TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
VIỆN KINH TẾ & QUẢN LÝ
ĐỀ TÀI:
Vấn đề môi trường và trách nhiệm xã hội
của các doanh nghiệp ở việt nam
Nhóm 15
Giảng viên :
TS VŨ QUANG Họ tên SV :
1. Hu Phi
20101977 2. Nguy
20113822 3. Ph
20112974 4. Trnh Vit H
20111554 5. Mai Th Kiu Trinh
20116044
Mục Lục:
A: Trách nhiệm đạo đức xã hội của các doanh nghiệp 4
Phần 1: cơ sở lý luận 4
1. các khía cạnh của trách nhiệm xã hội 4
a. Khía cạnh về kinh tế 5
b. Khía cạnh pháp lý 5
c. Khía cạnh đạo đức 6
d. Khía cạnh nhân văn( long bác ái) 6
2. Đạo đưc kinh doanh và trách nhiệm xã hội 6
a. Phân biệt giũa “đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội” 6
b. Mối quan hệ giữa Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp và Đạo đức kinh doanh. 7
Phần 2: thực trạng xã hội và giải pháp 7
1. Thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp 7
2. lợi ích của doanh nghiệp khi thực hiện trách nhiệm xã hội 8
a. Đối với chi phí và hiệu quả sản xuất 8
b. Tăng doanh thu 8
c. Nâng cao giá trị thương hiệu và uy tín của công ty 8
d. Thu hút nguồn lao động giỏi 9
3. xây dựng được tiêu chuẩn và công cụ quản lý trách nhiệm xã hội 9
4. gin ngh v vic thc hii cp 16
a) Giải pháp 16
b) Kiến nghị 16
B. Vấn đề về môi trường 18
Phần 1. Thực trạng: 18
Phần 2. Một số nguyên nhân cơ bản dẫn đến thực trạng trên 20
Phần 3. Giải pháp: 21
1. nhóm giải pháp nâng cao nhận thức của doanh nghiệp về TNXH nói chungvà ô nhiễm môi
trường nói riêng. 21
2. nhóm giải pháp về pháp lý 22
nghiệp là tham gia vào các chương trình trợ giúp các đối tượng xã hội như hỗ trợ người tàn
tật, trẻ em mồ côi, xây dưng nhà tình nghĩa,… điều đó đúng nhưng hoàn toàn chưa đủ mặc
dù các hoạt động xã hỗi la 1 phần quan trọng trong trach nhiệm của 1 công ty. Quan trọng
hơn, một doanh nghiệp phải dự đoán được và đo lường được nhũng tác động về xã hội và
môi trường hoạt động của doanh nghiệp và phát triển nhũng chính sách làm giảm bớt những
tác động tiêu cực.
Trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp còn là cam kết của doanh nghiệp đóng góp
vào sự phát triển bền vững, hợp tác cùng người lao động, gia dình họ, cộng đồng và xã hội
nói chung để cải thiện chất lượng cuộc sống họ soa cho vừa tốt cho doanh nghiệp vừa ích lợi
cho phát triển.
Vì vậy ngày nay 1 doanh nghiệp có trách nhiệm xã hội lien quan dến mọi khía cạnh
vận hành của 1 doanh nghiệp. trách nhiệm xã hội bao gồm 4 khía cạnh : kinh tế, pháp lý, đạo
đức và long bác ái. Nghĩa vụ
dạo đức
Nghĩa vụ pháp lý
Nghĩa vụ kinh tế
Nghĩa
vụ nhân văn
ĐH Bách Khoa Hà Nội Văn Hóa Kinh
Doanh
trường,…
Về căn bản khía cạnh pháp lý gồm 5 khía cạnh:
- Điều tiết cạnh tranh
- Bảo vệ người tiêu dùng
- Bảo vệ môi trường
- An toàn và bình đẳng
- Khuyến khích phát hiện và ngăn chặn hành vi sai trái
ĐH Bách Khoa Hà Nội Văn Hóa Kinh
Doanh
20146
Thông qua trách nhiệm pháp lý, xã hội buộc các thành viên phải thực thi các hành vi
được chấp nhận. các tổ chức không thể tồn tại lâu dài nếu họ không thực hiện trách nhiệm
pháp lý của mình.
c. Khía cạnh đạo đức
Khía cạnh đạo đức trong trách nhiệm xã hội của 1 doanh nghiệp là những hành vi và
hoạt động mà xã hội mong đợi ở doanh nghiệp nhưng không được quy định trong hệ thống
của phap luật, không được thể chế hóa thành luật.
