——-
TRƯỜNG
ĐẠI
HỌC NGOẠI
THƯƠNG
KHOA
KIM!
TỂ
VÀ
KINH
DOANH
QUỐC
TẾ
diu
ífLí'i
KỈNH
iE
©Oi
NGOẠI
—mỊỂỊÊÈmÈỂẵ-
liu
ĩ Ui
TRƯỜNG
ĐẠI
HỌC
NGOẠI
THƯƠNG
KHOA
KINH
TẾ
VÀ KINH
IM.
04^53
•Ỉ.009
Hà
Nội,
tháng
5
năm
2009
MỤC
LỤC
LỜI
MỞ
ĐẦU
Ì
CHƯƠNG
1:
NHỮNG VẤN
ĐẺ LÝ LUẬN VÈ
ĐẠO
ĐỨC KINH
DOANH VÀ
TRÁCH
NHIỆM
XÃ
HỘI
DOANH
NGHIỆP
3
1.1.
trình toàn cầu hoa và sức
mạnh
cùa thị trường.
18
1.3.
Tác dụng của
việc
thực
hiện
CSR 19
1.3.1.
CSRgópphần
điểu chinh hành vi cùa các chủ thể kinh doanh
20
1.3.2.
CSR
góp phần
vào nâng cao chất lượng, giá trị thương hiệu và uy
tín của doanh nghiệp
21
1.3.3.
CSR
góp phần thu hút nguồn lao động giói
22
1.3.4. Việc thực hiện
CSR
góp phần
tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
23
1.3.5.
2.1.1.
Thực
trạng chung của
CSR
trẽn thế giới
25
2.1.2. Ví
d
về thực hiện
CSR
tại một so doanh nghiệp trên thế giới
29
2.2.
Thực
trạng
thực
hiện
CSR ở Doanh
nghiệp
Việt
Nam 36
2.2.1.
Nhận
thức của các doanh nghiệp Việt
Nam
về vấn
đễ
này.
36
2.2.2.
lĩnh vực
43
CHƯƠNG
3:
MỘT SỐ
GIẢI PHÁP NÂNG
CAO
HIỆU
QUẢ THỰC
HIỆN
TRÁCH
NHIỆM XÃ
HỘI
Ở CÁC
DOANH
NGHIỆP
VIỆT
NAM.63
3.1.
Đánh giá tình hình
thực
hiện
CSR ở
các
doanh
nghiệp
Việt
Nam
thời
gian
3.2.2.
Những
thách thức
mà
các doanh nghiệp gặp phải tiến hành
CSR ở
Việt
Nam 72
3.3.
Một
sổ
giải
pháp
nhm
phát
triển
và nâng cao
hiệu
quả
thực
hiện
Trách nhiệm xã
hội
ở
các doanh
nghiệp
Việt
Nam 74
3.3.1.
Các
theo
mô
hình
Maslow 17
Hình
3:
Tỷ lệ%
các
doanh
nghiệp tư nhân
có
lồng ghép các
chương
trình
CSR vào
hoạt
động
kinh
doanh 40
Hình
4:
Tinh hình
nâng
cao chát lượng quàn lý chất thài
và
cài thiện hiệu
quà sử dụng năng
lượng trên thế giới
57
Bảng 1: Mục tiêu chính cùa doanh nghiệp các nước khi tiến hành CSR 41
ngày càng phát
triển,
xu
hướng
toàn
cầu
hoa,
quốc
tế
hoa
trở
thành một
tất
yếu
khách
quan,
mối
quan
hệ
giữa
các nền
kinh tế
ngày càng mật
thiết
và gắn
bó,
hoạt
động
giao
lưu thương mại
hiệu
để giành
lợi
thế
trên thương trường
thì
việc
củng
cố hình
ảnh,
nâng
cao
uy
tín,
phát
triến
thương
hiệu
thông qua
việc
xây
dựng
văn hoa
doanh
nghiệp,
đạo đức
kinh
doanh
là một
giải
Responsibility).
