, nguyên liệu hoặc quy trình tiêu chuẩn. Việc tiêu
chuẩn hóa như vậy là đặc thù chủ yếu của công nghệ.
Hay ví dụ như theo Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên Hợp Quốc
(UNIDO) định nghĩa công nghệ là việc áp dụng khoa học vào công nghiệp bằng
cách sử dụng những kết quả nghiên cứu và xử lý nó một cách có hệ thống, có
phương pháp. Hoặc theo Ủy ban Kinh tế và Xã hội châu Á – Thái Bình Dương
(ESCAP) định nghĩa thì công nghệ là hệ thống kiến thức về quá trình và kỹ
thuật chế biến vật liệu và thông tin. Từ điển Khoa học Việt Nam phát hành năm
1995 đã tập hợp 6 khái niệm được coi là tiêu biểu về công nghệ…Công nghệ (có
nguồn gốc từ technologia, hay τεχνολογια, trong tiếng Hy Lạp; techne có nghĩa
là thủ công và logia có nghĩa là "châm ngôn") là một thuật ngữ rộng ám chỉ đến
các công cụ và mưu mẹo của con người. Tuỳ vào từng ngữ cảnh mà thuật ngữ
công nghệ có thể được hiểu:
- Công cụ hoặc máy móc giúp con người giải quyết các vấn đề;
4
- Các kỹ thuật bao gồm các phương pháp, vật liệu, công cụ và các tiến trình

- Tập hợp các đặc tính hiệu quả hoàn toàn mới.
5
- Giảm chi phí.
- Thay đổi nền tảng cạnh tranh.
Đổi mới triệt để và đổi mới nâng cao thường diễn ra song song với nhau.
Chính vì vậy khi đổi mới triệt để thành công thì nối tiếp nó sẽ là một quá trình
đổi mới nâng cao, làm tăng hiệu suất và mở rộng phạm vi ứng dụng.
1.2 Quá trình hình thành và phát triển đổi mới công nghệ trong công nghiệp.
Vào thế kỷ XVIII, khi mới bắt đầu cuộc cách mạng công nghiệp đầu tiên,
nhiều công nghệ, kỹ thuật được ra đời dựa vào kinh nghiệm sản xuất trực tiếp
của loài người trong quá trình lao động chứ không phải do nghiên cứu khoa học.
Ngay từ buổi đầu công nghiệp hóa, người ta đã định nghĩa được công nghệ.
Tuy chỉ với nghĩa hẹp nhưng qua đó nhận thấy việc công nghệ được biết đến và
áp dụng vào công nghiệp đã bắt đầu từ thời kì sơ khai của quá trình công nghiệp
hóa. Việc áp dụng công nghệ vào công nghiệp chính là việc tạo ra những
phương pháp, giải pháp kỹ thuật sử dụng trong các dây chuyền sản xuất sản
phẩm. Trải qua nhiều thời gian, công nghệ dần dần chuyển thành hàng hóa mua
bán. Và cũng từ đó công nghệ mới thực sự được hiểu theo nghĩa rộng hơn.
Đến khi công nghệ cũ đã trở thành lạc hậu, không thể thích ứng với thời đại
thì lập tức phải được đổi mới công nghệ. Mỗi ngày thị trường sản phẩm càng đa
dạng hóa, việc sản xuất kinh doanh muốn đem lại lợi nhuận tối đa thì buộc các
DN phải tìm mọi cách để cạnh tranh nhau trên thương trường. Đầu tiên để có thể
cạnh tranh được, DN phải bảo đảm chất lượng sản phẩm của mình phải tốt, sau
đó là mẫu mã sản phẩm. Ngay cả việc tổ chức các dịch vụ phục vụ khách hàng
cũng là yếu tố quan trọng để DN có thêm thế mạnh khi cạnh tranh. Muốn được
như vậy thì bắt buộc DN phải có những công nghệ tiên tiến, hiện đại. Như thế
có nghĩa là DN phải chấp nhận thay thế, đổi mới công nghệ cho mình. Việc đổi
mới công nghệ diễn ra được nhờ vào các nguồn:
- Sử dụng công nghệ truyền thống hiện có, cải tiến và hiện đại hóa công
nghệ truyền thống đó.

nhất.