Khía cạnh đạo đức của 1 doanh nghiệp thường được thong qua những nguyên tắc , giá
trị đạo đức được tôn trọng trình bày trong bản sứ mệnh và chiến lược của công ty. Thông
qua các tuyên bố này, nguyên tắc và giá trị đạo đức trở thành kim chỉ nam cho sự phối hợp
hành động của mỗi thành viên trong công ty với các bên hữu quan.
d. Khía cạnh nhân văn( long bác ái)
Khía cạnh nhân văn trong trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là những hành vi và
hoạt động thể hiện những mong muốn đóng góp và hiến dâng cho cộng đồng và xã hội.
Những đong góp trên có thể kể đến 4 phương diện : nâng cao chất lượng cuộc sống,
quy định chỉ đạo những quyết
định của cá nhân và tổ chức.
Mong muốn kì vọng xuất phát từ
bên trong
nhân phải thự hiện đạt mặt tích
cực và giảm tiêu cực
Xem như cam kết với xã hội
Quan tâm đến hậu quả của các
quyết định của tổ chức tới xã hội.
Mong muốn kì vọng xuất phát từ
bên ngoài
b. Mối quan hệ giữa Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp và Đạo đức kinh doanh.
Trách nhiệm xã hội là một biểu hiện của đạo đức kinh doanh, là việc hiện thực hóa các
quy tắc, chuẩn mực của đạo đức kinh doanh thành những hành động thực tế, nhằm phát huy
được nhiều nhất những tác động tích cực và giảm thiểu tối đa các tác động tiêu cực. Trách
nhiệm xã hội doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng trong đánh giá Đạo đức kinh doanh
(ĐĐKD).
Khái niệm Đạo đức kinh doanh và Trách nhiệm xã hội có mối liên hệ rất mật thiết.
Theo cách mô tả trên sơ đồ, đạo đức kinh doanh là cơ sở cho các quyết định, là “đầu vào”
của quá trình lựa chọn hành động (hành vi xã hội) của doanh nghiệp; tác động xã hội mong
muốn hàm chứa trong các trách nhiệm xã hội là mục tiêu của hành động, đó cũng chính là
“đầu ra” của hoạt động.
Phần 2: thực trạng xã hội và giải pháp
1. Thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp
ĐH Bách Khoa Hà Nội Văn Hóa Kinh
tăng 25%, năng suất lao
c. Nâng cao giá trị thương hiệu và uy tín của công ty
Thực hiện TNXH giúp cho doanh nghiệp tăng giá trị thương hiệu và uy tín một
cách đáng kể. Chương trình trách nhiệm xã hội với ý tưởng mới, có ích cho cộng đồng sẽ
ĐH Bách Khoa Hà Nội Văn Hóa Kinh
Doanh
20149
thu hút sự tham gia của các phương tiện truyền thông .Như vậy doanh nghiệp tận dụng
được sự hỗ trợ của bên thứ ba khách quan để đưa hình ảnh đến với công chúng. Điều này
giúp gia tăng “ tình cảm” của người tiêu dùng cũng như các đối tác, các nhà đầu tư đối
với thương hiệu hay sản phẩm của doanh nghiệp
d. Thu hút nguồn lao động giỏi
Chất lượng nguồn lao động quyết định đến năng suất và chất lượng sản phẩm. Vì
vậy việc thu hút và giữ được đội ngũ lao động có chuyên môn cao là một thách thức
không nhỏ đối với doanh nghiệp. Người lao động nào cũng đều muốn có điều kiện và
môi trường làm việc tốt; tiền lương và phúc lợi đảm bảo được cuộc sống ,được quan tâm,
hỗ trợ khi khó khăn, chế độ bảo hiệm đầy đủ, được nâng cao chuyên môn…Những doanh
nghiệp thực hiện TNXH thỏa mãn những điều kiện đó sẽ thu hút được những lao động
giỏi. Hơn nữa, ngày nay nhiều người lao động không còn đặt mục tiêu kiếm tiền lên hàng
đầu khi lựa chọn chỗ làm việc. Như vậy hoạt động TNXH của doanh nghiệp khiến họ
cảm thấy họ đang tạo ra giá trị và ý nghĩa cho xã hội.Họ tự hào về công việc và sẽ tâm
huyết, gắn bó với doanh nghiệp.