Trách
nhiệm
xã
hội doanh
nghiệp
đang là xu
thế lớn
mạnh
trên
thế
giới,
trờ
thành một yêu cầu "mềm"
đối với
các
doanh
nghiệp
trong
quá trình
hội
nhập,
nhưng ờ
Việt
Nam vấn đề này vẫn còn khá mới mé và chưa được
các
doanh
nghiệp
quan
tâm đúng mức. Hàng
Vì
thế,
tìm
hiểu nội
dung,
vai
trò,
ý
nghĩa
của trách
nhiệm
xã
hội
doanh
nghiệp,
từ
đó giúp các
doanh
nghiệp
Việt
Nam nâng cao
nhận
thức
và phát huy
lợi
ích mà trách
nhiệm
xã
hội
mang
đầu, kết luận,
phụ
lục
và
tài
liệu
tham
khảo,
Khoa
luận chia
làm 3 chương:
Ì
Chương
ì:
Nhũng vấn đề
lý
luận
cơ bản ve Đạo đức
kinh
doanh và
Trách
nhiệm xã
hội
doanh
nghiệp.
Chương
li:
Tinh hình thực hiện Trách nhiệm xã hội ở các doanh
nghiệp Việt
Nam.
khoa
luận
này. Tuy
nhiên,
do trình độ
hiểu
biết
còn hạn
hẹp, kiến
thức
còn hạn chế nên bài
viết
này không tránh
khỏi
những
sai
xót,
khiếm
khuyết
vì
thế
em
rất
mong
nhận
được ý
kiến
đóng góp quý báu cệa
thầy
cô và các bạn đọc để bài
góp
phần
làm
cho các nền
kinh
tế
trên
thế
giới
xích
lại
gần
nhau
hơn,
và
mở
ra
cho
các
doanh
nghiệp
cơ
hội
tiếp
xúc
với
những
thị
trường mới
tiềm
các
doanh
nghiệp lớn
mạnh
nước ngoài
và
nguy
cơ
bị
loại
bỏ
khỏi
thị
trường.
Đe
tồn
tại
trong
hoàn
cảnh đó,
giới
doanh
nhân ngày càng
quan
tâm,
chú
trọng việc
xây
dỏng
hình ảnh
và
là
nhân
tố
góp
phần
giúp các
doanh
nghiệp
thành công trên
thương
trường.
1.1. Các khái niệm.
ĩ.LI. Vài nét về
Đạo
đức
kinh
doanh.
1. ỉ. 1. ỉ.
Khải
niệm.
Từ "đạo
đức"
có gốc
từ
La
tinh
Moralital
(luận
lý)
luân thường đạo
lý,
là
sỏ
công
bằng,
và
là
tiêu
chuẩn,
căn cứ đánh giá con
người
trong
xã
hội.
Theo
từ
điển điện
tử
American
Heritage
Dictionary
thì:
Đạo
đức
là
một bộ
môn
khoa học
nghiên
chi
phối
hành
vi
cùa
các
thành viên
cùa một nghề
nghiệp
1
.
Vân đề đạo đức
là
một phạm trù
rộng
lớn,
gắn
liền
với
nền văn
hoa,
tôn giáo,
chủ
nghĩa
nhân
văn,
triết
học,
tín ngưỡng chính vì
vậy,
lại
trở
thành hành
vi
vô đạo
đức.
Do
vậy
ranh
giới
giữa
cái đúng - cái
sai,
tốt - xấu,
đạo đức hay vô đạo đức
chi
mang
tính
chất
tương
đối.
Đạo
đức
kinh
doanh
(ĐĐKD) là một bộ
phận
của đạo đức nói
chung,
là một hình
quyết
các vấn đề nẩy
sinh trong
môi trường
kinh
doanh.
Khái
niệm
của
nó đã được
đặt
nền móng
từ
hàng nghìn năm trước đây.
Trong
bộ
luật
Hammorabi
vào
những
năm 1700 trước công nguyên (TCN) đã có quy định về giá
cẩ,
cách
thức
hoạt
động thương mại và hình
phạt
cho
việc vi
phạm. Những năm 300
lợi
nhuận
với
các
nhân
viên,
sự công
bằng
trong
cơ
hội
phát
triển
nghề
nghiệp Tuy
xuất hiện
từ rất
sớm như
vậy,
nhưng
vấn
đề đạo đức
kinh
doanh
vẫn
còn khá mơ hồ
đối
với
xã
hội.
thức
được nhà đạo đức học Norman
Bowie
đua
ra
thành một chủ
đề
thẩo
luận
tại
một
cuộc
Hội
nghị
Khoa
học.
