Trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp ở việt nam. thực trạng và một số giải pháp - Pdf 31

TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM.
THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP

LỜI MỞ ĐẦU
Gia nhập WTO đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp Việt Nam phải tham gia vào
một sân chơi quốc tế với nhiều “luật chơi” mới khắc nghiệt mà nếu không thực hiện đúng
chúng ta sẽ bị loại khỏi cuộc chơi đó. Bên cạnh đó, việc người tiêu dùng trên toàn thế
giới ngày nay không chỉ quan tâm tới chất lượng sản phẩm dịch vụ mà càng ngày càng
quan tâm tới việc bảo vệ sức khỏe, môi trường và trách nhiệm với cộng động. Việc tiêu
dùng những sản phẩm sạch, thân thiện với môi trường đã hình thành và sẽ trở thành một
xu hướng tiêu dùng tất yếu trong tương lai. Do đó, các doanh nghiệp nếu muốn tồn tại và
phát triển sẽ không chỉ phải đặt mục tiêu lợi nhuận lên hàng đầu mà cồn phải quan tâm
tới khía cạnh trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp.
Ở Việt Nam, trong những năm gần đây dư luận cũng bắt đầu quan tâm chặt chẽ và
bức xúc đối với hàng loạt các vụ vi phạm đạo đức kinh doanh, xâm hại môi trường và sức
khỏe con người ở mức độ nghiêm trọng. Bài toán về trách nhiệm xã hội của các doanh
nghiệp ở Việt Nam lại được đặt ra như một câu hỏi khó cần phải được trả lời.
Vì vậy trong bàì tiểu luận môn Tâm lý đạo đức kinh doanh, nhóm Smile liên thông
K7 sẽ bàn về “ Trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp ở Việt Nam. Thực trạng và
một số giải pháp”. Bài tiểu luận có bố cục gồm 3 chương.
Chương 1: Lý thuyết chung về trách nhiệm xã hội
Chương 2: Trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp ở Việt Nam và ví dụ về công
ty Vedan Việt Nam

1


Chương 3: Một số giải pháp nâng cao trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp ở
Việt Nam hiện nay.

CHƯƠNG I. LÝ THUYẾT CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI

Thuật ngữ trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp mới chính thức xuất hiện cách đây
hơn 50 năm, khi H.R.Bowen công bố cuốn sách của mình với nhan đề “Trách nhiệm xã
hội của doanh nhân” (Social Responsibilities of the Businessmen) (1953) nhằm mục đích
tuyên truyền và kêu gọi người quản lý tài sản không làm tổn hại đến các quyền và lợi ích
của người khác, kêu gọi lòng từ thiện nhằm bồi hoàn những thiệt hại do các doanh nghiệp
làm tổn hại cho xã hội. Tuy nhiên, từ đó đến nay, thuật ngữ trách nhiệm xã hội của doanh
nghiệp đang được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Một số người xác định “trách nhiệm
xã hội hàm ý nâng hành vi của doanh nghiệp lên một mức phù hợp với các quy phạm, giá
trị và kỳ vọng xã hội đang phổ biến” (Prakash, Sethi, 1975: 58 – 64). Một số người khác
hiểu “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp bao gồm sự mong đợi của xã hội về kinh tế,
luật pháp, đạo đức và lòng từ thiện đối với các tổ chức tại một thời điểm nhất định”
(Archie. B Carroll, 1979).
2.2. Quá trình phát triển của CSR
2.2.1. Hai quan điểm đối lập nhau về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
Cuộc tranh luận về CSR Ðại diện nổi bật nhất cho chủ thuyết quản trị “dại diện” là
Milton Friedman .Theo quan điểm của Milton Friedman : “Doanh nghiệp chỉ có một
trách nhiệm duy nhất là tối đa hóa lợi nhuận, gia tăng giá trị cổ đông, trong khuôn khổ
luật chơi của thị truờng là cạnh tranh trung thực và công bằng.” Theo ông, nguời quản lý
doanh nghiệp (thành viên hội dồng quản trị và ban giám dốc) là những nguời đại diện cho
chủ sở hữu/ cổ đông đứng ra quản lý công ty. Họ đuợc bầu hoặc đuợc thuê để dẫn dắt
công ty theo cách mà các cổ đông muốn, đa phần là làm ra lợi nhuận càng nhiều càng tốt,
đồng thời tuân thủ các quy tắc xã hội cơ bản vốn đã đuợc thể hiện trong luật và các
3