2.2 Những căn cứ và nội dung của lựa chọn công nghệ thích hợp.
Một khi muốn thực hiện đổi mới công nghệ thì ta phải hiểu rõ về các công
nghệ hiện có, phải nắm bắt được chính xác về các công nghệ mới. Từ đó mới
bắt đầu lựa chọn công nghệ phù hợp và tốt nhất để thay thế cho công nghệ cũ.
7
Nhưng việc lựa chọn công nghệ cũng cần phải nghiên cứu về các nhu cầu của
việc đổi mới công nghệ, đánh giá trình độ của công nghệ hiện có và khả năng
cạnh tranh của ngành, của DN và các đối thủ cạnh tranh. Hơn nữa cần phải biết
dự đoán sự phát triển của các công nghệ, xem xét quan hệ cung cầu về đổi mới
công nghệ và xu thế phát triển của công nghệ để lựa chọn công nghệ thích hợp.
Mục tiêu phát triển và đổi mới công nghệ của DN là tăng khả năng cạnh
tranh, tăng lợi nhuận, cải thiện vị thế của DN trên thị trường. Việc đánh giá trình
độ công nghệ hiện có của ngành và của DN công nghiệp là một trong những căn
cứ trọng yếu để xác định nội dung của phát triển và đổi mới công nghệ. Bên
cạnh đó, việc xác định công nghệ đang ở đâu trong quá trình phát triển, khuynh
hướng của nó trong tương lai ra sao, công nghệ thay thế nó tiên tiến như thế nào
và thay đổi sẽ diễn ra như thế nào là một điều mà các DN cần thiết phải làm
trước khi bắt tay vào quá trình đổi mới công nghệ. Nhưng trong quá trình đó DN
cũng cần phải chú ý đến một số vấn đề như mục tiêu cụ thể của đổi mới công
nghệ (Đối với nhiều ngành công nghiệp thì đó là hoàn thiện cơ cấu ngành, cơ
cấu sản phẩm, tăng trưởng nhanh, bền vững và việc làm hiệu quả), đa dạng hóa
nhiều trình độ công nghệ ngay trong một DN theo hướng hiện đại hóa công
nghệ truyền thống, công nghệ hiện có, để sử dụng tốt thiết bị máy móc hiện có,
ứng dụng đế sử dụng kỹ thuật công nghệ hiện đại với một số sản phẩm, năng
suất và khả năng cạnh tranh.
Việc lựa chọn công nghệ rất phức tạp, cần được phân tích và đánh giá về
thị trường, về hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, vấn đề môi trường. Những tiêu
chuẩn của việc đổi mới công nghệ đã được đưa ra để áp dụng là:
- Trình độ của công nghệ.

+ Giúp các quốc gia quản lý công nghệ phù hợp để bảo vệ môi trường.
Đánh giá công nghệ được tiến hành qua các bước sau:
+ Mô tả công nghệ
+ Liệt kê các yếu tố tác động (Yếu tố tác động này được xác định qua việc
phân tích tác động giữa công nghệ với môi trường xung quanh con người)
+ Phân tích ảnh hưởng
+ Giới hạn phạm vi ảnh hưởng
+ Nghiên cứu đường lối chính sách liên quan
+ Dùng công cụ phân tích.
3.2 Chuyển giao công nghệ trong phát triển công nghiệp.
9
Chuyển giao công nghệ là hoạt động nhằm đưa công nghệ tiên tiến, công
nghệ hiện đại vào sản xuất thông qua việc áp dụng kết quả nghiên cứu khoa học
vào sản xuất hoặc có thể là áp dụng một công nghệ dã hoàn thiện từ DN này
sang DN khác. Chuyển giao công nghệ là sự mua bán công nghệ và là quá trình
đào tạo, huấn luyện để sử dụng công nghệ được tiếp nhận.
Đây là hình thức chủ yếu để đổi mới công nghệ ở các nước đang phát triển.
Tình hình công nghệ trong các nước này do còn yếu kém nên việc chuyển giao
công nghệ là thực chất nhằm để đổi mới, nâng cao công nghệ trong nước.
Qua thực tế chuyển giao công nghệ, người ta đã đưa ra một số thể loại sau
đây được coi là phạm trù của công nghệ:
+ Phân tích nghiên cứu khả thi và khảo sát thị trường trước khi đầu tư.
