Luan Van-vai trò và chính sách lãi suất trong điều tiết vĩ mô nền kinh tế - Pdf 10

TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Có thể nói việc điều chỉnh ổn định và phát triển nền kinh tế của đất nước là một
mục tiêu quan trọng nhất của các nước trên thế giới - thông qua việc sử dụng các
công cụ của chính sách tiền tệ. Trong đó, Lãi Suất là một trong những công cụ điều
hành chính sách tiền tệ để đạt được mục tiêu đó.
Lãi suất là tỷ lệ mà theo đó tiền lãi được người vay trả cho việc sử dụng tiền mà
họ vay từ một người cho vay. Cụ thể, lãi suất là phần trăm tiền gốc phải trả cho một
số lượng nhất định của thời gian mỗi thời kỳ (thường được tính theo năm). Lãi suất
thường được thể hiện như một tỷ lệ phần trăm của tiền gốc trong một khoảng thời
gian một năm.
Quan tâm đến vấn đề kinh tế, chúng ta không ai có thể phủ nhận lãi suất là một
công cụ sắc bén trong điều hành kinh tế vĩ mô. Song sử dụng công cụ lãi suất cũng
giống như sử dụng một con dao hai lưỡi. Muốn điều hành nền kinh tế có hiệu quả,
đòi hỏi phải nắm bắt, nghiên cứu kỹ lưỡng lãi suất, nếu không nó sẽ đem lại những
kết quả ngoài dự kiến. Với mong muốn được hiểu thêm về những ảnh hưởng của lãi
suất đối với nền kinh tế vĩ mô, chúng em chọn đề tài:
“ VAI TRÒ VÀ CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT TRONG ĐIỀU TIẾT VĨ MÔ ĐỐI VỚI
NỀN KINH TẾ”
2. Mục đích nghiên cứu:
- Phân tích được vai trò và chính sách của lãi suất có ảnh hưởng như thế nào đến nền
kinh tế nước ta hiện nay đặc biệt là trong điều tiết vĩ mô từ đó có thể rút ra những suy
nghĩ đúng đắn về vấn đề này
- Có được thêm những kiến thúc bổ ích về sự biến động của lãi suất để có những
quyết định đúng đắn đối với sự phát triển của kinh tế của đất nước.
Trong quá trình làm bài tiểu luận môn này, tuy đuợc sự huớng dẫn tận tình của
thầy và sự rất cố gắng của nhóm nhưng do kiến thức có hạn nên chúng em không thể
nào tránh khỏi một số sai sót. Kính mong thầy xem xét và bổ sung để chúng em có
thể hoàn thiện về đề tài này hơn.
Chúng em xin chân thành cảm ơn!

khấu được trả trước cho ngân hàng chứ không trả sau như lãi suất tín dụng thông
thường.
- Lãi suất tái chiết khấu: áp dụng khi ngân hàng trung ương cho các ngân hàng trung
gian vay dưới hình thức chiết khấu lại thương phiếu hoặc giấy tờ có giá ngắn hạn
chưa đến hạn thanh toán của các ngân hàng này. Nó cũng được tính bằng tỷ lệ phần
trăm trên mệnh giá của giấy tờ có giá và cũng được khấu trừ ngay khi ngân hàng
trung ương cấp tiền vay cho ngân hàng.
Lãi suất tái chiết khấu do ngân hàng trung ương ấn định căn cứ vào mục tiêu, yêu
cầu của chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ và chiều hướng biến động lãi suất trên
thị trường liên ngân hàng.
- Lãi suất liên ngân hàng: là lãi suất mà các ngân hàng áp dụng khi cho nhau vay trên
thị trường liên ngân hàng. Lãi suất liên ngân hàng được hình thành qua quan hệ cung
cầu vốn vay trên thị trường liên ngân hàng và chịu sự chi phối bởi lãi suất cho các
ngân hàng trung gian vay của ngân hàng trung ương. Mức độ chi phối này phụ thuộc
vào sự phát triển của hoạt động thị trường mở và tỷ trọng sử dụng vốn vay ngân hàng
trung ương của các ngân hàng trung gian.
- Lãi suất cơ bản: là lãi suất được các ngân hàng sử dụng làm cơ sở để ấn định mức
lãi suất kinh doanh của mình.
Lãi suất cơ bản được hình thành khác nhau tuỳ từng nước, nó có thể do Ngân hàng
trung ương ấn định (như ở Nhật - là mức lãi suất cho vay thấp nhất); hoặc có thể do
bản thân các ngân hàng tự xác định căn cứ vào tình hình hoạt động cụ thể của ngân
hàng mình (ở Mỹ, Anh, Úc - đó là mức lãi suất áp dụng cho khách hàng có mức rủi
ro thấp nhất)….Mặc dù khác nhau, lãi suất cơ bản của hầu hết các nước đều hình
thành trên cơ sở thị trường và có một mức lợi nhuận bình quân cho phép. Khi áp
dụng đối với các đối tượng có mức rủi ro khác nhau, mức lãi suất kinh doanh sẽ khác
nhau vì sự biến động của mức bù rủi ro.
b) Căn cứ vào giá trị thực của tiền lãi thu được
- Lãi suất danh nghĩa (Nominal interest rate): là lãi suất tính theo giá trị danh nghĩa
của tiền tệ vào thời điểm xem xét hay nói cách khác là loại lãi suất chưa loại trừ đi tỷ
lệ lạm phát. Lãi suất danh nghĩa thường được công bố chính thức trong các hợp đồng