nguyên tắc đạo đức phổ biến. Ðó chính là bản chất vì- lợi nhuận (for-profit) của doanh
nghiệp.Thứ hai, công ty vốn là một chủ thể “vô tri vô giác” do con nguời tạo ra; do đó
công ty không thể tự nhận thức và gánh vác nghĩa vụ đạo đức vốn chỉ có con nguời mới
có. Bởi vì chỉ có từng cá nhân con nguời mới có luơng tâm để nhận thức sự việc đúngsai.Hơn nữa, các trách nhiệm xã hội thuộc lĩnh vực của nhà nuớc, là chủ thể cung cấp các
dịch vụ công, vì lợi ích công cộng và phi lợi nhuận. Chỉ có nhà nuớc mới có đủ thông tin

mới, đặt một nhà máy, đóng cửa một chi nhánh…. đều kéo theo những hệ quả xã hội nhất
định. Do dó, không thể tách rời hoàn toàn giữa tính chất kinh tế và xã hội khi nhìn nhận
bản chất và hoạt động của doanh nghiệp.
2.2.2 Phong trào CSR ở các nuớc phát triển
CSR đã trở thành một phong trào thực thụ và trưởng thành, phát triển rộng khắp
thế giới. Nguời tiêu dùng tại các nuớc Âu-Mỹ hiện nay không chỉ quan tâm đến chất
luợng sản phẩm mà còn coi trọng cách thức các công ty làm ra sản phẩm đó, có thân
thiện với môi trường sinh thái, cộng đồng, nhân đạo, và lành mạnh. Nhiều phong trào bảo
vệ quyền lợi người tiêu dùng và môi trường phát triển rất mạnh, chẳng hạn như phong
trào tẩy chay thực phẩm gây béo phì nhằm vào các công ty sản xuất đồ ăn nhanh, nước
giải khát có ga; phong trào thương mại công bằng FairTrade (bảo đảm điều kiện lao động
và giá mua nguyên liệu của nguời sản xuất ở các nước thế giới thứ 3), phong trào tẩy
chay sản phẩm sử dụng lông thú, tẩy chay sản phẩm bóc lột lao động trẻ em (nhằm vào
công ty Nike, Gap), phong trào tiêu dùng theo lương tâm … Truớc áp lực từ xã hội, hầu
hết các công ty lớn đã chủ dộng đưa CSR vào chương trình hoạt động của mình một cách
nghiêm túc. Hàng nghìn chương trình đã đuợc thực hiện như tiết kiệm năng luợng, giảm
khí thải carbon, sử dụng vật liệu tái sinh, năng lượng mặt trời, cải thiện nguồn nuớc sinh
hoạt, xóa mù chữ, xây dựng trường học, cứu trợ, ủng hộ nạn nhân thiên tai, thành lập quỹ
và trung tâm nghiên cứu vắc-xin phòng chống Aids và các bệnh dịch khác ở các nước
nhiệt đới, đang phát triển. Có thể kể đến một số tên tuổi đi đầu trong các hoạt động này
5


như TNT, Google, Intel, Unilever, CocaCola, GE, Nokia, HSBC, Levi Strauss,
GlaxoSmithKline, Bayer, DuPont, Toyota, Sony, UTC, Samsung, Gap, BP,
ExxonMobil…
Theo tổ chức Giving USA Foundation, số tiền các doanh nghiệp đóng góp cho các hoạt
động xã hội trên tòan thế giới lên đến 13,77 tỷ USD (năm 2005) và gần 1.000 công ty
đuợc đánh giá là “công dân doanh nghiệp tốt”. Nổi bật là truờng hợp ngân hàng Grameen
do TS. Muhammad Yunus dã cung cấp tín dụng vi mô cho 6,6 triệu người, trong dó 97%

nước sở tại đối với quyền và lợi ích của người lao động sẽ được thực thi nghiêm túc, qua
đó, tạo ra được động cơ làm việc tốt cho người lao động.Điều đáng quan tâm là, khi
doanh nghiệp cam kết thực hiện trách nhiệm xã hội, các vấn đề như lao động cưỡng bức,
sử dụng lao động trẻ em, quấy nhiễu và lạm dụng lao động, phân biệt đối xử sẽ bị hạn chế
và loại bỏ;Vấn đề thù lao lao động sẽ được thực hiện tốt, đảm bảo tái sản xuất sức lao
động cho người lao động;Vấn đề an toàn và sức khoẻ của người lao động được doanh
nghiệp chú trọng đầu tư, chế độ làm việc – nghỉ ngơi khoa học sẽ được thực hiện, qua đó
tạo ra môi trường làm việc an toàn, chế độ làm việc hợp lý cho người lao động…
3. Ý nghĩa đối với khách hàng
Thoả mãn những yêu cầu cơ bản mà họ đặt ra với doanh nghiệp: những sản phẩm
có chất lượng cao, có giá trị sử dụng tốt, đảm bảo độ an toàn cao khi sử dụng; được sống
trong một môi trường trong sạch, một xã hội mà các vấn đề xã hội được giải quyết ở mức
độ tốt nhất.
4. Ý nghĩa đối với cộng đồng và xã hội
7