+ Thiết kế kỹ thuật – công nghệ.
+ Thu tập về một số thông tin về công nghệ đã có.
+ Xây dựng nhà máy và lắp đặt thiết bị.
+ Phát triển công nghệ.
Có 2 kênh (nguồn) chuyển giao công nghệ:
+ Chuyển giao dọc là hình thức chuyển giao từ nghiên cứu sang sản xuất.
+ Chuyển giao công nghệ ngang là hình thức chuyển giao những công
nghệ đã được hoàn thiện từ nước này sang nước khác, từ DN này sang DN

nước ta. Trong khoảng 10 năm (từ năm 1991 đến năm 2000) tỷ lệ tăng bình
quân của ngành công nghiệp khá cao ( khoảng 14%). Tuy nhiên, nếu so sánh tốc
độ phát triển của ngành công nghiệp Việt Nam so với thế giới thì tốc độ phát
triển đó là quá chậm. Đặc biệt về mặt công nghệ thì Việt Nam đang còn lạc hậu,
phát triển với một trình độ thấp rất nhiều so với một số nước trong khu vực và
trên thế giới.
Thông tin từ Bộ Khoa học và Công nghệ cho biết: Phần lớn các DN nước
ta đang sử dụng công nghệ tụt hậu so với mức trung bình của thế giới 2 - 3 thế
hệ. 80 - 90% công nghệ nước ta sử dụng là công nghệ ngoại nhập. Có 76% máy
móc, dây chuyền công nghệ nhập thuộc thế hệ 1960 - 1970, 75% số thiết bị đã
hết khấu hao, 50% là đồ tân trang. Tính chung cho các DN, mức độ thiết bị hiện
đại chỉ có 10%, mức trung bình 38%, lạc hậu và rất lạc hậu chiếm 52%. Đặc biệt
ở khu vực sản xuất nhỏ, thiết bị ở mức lạc hậu và rất lạc hậu chiếm 70%. Trong
khi đó các DN Việt Nam đầu tư đổi mới công nghệ ở mức thấp, tính ra chi phí
chỉ khoảng 0,2 - 0,3% doanh thu. Con số này ở n Độ là 5%, Hàn Quốc là 10%.
Đánh giá của Bộ Khoa và & Công nghệ thì năng lực đổi mới công nghệ là “loại
năng lực yếu nhất” của các DN Việt Nam. (Trích từ “ DN với vấn đề đổi mới
công nghệ: Vẫn là bài toán nhiều nan giải” ngày 28/09/2005 trên website của Bộ
tài chính)
Hay tin từ diễn đàn DN của website Bộ công thương đã từng viết:” Trình
độ trang thiết bị, máy móc lạc hậu, công nghệ chậm được đổi mới đang là cản
trở đối với quá trình phát triển và hội nhập của các doanh nghiệp. Ngoài các
12
doanh nghiệp do nước ngoài đầu tư, chỉ 30% các doanh nghiệp trong nước được
coi là có trang thiết bị vào loại tương đối tiên tiến, nhưng tốc độ đổi mới thiết bị
công nghệ còn khiêm tốn, khoảng 10-11%. Điều đó đã hạn chế rất nhiều tới việc
nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm chi phí sản xuất. Nhiều sản phẩm sản xuất
trong nước có giá cao hơn sản phẩm cùng loại nhập khẩu từ 20-40%. Việc
chuyển giao công nghệ ở Việt Nam chủ yếu được tiến hành thông qua nhập
khẩu công nghệ. Từ năm 1987, khi Luật đầu tư nước ngoài được thông qua, một

mang tính tình huống là chính. Đặc biệt, ngành dệt may thiếu thông tin nghiêm
trọng, trong khi ngành này rất cần một địa chỉ tin cậy để thẩm định về nguyên
vật liệu, công nghệ, thiết bị nhưng hầu như chưa có. Theo cuộc điều tra toàn
diện nhất về tình trạng kỹ thuật công nghệ năm 1990 có 78% TSCĐ trong các
DN quốc doanh có thời gian sử dụng từ 5 năm trở lên. So với nguyên giá, giá trị
còn lại của TSCĐ là máy móc, thiết bị chỉ còn chiếm khoảng 54,4%, trong khi
đó nhà cửa và kiến trúc chiếm 63,4%. Qua đó có thể thấy, trong các DN công
nghiệp đã quá chú trọng đến việc đầu tư vào xây dựng cơ bản mà để việc đầu tư
vào đổi mới công nghệ chiếm tỷ lệ còn thấp.