Trong
thập
niên
1980,
1990
vấn
đề này đã
trờ
thành đề
tài của
những
cuộc
tranh luận
sôi
động ban
đầu là ở Mỹ
sau
đó
lan
rộng
sang
các nước
khác.
Hiện
nay trong
xu
thế
toàn cầu hoa và
hội
nhập
nền
kinh
tế quốc tế
thì ĐĐKD
ngày càng
trờ
thành mối
quan
tâm không
chỉ của
riêng các
doanh
nghiệp
mà
một nhóm người hay một nhóm nghề
nghiệp nhất định
nhằm mục
đích
đem
lại
phúc
lợi
cho xã
/lội"
2
.
Còn Giáo sư
Phillip
V.
Lewis
thuộc
Trường
Đại
học
Abilene
Christian,
Mỹ đã
tổng
hợp
từ
185
định
nghĩa
khác
chức trong
nhửng
trường
hợp
nhất định"
1
.
Tóm
lại,
đạo đừc
kinh
doanh
hiểu
đơn
giản
nhất
chính là các quy
tắc,
tiêu
chuẩn,
chuẩn
mực xem xét hành
vi
đúng -
sai,
đạo đừc hay
phi
đạo đừc
trong thế
giới
như
thực
hiện
các
nghĩa
vụ
với
Nhà
nước,
nghĩa
vụ
kinh
tế,
những
vấn
đề liên
quan
đến
quyền
lợi
và
nghĩa
vụ về mặt đạo lý
giữa
công
ty
với
cổ
đông
(shareholders)
định
của doanh
nghiệp
mà cụ
thể
chính là
các nhân
viên,
nhà
cung
cấp,
nhà phân
phối, đối tác,
cộng
đồng dân
cư,
chính
quyền,
các sờ/ban/ngành và các tô
chừc
đoàn
the
địa
phương,
các cơ
quan
lập
pháp cùa nhà
nước,
thậm
kinh
doanh
là căn cứ để xem xét đánh giá các
hành
vi
đạo đức cùa
doanh
nghiệp
và các nhà
kinh
doanh.
Tuy
nhiên,
đạo đức
khác
nhau
ở
từng
người,
từng
nhóm
người,
từng
xã
hội,
từng
nền văn
hoa,
do
vậy
để đưa
ra
các
quyết
định sản
xuất,
kinh
doanh
của
mữi
doanh
nghiệp.
Đây chính
là
xuất
phát
điểm
cho các hành
vi
đạo đức
của
doanh
nghiệp.
-
Trách
nhiệm xã
hội
doanh
nghiệp:
đây
các
doanh
nghiệp phải giữ
lời
hứa;
đảm bảo
thực
thi
đầy
đù các cam
kết,
thoa thuận;
tôn
trọng
các
quyền
lợi
chính đáng và
nghĩa
vụ
của công
ty với
các cổ đông và
những
đối
tượng
liên
quan
đến
hoạt
tranh
không lành
mạnh
hay hành
vi
nhằm hạ
thấp
uy
tín,
sản
phẩm
của
đối thủ.
- Các quy
tắc
xử sự cụ
thê
trong
tổ
chức
:
đây
là những
quy
tắc
có
thế
được
thể
hiện
tổ
chức.
6
Trong
môi trường
kinh
doanh
ngày càng đòi hỏi
những
kỹ năng
"mềm"
thay
vì
những
kỹ năng
"cứng"
thì đạo đức
kinh
doanh
hay văn hoa
doanh
nghiệp
là
những
vấn đề
doanh
nghiệp
cần
quan
tâm để
Khái
niệm.