• Bảo vệ môi trường.
• Giảm tệ nạn xã hội.
• Tăng cường các hoạt động từ thiện, góp phần giảm gánh nặng cho xã hội.
III. Nội dung của CSR
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) hiện nay đã phổ biến nhưng vẫn còn
nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm, nội dung và phạm vi của CSR. Trong số đó,
mô hình “kim tự tháp” của A. Carroll (1999) có tính toàn diện và được sử dụng rộng rãi
nhất. Theo đó, CSR bao gồm trách nhiệm kinh tế, pháp lý, đạo đức và từ thiện.

CSR: mô hình kim tự tháp của A. Carroll
1.Trách nhiệm kinh tế
Nghĩa vụ kinh tế trong trách nhiệm xã hội của một tổ chức quan tâm đến cách thức
phân bổ trong hệ thống xã hội các nguồn lực được sử dụng để làm ra sản phẩm dịch vụ.

Bảo vệ môi trường: Việc kinh doanh sản xuất của doanh nghiệp phải đặc biệt quan tâm
đến những vấn đề ô nhiễm môi trường do: thải chất độc hại trong sản xuất vào không khí,
nước , đất đai và tiếng ồn.
An toàn và bình đẳng: Bảo vệ người lao động trước tình trạng phân biệt, đối xử.Ngăn
chặn việc sa thải người lao động một cách tùy tiện và bất hợp lý. Doanh nghiệp phải tạo
môi trường lao động an toàn và trả lương tương xứng với công sức của người lao động.
Khuyến khích phát hiện và ngăn chặn hành vi sai trái: thông qua việc khuyến khích
phát hiện sớm những hàh vi sai trái tiềm tang để có thể khắc phục, giảm thiểu hậu quả
3. Trách nhiệm đạo đức
Nghĩa vụ về đạo đức của tổ chức được thể hiện thông qua các nguyên tắc và giá trị đạo
đức được trình bày trong bản sứ mệnh và chiến lược của họ. Nó không được thể chế hóa
thành luật mà được thể hiện thông qua các tiêu chuẩn, các quan điểm, kỳ vọng của các
doanh nghiệp về đúng sai, công bằng, quyền lợi được bảo vệ của người tiêu dung, người
lao động, đối tác, chủ sở hữu, cộng đồng.
4. Trách nhiệm từ thiện
Nghĩa vụ từ thiện của doanh nghiệp liên quan đến đóng góp cho cộng đồng và xã
hội trên bốn phương diện: nâng cao chất lượng cuộc sống, san sẻ bớt gánh nặng cho
chính phủ, nâng cao năng lực lánh đạo cho nhân viên và phát triển nhân cách đạo đức cho
người lao động.

CHƯƠNG II. TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP
Ở VIỆT NAM VÀ VÍ DỤ VỀ CÔNG TY VEDAN
I. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp tại Việt Nam
10


1. Vấn đề trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp tại Việt Nam
Không phải đến bây giờ, tại Việt Nam, vấn đề trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
mới được đặt ra; mà trái lại, ngay trong thời bao cấp, người ta cũng đã nói nhiều về trách
nhiệm xã hội của các xí nghiệp đối với nhà nước và người lao động, cũng như đối với

còn

góp

phần vào

sự

phát triển

bền

vững

của



hội

nói

chung.

Như chúng ta đều biết, ở Việt Nam, phát triển bền vững đã trở thành mục tiêu chiến lược
và được đề ra từ những năm 80 của thế kỷ XX. Cùng với thời gian, khái niệm phát triển
bền vững đã có sự thay đổi về nội hàm và ngày càng được bổ sung thêm những nội dung
mới.
Xét về nguồn gốc, thuật ngữ phát triển bền vững ra đời từ những năm 70 của thế
kỷ XX và bắt đầu thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu về môi trường và phát triển

Ba là, trong khi khai thác các yếu tố phát triển theo chiều rộng, phải đặc biệt coi trọng
các

yếu

tố

phát

triển

theo

chiều

sâu,

phát

triển

kinh

tế

tri

thức.