Tình hình quản lý sử dụng công nghệ còn quá lạc hậu, nghèo nàn của các
DN công nghiệp Việt Nam có thể được đánh giá thông qua những thông tin sau:
+ Tỷ lệ các công nghệ hiện đại, tiên tiến chỉ đạt 16%. Tập trung chủ yếu
vào các ngành như dệt(33%), may(46%), khai thác than(37%).
+ Trình độ cơ khí hóa còn thấp. Theo điều tra vào ngày 1/1/1990, trong
ngành công nghiệp chỉ có 63% lao động công nghiệp trung ương, 47% công
nghiệp địa phương được cơ khí hóa và tự động hóa. Mức tỷ lệ này còn rất thấp
so với thế giới.
+ Mức tiêu hao năng lượng, nhiên liệu và lãng phí nguyên liệu do nguyên
nhân công nghệ ở nước ta còn khá cao. Chẳng hạn như so sánh với những nước
đang phát triển ở cùng nhóm về mức tiêu hao năng lượng để sản xuất ra một
đơn vị sản phẩm thì có số liệu phản ánh như sau: hóa chất là 138%, giấy 127%,
than 175%, luyện kim đen 250%,
+ Chất lượng sản phẩm thấp, khó thể cạnh tranh với các sản phẩm cùng
loại ở nước ngoài. Các tiêu chuẩn về đánh giá sản phẩm ở Việt Nam là thấp hơn
trên thế giới nhưng vẫn còn khoảng 10% DN chưa đạt được tiêu chuẩn đó.
14
+ Hầu hết các công nghệ được trang bị và sử dụng trong thời gian khá dài
và có nhiều nguồn gốc khác nhau. Mặc dù nước ta là một nước XHCN và cũng
có quan hệ với rất nhiều các nước XHCN nhưng việc nhập công nghệ từ những
nước đó về nước ta lạ còn ít (chỉ khoảng 8%). Còn nhập từ những nước tư bản

năng cạnh tranh trên thương trường. Vì thế hầu như trong những năm gần đây
các DN đang tập trung vào việc đổi mới công nghệ, thiết bị máy móc hiện đại
được mua về để đem vào sản xuất đã diễn ra không ngừng nhắm mục đích phù
hợp với nhu cầu sản xuất sản phẩm đáp ứng thị trường.
Theo các chuyên gia, cho đến hiện nay, ngành cơ khí Việt Nam đang đứng
trước thời cơ để phát triển hơn bao giờ hết, bởi ngay thị trường trong nước đã là
một thị trường lớn. Đặc biệt hơn nữa là hiện nay khi các ngành kinh tế như công
nghiệp, nông lâm – ngư nghiệp, giao thông vận tải, sản xuất tiêu dùng…đều
đang phải đầu tư trang thiết bị mới để thực hiện công nghiệp hóa – hiện đại hóa.
Tuy nhiên để đáp ứng được nhu cầu này, bản thân ngành cơ khí phải phấn đầu
tư đổi mới, nâng cao được năng lực của chính mình.
Lấy thí dụ điển hình trong ngành cơ khí chế tạo máy, qua cuộc khảo sát 14
DN thuộc lĩnh vực cơ khí cho thấy:
+ Đối với các cơ sở sản xuất trong nước:
− Hầu hết các thiết bị máy móc có độ tuổi trung bình 30 năm.
− Công suất thiết bị sử dụng rất thấp khoảng 20% 30%, các định mức
thiết kế tiêu thụ năng lượng đều rất cao.
− Chất lượng sản phẩm thấp, không ổn định, thiếu phương tiện đo lường
kiểm soát chất lượng.
− Khoảng 20% trang thiết bị được đổi mới, trong đó chỉ có khoảng 10%
thiết bị hiện đại nhưng không đồng bộ, chủ yếu ở các cơ sở sản xuất nhỏ, tư
nhân.
− Một số cơ sở đã áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO.