3. xây dựng được tiêu chuẩn và công cụ quản lý trách nhiệm xã hội
Đạo đức thường được hiểu là những ràng buộc bất thành văn, CSR đã được cụ thể
hóa thành các văn bản cho các doanh nghiệp tùy nghi áp dụng. Theo thống kê, hiện nay
dàng thu hút được nguồn lao động giỏi vì họ hiểu được vai trò, lợi ích của mình khi làm
việc trong doanh nghiệp chú ý nhiều tới Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp.
Các doanh nghiệp thực hiện Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp bước đầu mang lại
những lợi ích cho doanh nghiệp: Đẩy mạnh sự tuân thủ luật pháp quốc gia; Bảo đảm cho
các doanh nghiệp thực hiện được các mục tiêu kinh doanh lâu dài, bền vững và tăng khả
năng cạnh tranh trong quá trình hội nhập; Xây dựng mối quan hệ lao động hài hòa, giảm
các rủi ro trong kinh doanh quốc tế như tranh chấp thương mại, bán phá giá,… Do đó,
doanh nghiệp thực hiện CSR không đơn thuần mang lại lợi ích kinh tế mà còn có lợi ích
xã hội và chính trị. Bên cạnh, mặt tích cực thì doanh nghiệp thực hiện CSR theo các Bộ
Quy tắc cũng gặp phải không ít khó khăn.
Hiện nay trên thế giới có trên 2000 Bộ Quy tắc ứng xử, chia làm ba nhóm chính:
-Quy tc ng x c chc quc t ISO, Công ước ILO, GC, OECD.
ĐH Bách Khoa Hà Nội Văn Hóa Kinh
Doanh
201411
-Quy tc ng x ca c chc hip h
ngh: Bộ Quy tắc ứng xử của Nike (Tập đoàn thể thao), Adidas (Tập đoàn thời trang),
FTA (Hiệp hội Ngoại thương).
-Quy tc ng x c chc lp như: SAI (Tổ chức Trách nhiệm xã hội
Quốc tế), FLA (Nhượng quyền Thương mại)
-Các doanh nghiệp sẽ cần thu thập đầy đủ các thông tin để lựa chọn thực hiện Bộ
Quy tắc ứng xử nào phù hợp nhất với doanh nghiệp của mình. Bộ luật ứng xử BSCI: ra
gốc dân tộc và quốc gia, quốc tịch, thành viên trong tổ chức của người lao động, bao
gồm các hiệp hội, sự gia nhập chính trị, định hướng giới tính hoặc bất cứ một đặc
điểm cá nhân nào khác.
Đền bù: Lương trả cho giờ làm việc thông thường, giờ làm thêm và các chênh lệch
thêm giờ sẽ phải đạt đến hoặc vượt qua lương tối thiểu và/ hoặc các tiêu chuẩn ngành.
Không được khấu trừ lương trái phép hoặc không đúng quy định. Trong các trường
hợp lương theo quy định của pháp luật hoặc theo tiêu chuẩn ngành không đủ để chi
trả chi phí sinh hoạt và cung cấp thu nhập cho các chi phí phát sinh, các công ty cung
ứng sẽ cố gắng để cung cấp cho nhân viên một khoản bồi thường đủ để chi trả cho
các nhu cầu này. Cấm khấu trừ lương dưới dạng biện pháp kỷ luật. Các công ty cung
ứng phải đảm bảo rằng lương và các cơ cấu quyền lợi được liệt kê chi tiết một cách rõ
ràng và thường xuyên cho người lao động; công ty cung ứng cũng sẽ phải đảm bảo
rằng lương và các quyền lợi đó được thực hiện và tuân thủ đầy đủ các luật thích hợp
và việc trả thù lao đó sẽ được thực hiện theo cách thuận tiện cho người lao động.