Bốn là, phải gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, phát triển toàn diện con

may cho thấy, nhờ thực hiện các chương trình trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp,
doanh thu của các doanh nghiệp này đã tăng 25%, năng suất lao động cũng tăng từ 34,2
triệu đồng lên 35,8 triệu đồng/1 lao động/năm; tỷ lệ hàng xuất khẩu tăng từ 94% lên 97%.
Bên cạnh hiệu quả kinh tế, các doanh nghiệp còn củng cố được uy tín với khách hàng, tạo
được sự gắn bó và hài lòng của người lao động đối với doanh nghiệp, thu hút được lực
lượng lao động có chuyên môn cao.
Do nhận thức được tầm quan trọng và ích lợi của việc thực hiện trách nhiệm xã
hội trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, một số doanh nghiệp lớn của Việt
Nam, ngoài trách nhiệm đóng thuế cho nhà nước, đã đăng ký thực hiện trách nhiệm xã
14


hội dưới dạng các cam kết đối với xã hội trong việc bảo vệ môi trường, với cộng đồng địa
phương nơi doanh nghiệp đóng và với người lao động.
2.2 Những tồn tại trong việc thực hiện CSR
Tuy nhiên, bên cạnh đó, phải thừa nhận rằng, trong thời gian qua ở Việt Nam, nhiều
doanh nghiệp đã không thực hiện một cách nghiêm túc trách nhiệm xã hội của mình.
Điều đó thể hiện ở các hành vi gian lận trong kinh doanh, báo cáo tài chính, không bảo
đảm an toàn lao động, sản xuất, kinh doanh hàng kém chất lượng, cố ý gây ô nhiễm môi
trường. Điển hình là các vụ xả nước thải không qua xử lý gây ô nhiễm môi trường
nghiêm trọng cho các dòng sông và cộng đồng dân cư của các Công ty Vedan, Công ty
thuộc da Hào Dương, Công ty Giấy Việt Trì, công ty Hyundai Vinashin (Khánh Hòa),
các vụ sản xuất thực phẩm chứa chất có hại cho sức khỏe con người, như nước tương có
chứa chất 3-MCPD gây ung thư, bánh phở chứa phormol, thực phẩm chứa hàn the, sữa có
chứa melamine. Ngoài ra, nhiều doanh nghiệp vi phạm các quy định pháp luật về lương
bổng, chế độ bảo hiểm, vấn đề an toàn lao động cho người lao động cũng không còn là
hiện tượng hiếm thấy, đã và đang gây bức xúc cho xã hội.

II: Bài học từ vụ xả chat thải ra môi trường của công ty VEDAN Việt Nam
1. Quá trình hình thành và phát triển

hiện liên tục. Sự phấn đấu xây dựng thành một doanh nghiệp phát triển bền vững gắn liền
với bảo vệ môi trường trong thời gian tới là mục tiêu nỗ lực và lâu dài của Công ty cổ
phần hữu hạn Vedan Việt Nam. Để đạt được mục tiêu đó, công ty đã thiết lập chính sách
môi trường nhằm định hướng cho mọi nhân viên trong công ty phải luôn đề cao quan
16