+ Đối với các cơ sở sản xuất liên doanh:
− Trang thiết bị chủ yếu được sản xuất từ năm 1990 đến năm 1995.
− Mức độ tự động hóa chỉ đạt tới bán phần, chưa có cơ sở đạt mức độ tự
động hóa hoàn toàn.
− Công suất thiết bị đạt từ 70% đến 80%.
− 90% cơ sở áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO.
+ Đối với các cơ sở dịch vụ:

Tình trạng công nghệ trong ngành dệt may đã được khảo sát qua một số
doanh nghiệp như sau:
17
− Ða số trang thiết bị đang được sử dụng tại các DN đều sản xuất từ khối
G7 và Nhật. Có 1/3 là tương đối mới và 2/3 là mới. Thiết bị cũ hầu như không
còn được sử dụng.
− Mức độ tự động hóa: hầu hết là tự động bán phần, số còn lại là do người
trực tiếp điều khiển.
− Trình độ công nghệ: các DN tự đánh giá có trình độ công nghệ mới
chiếm 75% và trung bình chiếm 25% so với các DN trong nước. So với các DN
cùng lĩnh vực trong khu vực và trên thế giới thì 75% cho là trung bình, 25% cho
là mới.
Còn về tình hình đổi mới công nghệ của các DN trong ngành dệt may hiện
nay được nhìn nhận như sau: “Trong 10 năm qua, các DN dệt may đã đầu tư và
đổi mới công nghệ khá nhiều. 50% thiết bị chế biến bông đã được nhập mới từ
Mỹ. Khâu kéo sợi đã tăng tới gần 2 triệu cọc sợi, nhờ sử dụng các thiết bị có
xuất xứ từ Tây Âu, trong đó có những dây chuyền vào loại hiện đại nhất thế giới
hiện nay, như dây chuyền 12.000 cọc sợi kéo chỉ khâu của Công ty Dệt Phong
Phú. Đánh giá về triển vọng phát triển công nghệ của ngành dệt Việt Nam, bà
Judy Wang, Chủ tịch Công ty Yorkers Trade & Marketing Service (Hồng Kông)
cho rằng, trong những năm vừa qua, thị trường thiết bị và công nghệ dệt may
của Việt Nam đã phát triển khá mạnh. Tuy nhiên, DN Việt Nam tập trung chủ
yếu vào công nghệ may, nên thị trường cho ngành dệt còn tương đối nhỏ. Tuy
vậy, với chiến lược phát triển và chủ động trong việc cung cấp nguyên phụ liệu,
trong vài năm tới, thị trường công nghệ và thiết bị ngành dệt sẽ thực sự bùng nổ
và tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà cung cấp nước ngoài tham gia vào hoạt
động kinh doanh. Khi đó, các DN Việt Nam cũng có cơ hội để mua được các
loại thiết bị phục vụ cho quá trình đổi mới công nghệ.” ( Theo báo Đầu tư điện
tử - 28/12/2004). Không những cần trang bị lại máy và thiết bị để tăng năng lực
sản xuất, các DN dệt còn đang đứng trước yêu cầu phải đổi mới công nghệ, thiết

mạnh ở đây là sản xuất sạch hơn không chỉ đơn thuần là việc thay đổi trang thiết
bị sản xuất, mà là vấn đề thay đổi thái độ ứng xử của con người, DN đối với môi
trường và áp dụng các bí quyết nhằm cải thiện quy trình sản xuất và sản phẩm
của mình trên cơ sở phân tích hệ thống sao cho chi phí đạt mức thấp nhất. Thí
dụ, đối với một DN sản xuất giấy, người ta có thể áp dụng nước thải của công
đoạn sau để tái sử dụng cho công đoạn trước, điều này giúp họ vừa tiết kiệm vừa
tái sử dụng được lượng nước đầu vào và thu hồi được cả nguyên vật liệu rơi vãi
trong quá trình sản xuất. Tại Công ty giấy Việt Trì, sau khi áp dụng phương thức
19
sản xuất sạch hơn vào thực tiễn, công ty đã tiết kiệm được gần 800 triệu