Giờ làm việc: Công ty cung ứng phải tuân thủ các luật quốc gia thích hợp cũng như
các tiêu chuẩn ngành về giờ làm việc. Giờ làm việc tối đa cho phép trong một tuần
được quy định bởi luật quốc gia sẽ không được vượt quá 48 giờ và số giờ làm thêm
tối đa cho phép trong một tuần không được vượt quá 12 giờ. Giờ làm thêm chỉ được
phép làm dựa trên cơ sở tình nguyện và được trả lương ở mức tốt nhất. Mỗi người lao
động được phép có ít nhất một ngày nghỉ sau sáu ngày làm việc liên tục.
Y tế và An toàn nơi làm việc: Một tập hợp rõ ràng các quy định và thủ tục phải được lập
ra và tuân thủ theo đối với vấn đề y tế và an toàn nơi làm việc, đặc biệt là dự phòng và sử
dụng thiết bị bảo hộ cá nhân, phòng tắm sạch sẽ, có thể sử dụng nước uống được và nếu
được cần cung cấp các thiết bị vệ sinh an toàn cho kho lưu trữ thực phẩm. Cấm các quy
định và các điều kiện trong phòng ngủ vi phạm các quyền cơ bản của con người. Đặc biệt
ĐH Bách Khoa Hà Nội Văn Hóa Kinh
Doanh
2014
ĐH Bách Khoa Hà Nội Văn Hóa Kinh
Doanh
201414
Các Hệ thống quản lý: Công ty cung ứng sẽ đặt ra và thực hiện một chính sách đối
với khả năng chịu trách nhiệm về mặt xã hội, một hệ thống quản lý để đảm bảo rằng
các yêu cầu của Bộ luật ứng xử BSCI có thể được thiết lập và tuân thủ chính sách
chống hối lộ/ chống tham nhũng trong tất cả các hoạt động kinh doanh của họ. Ban
quản lý phải chịu trách nhiệm về việc thực hiện đúng và cải thiện liên tục bằng cách
thực hiện các biện pháp sửa chữa và đánh giá định kỳ về Bộ Luật ứng xử cũng như
việc trao đổi thông tin về các yêu cầu của Bộ Luật ứng xử cho mọi người lao động.
Cũng cần phải chỉ rõ những mối quan tâm về việc tuân thủ Bộ Luật ứng xử này của
người lao động.
Thực hiện "Trách nhiệm xã hội của Doanh nghiệp Việt Nam"
2
là sự cần thiết
khách quan trong quá trình hội nhập, tuy nhiên đây là vấn đề rất mới và trên thực tế
nhiều khi có sự nhận thức và vận dụng rất khác nhau. Bởi vậy, theo nghiên cứu của
các chuyên gia Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, để áp dụng Trách nhiệm xã hội vào
các doanh nghiệp Việt Nam cần thiết phải có nhận thức đúng và lưu ý các điểm sau:
**. Trước hết cần khẳng định là việc gắn tiêu chuẩn lao động với thương mại
quốc tế đã không được thừa nhận tại WTO cũng như các diễn đàn quốc tế khác. Bởi
vậy, các CoC không phải là các công ước quốc tế, cũng không phải thoả thuận giữa
chính phủ với chính phủ mà chỉ là thoả thuận giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp
(bên bán và bên mua hàng hoá, dịch vụ).
**. Các CoC không thay thế, không đứng trên luật quốc gia. Việc thực hiện các
trước và trong khi làm ra sản phẩm, chứ không phải là một đóng góp cuả doanh nghiệp
mang tính chất nhân đạo, từ thiện được trích ra từ lợi nhuận của doanh nghiệp sau khi đã bán
sản phẩm.