niệm về yêu quý môi trường, tuân thủ các quy định của pháp luật, ngăn ngừa ô nhiễm
môi trường, yêu quý tài nguyên thiên nhiên. Thêm vào đó, ngay từ khi bắt đầu xây dựng
nhà máy, Vedan đã xác định mục tiêu “Cắm rễ tại Việt Nam - Kinh doanh lâu dài” làm
phương châm hoạt động. Thế nhưng, đằng sau những lời lẽ bóng bẩy, đầy tính nhân văn
như vậy lại là những hành đông trái ngược hoàn toàn khi Vedan đã lừa dối, phản bội
người tiêu dùng, quay lưng với xã hội trong suốt 14 năm trước khi bị phát hiện xả thải
trực tiếp chất thải ra sông Thị Vải. Hành động của Vedan đã gây ra nhiều ảnh hưởng xấu
đến môi trường sinh thái khu vực xung quanh sông Thị Vải và đời sống của người dân
nơi đây.
3. Diễn biến và sai phạm của vụ việc Vedan xả chất thải ra môi trường
3.1 Diễn biến sự kiện Vedan xả chất thải
Trước khi bị phát hiện vi phạm về xả chất thải chưa qua xử lý ra môi trường,
Vedan luôn tự hào đã xây dựng hệ thống xử lý nước thải bằng công nghệ tiên tiến, nhưng
để xây dựng hệ thông xử lý nước thải đủ khả năng xử lý lượng chất thải xả ra mỗi ngày
của mình, công ty Vedan sẽ phải đầu tư chi phí ban đầu khoảng 143 tỷ đồng và chi phí
vận hành hàng năm để các hệ thống xử lý này hoạt động theo quy chuẩn về nước thải cần
số tiền là 210 tỷ đồng. và để “tiềt kiệm” khoản tiền khổng lồ ấy, Vedan đã nghĩ ra
phương pháp “xử lý nước thải” nhanh chóng, tận dụng lợi thế gần sông Thị Vải để xả
trực tiếp chất thải ra dòng sông này. Công ty Vedan thiết kế, lắp đặt các hệ thống bồn
chứa, bể chứa dịch thải sau lên men bột ngọt và lysine được đặt lẫn trong khu bồn chứa
nguyên liệu mật rỉ đường, nguyên liệu và hoá chất sản xuất. Hệ thống đường ống chằng
chịt hầu hết chìm dưới đất, các van khoá chỉ mở được bằng cờ-lê và mỏ-lết rất khó phát
hiện. Đồng thời, Vedan xây dựng hệ thống máy bơm áp lực cao với các van được điều

4. Không đăng ký cam kết bảo vệ môi trường với cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ
môi trường đối với trại chăn nuôi heo.
18


5. Không lập báo cáo đánh giá tác động môi trường mà đã xây dựng và đưa công trình
vào hoạt động đối với dự án đầu tư nâng công suất phân xưởng sản xuất xút- axit từ
3.116 tấn/tháng lên 6.600 tấn/tháng.
6. Không lập báo cáo đánh giá tác động môi trường mà đã xây dựng và đưa công trình
vào hoạt động đối với dự án đầu tư nâng công suất các nhà máy bột ngọt từ 5.000
tấn/tháng lên 15.000 tấn/tháng, tinh bột biến tính từ 2.000 tấn/tháng lên 4.000 tấn/tháng,
lysin từ 1.200 tấn/tháng lên 1.400 tấn/ tháng, bột gia vị cao cấp 20 tấn/tháng, PGA 700
tấn/năm, phân Vedagro 70.000 tấn/năm (rắn), 280.000 tấn/năm (lỏng).
7. Thải mùi hôi thối, mùi khó chịu trực tiếp vào môi trường không qua thiết bị hạn chế
môi trường.
8. Quản lý chất thải nguy hại không đúng quy định về bảo vệ môi trường.
9. Công ty xả nước thải vào nguồn nước không đúng vị trí quy định trong giấy phép
4. Ảnh hưởng từ vụ xả chất thải đối với công ty Vedan Việt Nam
 Tài chính
Công ty đã phải nộp phạt 267,5 triệu đồng do vi phạm hành chính về bảo vệ môi
trường (theo quyết định xử phạt của Chánh thanh tra Bộ Tài Nguyên Môi Trường ký
ngày 6 tháng 10 năm 2008) và buộc phải truy nộp phí bảo vệ môi trường hơn 127 tỉ đồng,
bồi thường cho nông dân 3 tỉnh Đồng Nai, Bà Rịa- Vũng Tàu và thành phố Hồ Chí Minh
tổng số tiền 219 tỷ đồng những thiệt hại kinh tế do ô nhiễm môi trường gây ra để tránh
phải ra tòa.
 Sản xuất kinh doanh
Công ty bị tước quyền xả nước thải vào nguồn nước, đình chỉ hoạt động để khắc
phục ô nhiễm môi trường
 Uy tín công ty
19

20


1. Nhận thức về trách nhiệm xã hội trong và giữa các doanh nghiệp Việt Nam còn có sự
khác nhau khá lớn.
2. Năng suất lao động bị ảnh hưởng khi phải thực hiện đồng bộ nhiều bộ quy tắc ứng xử
(CoC).
3. Thiếu nguồn tài chính và kỹ thuật để thực hiện các chuẩn mực trách nhiệm xã hội
doanh nghiệp (đặc biệt là đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ).
4. Sự khác biệt giữa Bộ luật lao động và bộ quy tắc ứng xử của khách đặt hàng gây nhầm
lẫn cho doanh nghiệp, chẳng hạn như vấn đề làm thêm hay hoạt động của công đoàn.
5. Sự thiếu minh bạch trong việc áp dụng trách nhiệm xã hội doanh nghiệp trên thực tế
đang cản trở lợi ích thị trường tiềm năng mang lại cho doanh nghiệp.
6. Mâu thuẫn trong các quy định của nhà nước khiến cho việc áp dụng bộ quy tắc ứng xử
không đem lại hiệu quả mong muốn, ví dụ như mức lương, phúc lợi và các điều kiện
tuyển dụng.
II.