Trách
nhiệm
xã
hội
doanh
nghiệp
là một
biểu hiện
của đạo đức
kinh
doanh,
là
việc hiện
thằc
hoa các quy
tắc,
chuẩn
mằc
của
đạo đức
kinh
doanh
thành
những
hành động
thằc
tế
nhằm phát huy được
cuốn
sách
Capitalism
and
Freedom,
nhà
kinh
tế
học
Milton
Friedman
đã
viết
"Có một và
chi
một
trách
nhiệm xã
hội của doanh
nghiệp
- đó
là
sử dụng nguồn
tài
nguyên của mình và tham
gia vào
hoạt
động nhằm
tăng
lợi
vi
có CSR
khi
nó
theo đuổi
lợi
nhuận
trong
phạm
vi
giới
hạn
của
pháp
luật
được xã
hội đặt ra với
mục tiêu chủ yếu
là
thoa
mãn các nhu
cầu của
cổ
đông.
Tuy nhiên khái
niệm
này
vẫn
chưa đầy đủ
bởi
Các
cuộc
bàn
luận
về CSR vẫn
tiếp
tục
diễn
ra
trên các
diễn
đàn
và các định
nghĩa
mới vẫn được đưa
ra ;
"Trách
nhiệm xã
hội
hàm ý nâng
'
Jame
H.
Donnelly/
Jame
L.Gibson/ John
M.Ivancevich
(2002),
Quán trị học căn bùn,
NXB
kinh
tế,
pháp
luật,
đạo đức và
lòng từ
thiện
đối với các tổ chức
tại
một
thời
điữm nhất
định
"
6
(Archie.B
Carroll,
1979).
Maignan
ì.
Ferrell
cũng
đưa
ra
khái
niệm
súc
tích
cùa riêng họ
vê CSR: "Một doanh
của
Ngân hàng Thế
giới
về CSR
là
hoàn
chinh
và rõ ràng
nhất,
và
cũng là
cơ sở xuyên
suốt
trong
bài khoa
luận
này:
"Trách nhiệm xã hội doanh
nghiệp
là sự cam
kết
của doanh
nghiệp
đóng góp vào
việc
phát
triữn kình
tế
bữn
vững, thông
trên đã
chỉ
ra
rằng,
CSR
là vấn
đề
liên
quan
đến
nhiều
thành
phần
khác
nhau
trong
xã
hội,
từ
người
tiêu
thữ trực
tiếp
cho
tới
nhà
cung
cấp
nguyên
vật
hệ
chặt
chẽ
với
dân cư
xung
quanh
khu
vực
doanh
nghiệp
đặt
trữ
sờ.
Định
nghĩa cũng
cho
thấy, việc
thực
hiện
CSR không
những
mang
lại lợi
ích cho
Doanh
nghiệp
mà còn góp
phần
cải
lực
cho
sự
phát
triển
kinh tế
bền
vững
trong
tương
lai.
5
John
R.
Boatright (2007),
Erhics and the conducl of business,
Pearson Prentice
Han, New
Jersey, tr,369.
6
John R.Broatright (2007),
Ethics
and
the conduct of
business.
Pearson Prentice
Hai],
New
Jersey. tr.369.
7
rộng lớn
liên
quan
đến
tất
cả
mọi
đối
tượng
liên
quan
đến
hoạt
động của
doanh
nghiệp
(những
đôi
tượng
mà
doanh
nghiệp
thấy
cần
phải
có trách
nhiệm).
Bởi
vậy,
phạm
toàn xã
hội,
CSR được
đặt
ra
và
giải
quyết
trong
mối quan
hệ
với tập
quán,
văn hoa
truyền
thống,
tôn giáo
của
từng
quốc
gia,
cộng
đồng dân
tộc.
vấn đề CSR còn gắn
với thể
chế chính
trị,
cơ
cấu
độc
quyền
và
cạnh
tranh,
vấn
đề đảm bảo
chữ tín
trong kinh
doanh
- Phạm
vi
hoạt động kinh doanh: Trong
phạm
vi
này CSR
giải
quyết
các vấn
đề
trong
giới
hạn các mối
quan
hệ của
doanh
nghiệp
với
các
đối
(người cung
cấp);
những
người
tiêu
thụ
săn
phẩm,
dịch
vụ do
doanh
nghiệp tạo ra
(người
tiêu
dùng);
những
người
bỏ vốn
đầu
tư vào
hoạt
động
kinh
doanh
(các nhà
đầu
tư,
các cổ
đông).