**Nếu CSR và CoC được hiểu đúng và thực hiện đúng, phù hợp với luật pháp quốc
gia thì việc thực hiện CSR chính là một việc làm mà các bên đều có lợi: thứ nhất là uy tín và
tính cạnh tranh của doanh nghiệp được tăng lên; thứ hai là quyền lợi và nhân phẩm của
người lao động được bảo đảm tốt hơn; và thứ ba là việc thực hiện luật pháp quốc gia cũng
được tốt hơn, tính cạnh tranh của cả nền kinh tế cũng cao hơn, môi trường đầu tư tốt hơn.
** . Việc thực hiện Trách nhiệm xã hội chính là việc cụ thể hoá một số quy định
chính của Bộ luật Lao động và một số văn bản luật pháp khác chứ không đồng nghĩa với
việc doanh nghiệp phải lấy chứng chỉ nào đó. Việc đi lấy một chứng chỉ của một bộ tiêu
chuẩn cụ thể nào đó sự lựa chọn và tự quyết định của doanh nghiệp trong quan hệ với bạn
hàng.
ĐH Bách Khoa Hà Nội Văn Hóa Kinh
Doanh
201416
**. Cơ sở luật pháp, hệ thống thiết chế của Việt Nam có thể thực hiện được mục
tiêu của CSR hay của các CoC sao cho phù hợp với luật pháp của Việt Nam và hài hoà lợi
ích của các bên tham gia.
Như vậy, việc đưa ra các công cụ thực hiện CSR đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp
thực hiện nghiêm túc và có hiệu quả hơn trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
mình.
4. giải pháp và kiến nghị về việc thực hiện trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp
a) Giải pháp
Theo nhiều chuyên gia kinh tế, để thực hiện trách nhiệm xã hội doanh nghiệp thực sự
ĐH Bách Khoa Hà Nội Văn Hóa Kinh
Doanh
201418
B. Vấn đề về môi trường
Phần 1. Thực trạng:
Trong bối cảnh Việt Nam hội nhập ngày càng sâu với kinh tế khu vực và thế giới, các
doanh nghiệp Việt Nam buộc phải có quan hệ với các đối tác nước ngoài, phải thực hiện
những quy định về môi trường, về TNXH theo quy chuẩn quốc tế như Tiêu chuẩn trách
nhiệm xã hội SA 8000 và WRAP; Hệ thống quản trị môi trường ISO 14000; Hệ thống quản
lý an toàn và sức khoẻ OHSAS 18001… Thời gian qua, cùng với sự phát triển kinh tế, Việt
Nam đang chịu nhiều hậu quả của biến đổi khí hậu và vấn đề ô nhiễm môi trường tại các khu
đô thị, khu công nghiệp, làng nghề, các lưu vực sông trên cả nước. Vấn đề ô nhiễm đã trở
thành các chủ đề nóng và luôn là mối quan tâm của toàn xã hội bởi tính chất vi phạm rất
19
Việt Nam cũng cần bắt kịp với xu hướng này, nhất là trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
mạnh mẽ như hiện nay…”5.Trong cấu thành giá sản phẩm, đặc biệt là các sản phẩm của các
tập đoàn lớn đã có tính đến 10% chi phí cho thực hiện trách nhiệm môi trường. Vì vậy, triển
khai quy định về sản phẩm thải bỏ là rất cần thiết, Việt Nam cần nhanh chóng áp dụng và
sửa đổi dần căn cứ theo nhu cầu thực tiễn.
Ô nhiễm nước ở nông thôn và khu vực sản xuất nông nghiệp cũng rất nghiêm trọng,
gần 75% số dân Việt Nam sinh sống ở nông thôn, với cơ sở hạ tầng phần lớn lạc hậu, các
chất thải của con người và gia súc không được xử lý, thấm xuống đất hoặc bị rửa trôi, làm
cho tình trạng ô nhiễm nguồn nước về hữu cơ và sinh vật không ngừng tăng cao. Nhiều nơi
do các hộ dân nuôi trồng thuỷ sản ồ ạt, thiếu quy hoạch, các khu chế biển thuỷ hải sản đông
lạnh không tuân theo quy trình kỹ thuật đã gây ra nhiều tác động tiêu cực tới môi trường
nước. Một phần khiến môi trường nước ở nông thôn bị ô nhiễm do người nông dân dùng
không đúng cách và không hợp lý các hoá chất nông nghiệp (thuốc trừ sâu, thuốc diệt
cỏ,….) thiếu các phương tiện vệ sinh cơ sở hạ tầng phục vụ sinh hoạt nên số hộ gia đình
dùng nước đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh chỉ đạt khoảng 30%- 40%, và chỉ có khoảng 20%-
30% số hộ sử dụng công trình vệ sinh đạt tiêu chuẩn.