đồng/năm, giảm lượng nước thải xuống còn 15%, ngoài ra hàm lượng cặn và
chất rắn lơ lửng trong nước thải cũng giảm đáng kể. Hay tại Công ty thực phẩm
Thiên Hương, lợi ích đem lại từ sản xuất sạch hơn cho công ty mỗi năm là 670
USD, giảm 86% lượng nước thải, tiết kiệm được 10 - 15% lượng nguyên liệu
đầu vào. Tính đến thời điểm hiện nay, cả nước có gần 100 DN đã áp dụng
phương thức sản xuất sạch hơn vào thực tiễn. Phương thức sản xuất sạch hơn là
một phương thức tiếp cận mới áp dụng chiến lược phòng ngừa tổng hợp về môi
trường, nhằm nâng cao hiệu suất sinh thái, giảm thiểu rủi ro. Mà hơn nữa sản
xuất sạch hơn còn đề cập tới vấn đề thay đổi hành vi thái độ ứng xử, áp dụng bí
quyết công nghệ, cải thiện từng quy trình sản xuất trong cả hệ thống sản xuất
sao cho khoa học và hợp lý. Tại cơ sở dệt nhuộm Thuận Thiên, sau khi thực
hiện một số giải pháp sản xuất sạch hơn vào công đoạn sản xuất, DN đã giảm
được 35% lượng nước thải, 30% tải lượng ô nhiễm, 70% khí thải độc hại và tăng
được 30% sản lượng, ngoài ra còn giảm đáng kể tỷ lệ vải vụn và vải thải loại.
Song điều đáng nói là Công ty không phải thay đổi toàn bộ trang thiết bị sản
xuất cũ, mà theo hướng dẫn của các chuyên gia, công ty chỉ thay đổi cải tiến
một số bộ phận và thực hành tiết kiệm tối đa trên các công đoạn sản xuất. Hiện
nay, ở cấp chính phủ, Việt Nam đã ký tuyên ngôn quốc tế về sản xuất sạch hơn.
Cục Bảo vệ Môi trường Việt Nam cũng đã đưa phương thức sản xuất này vào
các hoạt động trọng điểm trong chiến lược môi trường, giai đoạn 2000 - 2010 và

cao năng suất, yêu cầu về nâng cao sức cạnh tranh và mở rộng thị trường xuất
khẩu được
đánh giá là các nhân tố có tác động lớn nhất đến quá trình đổi mới công nghệ
trong
các DN. 85% số DN được khảo sát đánh giá tác động của yêu cầu nâng chất
lượng và hạ giá thành sản phẩm ở mức độ tác động có ý nghĩa trở lên, trong khi
con số này tương ứng cho yêu cầu nâng năng suất là 95%, yêu cầu nâng cao sức
cạnh tranh là 90% và yêu cầu về mở rộng thị trường xuất khẩu 63%.
+ Chính sách khuyến khích đổi mới công nghệ của nhà nước, các quy
định về luật pháp ( thuế, chính sách vay vốn,…) và chiến lược phát triển ngành
hay chiến lược phát triển của công ty mẹ. Đối với chính sách khuyến khích đổi
mới công nghệ của nhà nước, 51% DN được khảo sát cho rằng nhân tố này tác
động ở mức có ý nghĩa trở. Các con số tương ứng với môi trường luật pháp cụ
21
thể là: quy định về thuế: 65% DN; quy định về ưu đãi vay vốn: 60% DN; quy
định về đất đai: 54% DN. Chiến lược phát triển ngành/của công ty mẹ được 54%
DN đã khảo sát đánh giá là có ý nghĩa thúc đẩy trở lên.
Trong thực tế cho thấy, hiệu quả từ những chính sách của Chính phủ
mang lại rất tích cực, nhưng mức tác động lại chưa rõ rệt và mang lại kết quả
chưa cao vì một số nguyên nhân sau:
+ Sự kém hiểu biết của các DN về những ưu đãi được Nhà nước áp dụng.
+ Thủ tục xét duyệt cho các đối tượng được hưởng ưu đãi còn phức tạp,
rườm rà, và đôi khi chứa đựng yếu tố tiêu cực, lợi dụng chính sách khiến các
DN không hào hứng tham gia.