- Phạm
là
người
lao
động đang làm
việc
cho
tổ
chức đó.
Bao gồm
tất
cả các
quan
hệ
trong
và ngoài hợp đồng
lao
động và
thoa
thuận giữa hai
bên; quyền
lợi
hợp pháp và
nghĩa
vụ
của
người
lao
động
như công
việc
Dội
dung
thực
hiện.
CSR có
thể
được
hiểu
như một sự gánh vác
tự
giác các trách
nhiệm
khác,
ngoài
những
trách
nhiệm
về
kinh tế
và pháp
lý.
Cụ
thể
hem,
là
các trách
nhiệm
được
thể
hiện
hội.
CSR không
chỉ
đơn
thuần
là các hành
động
nhân
đừo, từ
thiện
đối với
cộng
đồng
mà
yếu tố cấu
thành nên CSR
rộng
hơn
rất
nhiều,
đó là sự
tổng hợp, kết hợp,
bổ
sung
của nhiều yếu tố
liên
quan
khác,
mà
thiếu
nghĩa
vụ nam ờ các
tầng
khác
nhau
và
thứ tự
ưu tiên
thực
hiện
sẽ
lần
lượt
từ
đáy tháp lên đinh
tháp.
Việc thực
hiện
CSR
phải bắt
nguồn
từ
các
nghĩa
vụ
10
kinh
tế,
bời
đây là mục tiêu, bản
thế
đế
tồn
tại
lâu
dài thì
doanh
nghiệp phải
tuân
thủ
các quy định
ấy.
Không
dừng
ở
đó, doanh
nghiệp
cũng
cứn tạo ra một môi trường công
bằng,
trung
thực,
có tình có
nghĩa
trong
mối
quan
hệ
với
nhân viên và
nhằm mục đích
cải
thiện
tinh
hình của mỗi
người,
mọi
người
và cả
cộng
đồng. Và
khi
đưa ra các
quyết
sách,
doanh
nghiệp phải
cân
bằng
các
nghĩa
vụ đó đế
đạt
được
hiệu
quả cao
nhất.
- Nghĩa vụ kinh
tế
-
của
doanh
nghiệp
được
thể
hiện
ở
việc
tạo ra môi trường làm
việc
công
bằng,
bình đẳng
với
các cơ
hội
phát
triển
nghề
nghiệp,
cơ
hội
thăng
tiến,
trả
mức thù
lao
xứng
đáng, đảm bảo môi
trường
triển
những
giá
trị
tài sản được uy thác;
cung
cấp
thông
tin
đứy đủ, chính xác, kịp thòi và dễ dàng về
việc
sử
dụng
các
nguồn lực
trong kinh
doanh,
hiệu
quả đứu
tu,
kết
quả
kinh
doanh;
được
tham
gia
giám sát
hoạt
động
li
có
bằng
việc
tuân
thủ
các
biện
pháp
cạnh
tranh
công
bằng,
lành
mạnh,
không
vì
lợi
nhuận
mà
cung cấp
thông
tin
bất
cân
xứng,
áp
dụng
các
biện
vụ
pháp
lý
trong
CSR
đòi
hỏi
doanh
nghiệp
tuân thù đầy đù các quy
định
của
luật
pháp như một yêu cầu
tối thiểu
trong
hành
vi
xã
hội
của một
doanh
nghiệp
hay cá
nhân.
về cơ
bản,
nghĩa
vụ pháp lý được quy định
trong
vụ
cũng
như
phải
tuân
thủ
các tiêu
chuẩn
về
chất
lượng,
sự an toàn của
sản
phẩm.
Bảo vệ môi
trường:
Luật
pháp các nước đều đưa
ra
các
điều
luật
nhằm
bảo
vệ môi trưểng
sinh
thái trước tình
trạng
ô
nhiễm nguồn nước,
kiện
an
toàn,
vệ
sinh
cho
ngưểi
lao
động.