Cùng với sự phát triển của các làng nghề, hậu quả về môi trường do các hoạt động sản
xuất làng nghề đưa lại cũng ngày càng nghiêm trọng. Tình trạng ô nhiễm không khí, chủ yếu
là do nhiên liệu sử dụng trong các làng nghề là than, lượng bụi và khí CO, CO2, SO2 và Nox
thải ra trong quá trình sản xuất khá cao. Theo thống kê của Hiệp hội Làng nghề Việt Nam,
hiện nay cả nước có 2.790 làng nghề, trong đó có 240 làng nghề truyền thống, đang giải
quyết việc làm cho khoảng 11 triệu lao động, bao gồm cả lao động thường xuyên và lao
động không thường xuyên. Tuy nhiên, do sản xuất mang tính tự phát, hộ sản xuất sử dụng
phương tiện thủ công lạc hậu, chắp vá, mặt bằng sản xuất chật chội, việc đầu tư xây dựng hệ
thống xử lý nước thải ít được họ quan tâm, ý thức bảo vệ môi trường sinh thái của người dân
làng nghề còn kém. Bên cạnh đó chúng ta đang thiếu cơ chế quản lý, giám sát của các cơ
quan chức năng của Nhà nước, chưa có những chế tài đủ mạnh đối với những hộ làm nghề
động kinh tế, các quy trình kỹ thuật, quy trình sử dụng nguyên liệu trong sản xuất. Tuy
nhiên, hệ thống các văn bản này vẫn còn chưa hoàn thiện, thiếu đồng bộ, thiếu chi tiết, tính
ổn định không cao, tình trạng văn bản mới được ban hành chưa lâu đã phải sửa đổi, bổ sung
là khá phổ biến, từ đó làm hạn chế hiệu quả điều chỉnh hành vi của các cá nhân, tổ chức, các
hoạt động kinh tế. Đó là chưa kể đến văn bản quá nhiều, rất dễ dàng gây sự hiểu lầm trong tổ
chức, thực hiện ở cấp dưới.
2. quyền hạn pháp lý của các tổ chức bảo vệ môi trường, nhất là của lực lượng cảnh
sát môi trường chưa thực sự đủ mạnh, nên đã hạn chế hiệu quả hoạt động nắm tình hình,
phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường. Các cơ
sở pháp lý, chế tài xử phạt đối với các loại hành vi gây ô nhiễm môi trường và các loại tội
phạm về môi trường vừa thiếu, vừa chưa đủ mạnh, dẫn đến hạn chế tác dụng giáo dục,
phòng ngừa, răn đe đối với những hành vi xâm hại môi trường. Điển hình như vụ vi phạm
pháp luật về môi trường của Công ty Vedan (Đồng Nai) làm ảnh hưởng đến đời sống lâu dài
của người dân, nhưng Công ty cũng chỉ phải nộp hành chính 267,5 tỷ đồng và nộp truy thu
tiền phí bảo vệ môi trường là hơn 127,2 tỷ đồng mà không hề bị xử lý hình sự. Hay vụ Công
ty cổ phần Men thực phẩm Mauri La Ngà (Đồng Nai), nước thải công ty gây chết cá bè,
hàng trăm người dân kéo đến công ty yêu cầu ngừng xả thải. Cảnh sát môi trường, Công an
Đồng Nai phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường, UBND huyện Định Quán kiểm tra, xử
phạt 32 triệu đồng và tạm đình chỉ hoạt động của công ty để xử lý môi trường. Tại Hải
Phòng, nhà máy chế biến khoáng sản (thuộc Công ty cổ phần Kinh doanh chế biến hàng xuất
khẩu Đà Nẵng) xả chất thải gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng cuộc sống người dân nhưng
chưa bị xử lý…
3. các cấp chính quyền chưa nhận thức đầy đủ và quan tâm đúng mức đối với công
tác bảo vệ môi trường, dẫn đến buông lỏng quản lý, thiếu trách nhiệm trong việc kiểm tra,