+ Một số chính sách được ban hành còn chưa thực sự rõ ràng cũng như
thiếu hoặc chậm có các hướng dẫn thi hành cụ thể, đầy đủ, do vậy cản trở cho
quá trình thẩm định của các cơ quan chức năng và tạo điều kiện nảy sinh tiêu
cực. Chẳng hạn Nghị định 119 được ban hành từ năm 1999 nhưng mãi đến năm
2002 mới có thông tư hướng dẫn và triển khai thực hiện.
+ Các chính sách ưu đãi không phù hợp hoặc chưa thực sự hấp dẫn với

cả nước đều gặp một khó khăn đó là năng lực tài chính có hạn. Việc huy động
nguồn vốn để kinh doanh và đổi mới công nghệ rất khó khăn. Trong khi đó, thị
trường vốn trung và dài hạn ở Việt Nam lại chưa phát triển. Việc tiếp cận các
nguồn vốn trung và dài hạn rất khó khăn vì phải thế chấp nhà và đất mà nói
chung là họ không có, cho nên họ không dám mơ tưởng đến “đổi mới công
nghệ”. Ngoài ra, thị trường công nghệ Việt Nam còn nhiều bất cập. 70% ý kiến
các DN cho rằng luật lệ mua bán công nghệ không rõ ràng, nghiêm minh; 57,7%
ý kiến khác cho biết: các DN không muốn mua tri thức công nghệ trong nước do
chất lượng không đảm bảo, chi phí chuyển giao cao, công nghệ không ổn định.
+ Quy trình xin hỗ trợ cho đổi mới công nghệ còn phức tạp và kéo dài. Các
chính sách, văn bản pháp luật hay văn bản hướng dẫn thực hiện liên quan đến
các ưu đãi cho DN trong quá trình đổi mới công nghệ chưa rõ ràng và đầy đủ,
cộng với thái độ làm việc tiêu cực của một số cán bộ chức năng khiến quy trình
xin hỗ trợ cho đổi mới công nghệ tốn kém nhiều thời gian của DN.
+ Theo nghiên cứu, quá trình đầu tư đổi mới công nghệ của DN còn có thể
gặp rất nhiều rủi ro như thời gian hoàn vốn kéo dài, công nghệ bị sao chép do
vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ chưa được thực hiện nghiêm ngặt. Có tới
57% DN đánh giá nhân tố rủi ro khi đầu tư là cản trở lớn khi quyết định tiến
hành đổi mới công nghệ.
23
+ Thiếu thông tin công nghệ và thông tin thị trường: là 2 trở ngại lớn với
70% DN trong việc đổi mới công nghệ. Hạn chế này một phần cũng do các DN
chưa đầu tư thích đáng và có hệ thống cho công tác nghiên cứu thị trường sản
phẩm mới/công nghệ mới, mặt khác cũng do các công cụ hỗ trợ của nhà nước về
thông tin chưa thực sự hoạt động có hiệu quả. Cản trở do thiếu thông tin về công
nghệ ở đây bao gồm cả những bất cập trong việc mua sắm trang thiết bị không
phù hợp với trình độ công nghệ hiện có ở một số DN.
+ Thiếu nhân lực có chuyên môn, nghiệp vụ cần thiết. Trình độ nguồn nhân
lực còn nhiều hạn chế. Trình độ của đa số công nhân kỹ thuật trong các DN hiện
mới chỉ hạn chế ở năng lực tiếp thu và vận hành những công nghệ sẵn có một

nhân lực có trình độ để tiếp nhận công nghệ mới đó. Công nghệ mới chuyển
giao xong chắc chắn sẽ có trình độ cao hơn công nghệ cũ nên đòi hỏi người sử
dụng cũng phải có năng lực hơn. Vì thế DN cần phải tập trung đào tạo chuyên
môn cho nguồn nhân lực của mình. Có thể tổ chức giảng dạy ngay tại DN và đi
mời các chuyên gia trong và ngoài nước thuộc lĩnh vực chuyên môn đó về giảng
dạy. Hoặc có thể gửi nguồn nhân lực đó đi học ở các trường đào tạo. Như vậy
25

Trích đoạn Các giải pháp nhằm nâng cao hoạt động đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam Các giải pháp, kiến nghị đối với cơ quan Nhà nước có liên quan: Xét từ phía nhà nước, để giúp các DN, hay nói một cách thực tế hơn trong
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status