Luật
pháp
cũng
bảo vệ
quyền
bình
đẳng
cho mọi
đối
tượng
khác
nhau
với
tư cách
là ngưểi
lao
động,
bảo vệ họ
trước
tình
trạng
trong
cơ
chế
hoạt
động
và giám
sát của doanh
nghiệp,
ngăn
chặn
các hành
vi sai
trái
nhằm
giảm
thiểu
các tác động không
mong
muốn
tới
xã
hội
và
cộng
đồng Tuy
nhiên,
12
việc
tuân
thủ
đợi hay không
mong
đợi nhưng
không được
thể
hiện
rõ thành
luật.
Các
nghĩa
vụ này là
những
quy định
"ngâm" ràng
buộc
tất
cả các thành viên
trong
doanh
nghiệp thực
hiện
hoặc
được
biểu hiện
thông qua
những
nguyên
tửc
và
giá
để
đạt
đến mục
tiêu/sứ
mệnh,
những
nguyên
tửc
và giá
trị
đạo đức
trờ
thành kim
chỉ
nam cho sự
phối
hợp hành động
của
mỗi thành viên và
nhũng
người
hữu
quan.
Nghĩa
vụ đạo đức
khuyến
khích các
doanh
nghiệp tạo lập
một bầu không
vì
sự
phát
triển
chung của cộng
í
, .
đông.
Điêu này sẽ
giảm
thiêu sự "mát không" vẽ phúc
lợi
xã
hội
do
cạnh
tranh,
độc
quyền
gây
ra;
tạo ra
sự hài lòng cho khách hàng, cho
người
lao
động
và
những
đối
tượng
san sẻ
bớt
gánh
nặng
cho chính phù,
nâng cao năng
lực
lãnh đạo cho nhân
viên,
và phát
triến
nhân cách đạo đức
cho người
lao
động.
Cụ
thể hon,
doanh
nghiệp
tham
gia
vào các chương trình
tình
nguyện,
các
hoạt
động nhân đạo giúp đỡ
những
hoàn
cảnh
đói nghèo, ô
nhiễm,
thất
nghiệp Những
đóng góp này được
coi
là
13
các
"khoản
đẩu tư khôn
ngoan
cho tương
lai"
của các
doanh
nghiệp.
Những
hành động nhân đạo đã
trờ
thành một
nội
dung
được các
doanh
nghiệp
vận
dụng củng
cố và phát
triền
mỗi
loại
đều có mối liên hệ mật
thiết
với
những nghĩa
vụ còn
lại.
Bời vậy,
môi hành động của
doanh
nghiệp
đều có
thế
được xem
xét, đối
chiếu
vói
nhiều
loại.
Do
đó,
có
thị
phân
chia
các
yếu
tố
của
người
lao
động,
cán bộ công nhân
viên;
doanh
nghiệp
cần
tuân
thủ
đầy
đủ,
nghiêm
chỉnh
các quy định pháp
luật
về vấn đề sử
dụng
lao
động,
đảm bảo an toàn
lao
động,
xây
dựng mối quan
hệ thân
thiện,
tốt
đẹp
trong nội
bạch
trong
thông
tin,
trong
phẩn
lợi
tức
mà cố đông đáng được
hường,
bảo
toàn và nâng
cao
giá
trị
các
khoản
đẩu tư
của
cố đông,
-
Trách
nhiệm
với
người
tiêu dùng:
người
tiêu dùng được sử
dụng
hàng hoa,
dài
- Trách nhiệm đối
với
môi
trường:
bao gồm trách
nhiệm
bảo vệ môi trường
xung
quanh hoặc
ít nhất
không
vì
lý do
kinh
tế
mà gây ảnh
hưởng
xấu
tới
môi
sinh;
sử
dụng
hiệu
quả
nguồn tài
nguyên
14
- Trách nhiệm
tế
- xã
hội
của quốc
gia.
1.2. Các nhân
tố
ảnh hưởng
tới
CSR.
1.2.3.
Quy
định
của
pháp
luật.
Các quy định
của
pháp
luật
chính là cơ
sở,
là
nền
tảng
của
CSR. Pháp
luật
của
bất
đẳng,
văn
minh,
phát
triển.