giám sát về môi trường. Điển hình là sự kiện Công ty Vedan bị bắt quả tang xả thẳng nước
thải chưa xử lý vào sông Thị Vải liên tục 14 năm, chỉ thực sự bị xử lý khi đã “giết chết”
ĐH Bách Khoa Hà Nội Văn Hóa Kinh
Doanh
2014
nghiệp phát triển bền vững. Chính Phủ cần xây dựng các chương trình trọng điểm, đề án
quốc gia như thúc đẩy chương trình vệ sinh, an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường để
thông qua đó, các doanh nghiệp phải nỗ lực tham gia. Có chế độ khen thưởng, ưu đãi đối với
các doanh nghiệp thực hiện tốt TNXH cũng như lên án, xử phạt và có biện pháp mạnh khi
các doanh nghiệp trốn tránh nghĩa vụ, trách nhiệm với cộng đồng.
- Chính Phủ cần giao cho các Bộ, Ban, Ngành có kế hoạch truyền thông, tuyên truyền,
phổ biến rộng rãi, làm cho tất cả các doanh nghiệp, trước hết là các chủ doanh nghiệp hiểu
về TNXH của doanh nghiệp. Điều quan trọng là, làm sao để việc thực hiện TNXH của
ĐH Bách Khoa Hà Nội Văn Hóa Kinh
Doanh
201422
doanh nghiệp trở thành động cơ bên trong của các doanh nghiệp, được xem là hành vi đạo
đức và được điều khiển bằng động cơ đạo đức từ những người đứng đầu doanh nghiệp. Tổ
chức các cuộc thi tìm hiểu về TNXH, đặc biệt là vấn đề ô nhiễm môi trường, biện pháp khắc
phục, bài học kinh nghiệm từ các quốc gia khác trên thế giới…
- Cuộc bình chọn và trao giải “Doanh nghiệp thực hiện tốt trách nhiệm xã hội” do
VCCI chịu trách nhiệm cần được phổ biến rộng rãi, quy định cụ thể các tiêu chí xét thưởng
để các doanh nghiệp phấn đấu. Doanh nghiệp được nhận thưởng sẽ được cấp chứng nhận về
thực hiện tốt TNXH trên các sản phẩm, dịch vụ của mình.
- Nâng cao nhận thức cho khách hàng, khuyến khích người tiêu dùng chỉ sử dụng
những sản phẩm, dịch vụ rõ ràng về nguốn gốc, được kiểm định và các sản phẩm có chứng
nhận doanh nghiệp thực hiện tốt TNXH. Xúc tiến thành lập Hiệp hội người tiêu dùng Việt
Nam với tôn chỉ là bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng; thúc đẩy doanh nghiệp sản xuất,
kinh doanh sản phẩm sạch, chất lượng cao và an toàn, không gây ô nhiễm; không mua hàng
hoá của những doanh nghiệp không thực hiện tốt các nội dung cơ bản của TNXH, trong đó
thải, độ bụi… Như vậy, doanh nghiệp buộc phải có kế hoạch và lộ trình thực hiện nghiêm
túc vấn đề chống ô nhiễm môi trường mới được cấp Giấy phép kinh doanh.
3. nhóm giải pháp về đầu tư cơ sở hạ tầng chống ô nhiễm môi trường
- Nhà nước cần có lộ trình cụ thể quy hoạch các làng nghề, cần huy động sức mạnh trí
tuệ của các chuyên gia trong và ngoài nước chuyên nghiên cứu về ô nhiễm môi trường để có
giải pháp xử lý tình trạng ô nhiễm môi trường một cách hợp lý. Trong trường hợp hoạt động
sản xuất ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe cộng đồng, Chính phủ cần làm công tác tư
tưởng, vận động người dân nhận thức rõ mức độ nguy hại của nó đến an toàn tính mạng con
người và có chiến lược hỗ trợ họ chuyển đổi ngành nghề kinh doanh khác để đảm bảo cuộc
sống, tinh thần, tư tưởng cho người lao động.