Một số giải pháp nâng cao việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh
nghiệp ở Việt Nam.

Sau khi xem xét các nguyên nhân dẫn đến việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh
nghiệp ở Việt Nam còn hạn chế, nhóm Smile xin đưa ra một số biện pháp cụ thể như sau:
Một là: Nâng cao chất lượng các quy định pháp luật bằng cách áp dụng RIA trong quá
trình ban hành văn bản pháp luật. RIA là đánh giá tác động của văn bản luật, là công cụ
tiên tiến được các nước phát triển áp dụng trong quá trình thiết kế luật. Đánh giá RIA
giúp xác định giải pháp lập quy có phải là giải pháp cần thiết hợp lý. Nếu có RIA sẽ tìm
ra mức độ lập quy phù hợp nhất để đạt được mục tiêu với chi phí thấp nhất cho doanh
nghiệp. Một khi văn bản luật có tính chính xác cao, hiệu lực của các văn bản cũng sẽ
21

thành công phải được dựa trên việc tạo dựng niềm tin và sự ủng hộ của khách hàng và
công chúng, tất cả cán bộ công nhân viên, các nhà cung cấp và phân phối, các nhà đầu tư
và ngân hàng, cuối cùng là các tổ chức chính quyền. CSR phải bắt nguồn từ người lãnh
đạo. nếu những nhà quản lý không tin tưởng vào tầm quan trọng của CSR, nếu họ không
chủ động tiên phong hay hỗ trợ các hoạt động CSR tại cơ sở, nếu họ không thể hiện tính
chính trực và trung thực trong công việc cũng như trong cuộc sống cá nhân thì CSR
không thể thành công. CSR cần được áp dụng trong mọi khía cạnh hoạt động của công ty
và tất cả các nhóm có quyền lợi liên quan.
Ở nước ta, mỗi khi có những vụ vi phạm đạo đức kinh doanh, ô nhiễm môi trường xảy ra,
người ta thường đổ tất cả tội lỗi cho doanh nghiệp. Tuy nhiên như đã được bàn đến,
doanh nghiệp nào cũng phải lấy lợi ích làm nền tảng, do đó họ luôn có khuynh hướng tối
thiểu hóa chi phí và tối đa hóa lợi nhuận. Trong bối cảnh khung khổ pháp luật không chặt
chẽ, thống nhất, hệ thống thực thi pháp luật bị buông lỏng, kém hiệu lực và người dân ở
trong tình trạng yếu thế, không có kiến thức và công cụ để bảo vệ lợi ích cộng đồng như
hiện nay, thì nhà nước thực chất vô tình rạo ra môi trường tốt để các công ty lợi dụng và
coi nhẹ trách nhiệm xã hội của mình. Muốn đảm bảo CSR nhà nước cần phải khuyến
khích và phát triển các cơ chế “xã hội dân sự” ở địa phương, để làm đối trọng với doanh
nghiệp. Đối trọng với doanh nghiệp không có nghĩa doanh nghiệp luôn xấu. Thực ra,
doanh nghiệp có tính trung lập trong khía cạnh họ luôn thích ứng với môi trường chính trị
pháp lý, xã hội. Tạo ra đối trọng ở đây không có nghĩa tạo ra cơ chế xã hội đủ sức mạnh
để giám sát CSR.
Tự cơ chế xã hội ở từng địa phương sẽ cho phép người dân có tiếng nói trọng lượng hơn
đối với doanh nghiệp trước những tác động tiêu cực doanh nghiệp có thể gây ra, để đảm
bảo quyền lợi chính đáng của cộng đồng được tôn trọng. Điều đó giúp giảm khối lượng
công việc và chi phí cho hệ thống các cơ quan quản lý hành chính của nhà nước từ trung
23


ương xuống địa phương trong việc giám sát và quản lý CSR. Khung khổ ba bên nhà
nước- xã hội- doanh nghiệp sẽ đảm bảo hoạt động CSR một cách tối ưu để doanh nghiệp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status