Xét
trong
khía
cạnh
kinh
doanh,
đó
là
các quy định nham xây
dựng
một
môi trường
kinh
doanh
lành
mạnh,
trong
sạch
(khuyến
khích
cạnh
trạnh,
kiểm
soát độc
quyền,
toàn,
chất
lượng,
nghiêm
trị
các hành
vi lừa
dối, gian
lận
thương
mại );
những
quy định về bão vệ môi trường (tiêu chuân về
tiếng ồn,
chất
thải,
khí
thải,
ô
nhiễm );
đảm bảo sự bình đẳng
(chống
phân
biệt
đối xử,
kỳ
thị
chùng
tộc,);
đảm bảo an toàn
luật
không
thể
là
căn cứ để phán xét một hành động là
có đạo đức hay vô đạo đức
trong
những
trường hợp cụ
thể
mà nó
chỉ
thiết
lập
những
quy
tằc
cơ bản cho
những
hành động được
coi
là
có trách
nhiệm
trong
kinh
doanh.
Nói cách
khác,
việc
thực
hiện
những
việc
làm có
lợi
về mình mà gây
những
hệ quả có
thể
trước mắt
hoặc
lâu dài cho xã
hội,
hoặc
một
doanh
nghiệp
khác được xem là có trách
nhiệm
xã
hội
với cộng
đồng
tuy
nhiên không
thể
khẳng
định
doanh
khi
các hành động đã xảy
ra
và
thấy
được hậu quả cờa nó thì
pháp
luật
mới căn cứ để xây
dựng
các quy
định.
Ngay cả
khi
các văn bản
pháp
luật
đã được ban hành
thì
để
nội
dung đi
vào
"cuộc sống" cũng cần
một
khoảng
thời
gian
nhất
định.
yêu cầu
tối
thiếu
mỗi
cá
nhân,
tố
chức cần
thực
hiện trong
mối quan
hệ xã
hội.
1.2.2.
Nhận
thức
của Xã
hội.
Nhu cầu cờa con
người
trong thế
kỷ
XXI, trong bối
cảnh
xã
hội
thông
tin,
nền
kinh tế
dạng,
không
thể
đáp ứng
bằng
phương
thức
kinh
doanh
kiểu cũ.
Chỉ có
doanh
nghiệp
nào có phương
thức
kinh
doanh
mới,
hướng
tới
và đáp ứng
những
nhu
cầu
ngày càng cao
cờa
con
người
thông qua
việc
thương
trường.
Người
tiêu dùng sau một
thời
gian
dài ngự
trị
chờ
nghĩa
tiêu dùng,
sùng bái
vật
chất
cũng
đang có xu
hướng
chuyến sang
tìm
kiếm
sự
hường
thụ
với
những đòi
hỏi
cao hơn. Điều
này
xuất
phát
đều được
thực
hiện
qua hệ
thống
này. Bời
vậy,
một
doanh
nghiệp
có hành động nhân
đạo,
có trách
nhiệm với
xã
hội
luôn được
ưu tiên
khi lựa
chọn lựa sản
phữm
trong
muôn vàn các
sản
phữm cùng phàm
chất
và
trị
giá
ngang nhau.
tế
học này thì con
người
cố
gắng
thoa
mãn
những
nhu
cầu
và
khi
nhu
cầu
nào đó được
thoa
mãn
thì
lại
xuất
hiện
những
nhu
cầu
tiếp
theo,
ban đầu
là
nhu
cầu
thể hiện
mọi
tiềm
năng.
LV.04ÌÌỈ
17
UW3
Người
lao
động
-
thành
phần
không
thể
thiếu
để duy
trì
hoạt
động cùa
một doanh
nghiệp
cũng
ngày càng
nhận
thức
sâu
sắc
hơn giá
trị
trường
thân
thiện,
bình đẳng vói
đội
ngũ ban lãnh đạo có trách
nhiệm,
luôn
quan
tâm đến nhân viên.
Hay như
những
nhà
hoạt
động môi trường
cũng
luôn
quan
tâm
tới
sự
phát
triển
bền
vững cẳa
nhân
loại
luôn luôn kêu
gọi
các
hội.