- Mỗi khu công nghiệp Chính Phủ cần ưu tiên đầu tư xây dựng hệ thống các công trình
xử lý chất thải, nước thải như đưa vào vận hành nhà máy xử lý chất thải nguy hại với công
suất lớn, đảm bảo cho các khu chế xuất, khu công nghiệp và khu công nghệ cao vận hành và
xử lý 100% nước thải đạt tiêu chuẩn môi trường trước khi thải ra ngoài; đặc biệt là đảm bảo
100% chất thải rắn đô thị được thu gom và xử lý hợp vệ sinh… Tại hệ thống xử lý nước thải
tập trung của khu công nghiệp phải được lắp đặt trạm quan trắc chất lượng nước tự động để
việc kiểm soát thực sự hiệu quả và chặt chẽ.Thay mới hoặc tu sửa mạng lưới quan trắc chất
lượng không khí và nước mặt của khu công nghiệp, các thành phố lớn. Mỗi thành phố lớn,
khu
công nghiệp cần xây dựng trung tâm quan trắc và phân tích môi trường có quy mô hiện
đại để thuận lợi cho việc lấy mẫu, phân tích kiểm tra xác định hành vi vi phạm gây ô nhiễm
môi trường của các doanh nghiệp một cách chính xác, khách quan để có cơ sở khoa học làm
căn cứ pháp lý khi xử lý các doanh nghiệp này.
- Chính phủ nên giao cho Bộ Tài nguyên và Môi trường cùng Bộ Lao động- Thương
binh và Xã hội, Ngân hàng Nhà nước cùng xây dựng cơ chế, chính sách ưu tiên cho các
doanh nghiệp vay vốn với lãi suất ưu đãi để đầu tư công nghệ thân thiện với môi trường, đầu
tư mua sắm phương tiện xử lý rác thải, nước thải và khí thải, đầu tư thực hiện các tiêu chuẩn
môi trường quốc tế và các bộ CoC quốc tế về quản lý môi trường (ISO 14000, …) dưới sự
giám sát chặt chẽ của Chính Phủ.
Trong thời đại toàn cầu hóa, uy tín doanh nghiệp không phải chỉ tác động đến bản thân
ĐH Bách Khoa Hà Nội Văn Hóa Kinh
Doanh
201425
Kết luận.
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là vấn đề tương đối mới mẻ với Việt Nam. Song,
trong những năm gần đây, trước thảm họa về môi trường và những hậu quả tiêu cực về xã
hội do các doanh nghiệp gây ra, vấn đề trách nhiệm xã hội được đặt ra một cách cấp bách. Ở
Việt Nam, việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp hoàn toàn phù hợp với mục
tiêu của chiến lược phát triển bền vững. Để thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở
Việt Nam, thì việc tuyên truyền, giáo dục trách nhiệm xã hội và việc hoàn thiện hành lang
pháp lý để thực hiện nó là việc làm cấp thiết.
Trong giai đoạn toàn cầu hóa hiện nay, vai trò của CSR ngày càng quan trọng trong
hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. CSR là công cụ hữu hiệu để các doanh nghiệp
nâng cao chất lượng, giá trị, tăng doanh thu của doanh nghiệp. Tuy nhiên, một số doanh
nghiệp chưa hiểu biết, nắm rõ được quy trình đưa CSR vào doanh nghiệp nên cũng gặp
những thất bại. Sự thành công của P&G, CSC, Intel, … là bằng chứng cho việc thực hiện
CSR có hiệu quả. Hay sự sụp đổ của tập đoàn Tam Lộc là hệ quả của những việc làm vô
trách nhiệm, thiếu đi đạo đức của nhà doanh nghiệp.
Thực hiện Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Việt Nam là một công việc không thể
bỏ qua trên con đường hội nhập, vừa lợi ích cho doanh nghiệp, vừa lợi ích cho xã hội, đặc