Và
nhũng
người
lãnh đạo
doanh
nghiệp
qua
thực tế
kinh
doanh
ngày càng
nhận
thức
được
rằng,
những
việc
làm vì
cộng
đồng ngày hôm nay sẽ là
lợi
nhuận
trong
tuông
lại,
chính vì
thế
hành động
vì
hệ
quốc
tế
làm tăng sự phụ
thuộc lẫn
nhau
trên nhiêu mặt cẳa
đời sống
xã
hội
như
kinh
tế,
chính
trị,
an
ninh,
văn hóa cho đèn môi
trường
giữa
các
quốc gia
khác
nhau
trên
thế
giới.
Quá
trinh
toàn cầu hoa
kinh
tế
đều
theo
xu
hướng
mờ
cửa,
đi
theo
quỹ đạo
chung
cẳa
kinh
tế
thị
trường.
Toàn cầu hóa
kinh
tế
và
nhất thể
hóa
kinh
tế
khu vực làm
gia
tăng sự
liên
kết giữa
mà
nó thường gây
ra hiệu
ứng
hai
mặt.
Có
những
khu
vực,
những
nước và
doanh
nghiệp
giàu lên
nhanh
chóng nhờ toàn cầu hóa; nhưng có
những
khu vực,
những
nước và
doanh
nghiệp
bị
thua
thiệt
hoặc thậm
chí
bị
đẩy
tranh
thứ
nhất
dụatrên cơ sờ
cạnh
tranh
bằng
chất
lượng,
kiểu
dáng,
giá
cả.
Thế hệ
cạnh
tranh
thứ
hai
là
cạnh
tranh
về tiêu
thụ,
chủ yếu thông qua tuyên
truyền,
quảng
cáo và
tiếp
thị,
khuyển
vi
ứng
xử,
tới
quyết
định
lựa
chọn của
người
tiêu
dùng,
chứ
không
phải
thuần tuy
trên sự
tác
động
tới
giác
quan của
họ.
Bời
vậy,
trong
giai
đoạn
toàn
cầu
hoa đang phát
liệt
thì
ĐĐKD và CSR
sẽ là nguồn
lực,
nguồn
vằn mới cho
doanh
nghiệp
trong
cạnh
tranh
quằc
tế.
Chính 2
nguồn
lực
này
sẽ
tác động và thúc đẩy
người
tiêu dùng
thay
đổi
quan
niệm
tiêu dùng
của họ.
1.3.
Tác
luật
là những
quy định
chung
mang tính
chất bắt
buộc,
cưỡng
chế
thi
hành nhằm
điều chỉnh những
hành
vi
của
con
người
thì
việc
thực hiện
CSR là
nhũng
cam
kết
mang tính
chất
tuy
nghi,
phụ
thuộc
nào,
dù hoàn
thiện
đến đâu chăng nữa
cũng
có
thể thay thế vai
trò của
CSR
trong việc
khuyến
khích mọi
người
làm
việc
thiện,
tác động vào lương
tâm của
doanh
nhân.
Mặt
khác,
pháp
luật
càng đầy
đủ,
chặt
chẽ
và được
thi
gieo
hành
vi
gặt
thói quen,
gieo
thói
quen gặt tư
cách, gieo
tư
cách
gặt số
phận",
xét
trong
phạm
vi
môi trường
kinh
doanh
thì
những
gì
doanh
nghiệp
nhận
được ngày
mai
là
kết
Hành
vi
ứng xử cùa các
doanh
nghiệp
trong
mối
quan
hệ
với
cán bộ
công nhân
viên,
người
lao
động,
cổ đông,
với
môi
trường,
với
cộng
đồng sẽ
thể hiện
tư cách
của doanh
nghiệp,
và chính tư cách ấy tác động
trực tiếp
đến
đối tác,
chủ đầu tư
trong
nước
lẫn
quốc
tế.
Các nhà
quản
lý
doanh
nghiệp
quốc tế
không
những
biết
cách làm tăng
tối
đa
lợi
nhuận
cho công
ty,
mà còn ý
thức
rất
rõ
được
việc tạo
nên
Như
trường
hợp
của
tập
đoàn
thể
thao
khổng
lồ
NIKE.
Vào
những
năm
1990, điều
kiện
lao
động
khắc
nghiệt
(môi trường làm
việc
không đủ
điều
kiện
an
toàn,
việc
làm thêm
giờ