quốc gia nào thì lãi suất của thị trường quốc gia đó trở thành lãi suất quốc tế
3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN LÃI SUẤT
Trong các nền kinh tế thị trường, Nhà nước đóng vai trò là người điều tiết vĩ mô,
thị trường tài chính hoạt động theo cơ chế tự do hoá, cơ chế hình thành lãi suất là cơ
chế thị trường. Lãi suất vì vậy mà chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố kinh tế vĩ mô
cũng như nhiều các nhân tố khác.
a) Ảnh hưởng của cung - cầu tiền tệ
Đây là nhân tố tác động trực tiếp đến việc hình thành lãi suất trên thị trường .
Cung tiền tệ là tổng thể tiền tệ được sử dụng để thanh toán trên thị trường .Cầu tiền tệ
là nhu cầu về tiền của các đơn vị ,cá nhân ,tổ chức để làm phương tiện giao dịch ,trao
4
TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
đổi hàng hoá ,dịch vụ … Lãi suất cân bằng được xác định là giao điểm của đường
cung và cầu tiền
Nhà nước có thể tác động vào mức cung và cầu tiền tệ này và không chế lãi suất
để thực hiện các mục tiêu kinh tế và xã hội của mình .Giả sử khi Chính phủ , Ngân
hàng TW lo sợ nền kinh tế có nguy cơ bị suy thoái thì NHTW sẽ tằng mức cung tiền
bằng cách bơm tiền vào lưu thông và lãi suất sẽ có xu hướng giảm .Còn khi nền kinh
tế phát triển quá nóng và có thể xảy ra lạm phát thì nhà nước sẽ thực hiện các biên
pháp nhằm làm giảm lượng cung tiền và khi đó lãi suất sẽ tăng lên . Như vậy qua đây
chúng ta có thể thấy được mức cung cầu tiền tệ trên thị trường là nhân tố hình thành
và hưởng rất lớn đến thay đổi lãi suất tín dụng trên thị trường .
b) Ảnh hưởng của lạm phát
Có thể nói rằng là lạm phát là một trong những nhân tố chủ chốt ảnh hưởng đến
lãi suất tín dụng .Lạm phát là một hiện tượng của tiền tệ ,chính bởi vậy chúng ta
không thể tránh khỏi nó mà chỉ có kiềm chế nó ở mức ít hay nhiều . Vậy ở đây lạm
phát có ảnh hưởng như thế nào đến lãi suất ? Khi lạm phát tăng lên một trong những
biện pháp của Nhà nước để giảm phát chính là áp dụng các biện phát để hút bớt
lượng tiền lưu thông về .Đồng thời các cá nhân ,tổ chức trong nền kinh tế đang nắm
dữ lượng vốn ,tiền cũng sẽ không dám cho vay do lo sợ đồng vốn của mình sẽ bị mất

chứng khoán. Mọi người đều quan tâm đến thu nhập thực tế hơn là thu nhập danh
nghĩa. Do vậy, để duy trì một mức lợi nhuận thực tế nhất định, họ phải cộng thêm vào
lãi suất cho vay những thay đổi của thuế.
g) Ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái kỳ vọng
Khi đồng nội tệ yếu, bị những sức ép lớn do những dao động của các đồng ngoại
tệ mạnh thì tâm lý phổ biến của người dân là coi ngoại tệ mạnh như một trong những
loại tài sản tiết kiệm an toàn. Chẳng hạn, khi hiện tượng đô la hoá xảy ra, người dân
sẽ ồ ạt chuyển sang tiết kiệm bằng ngoại tệ cụ thể là đô la Mỹ. Làm như vậy người
gửi hưởng lợi kép gồm lãi suất tiền gửi và sự lên giá của đồng đô la Mỹ. Sự chuyển
dịch này tạo ra sự khan hiếm nội tệ ở các NHTM và buộc các ngân hàng này phải
tăng lãi suất tiền gửi đồng nội tệ để huy động cho vay nền kinh tế. Như vậy, khi xây
dựng chính sách lãi suất cần phải xem xét đến khía cạnh tỷ giá để giảm bớt mức
chênh lệch giữa lợi tức lãi suất tiền gửi nội tệ và ngoại tệ hay lãi suất cho vay nội tệ
và ngoại tệ. Điều này giúp giảm bớt sự dịch chuyển không mong đợi từ tiền gửi nội tệ
sang đô la khi đồng đô la lên giá.
h) Những thay đổi trong đời sống xã hội:
6
TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
Ngoài những yếu tố trên, sự thay đổi của lãi suất còn chịu ảnh hưởng của các yếu
tố thuộc về đời sống xã hội khác như tình hình về kinh tế, chính trị cũng như những
biến động tài chính quốc tế như các cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trên thế giới,
các luồng vốn đầu tư ra vào đối với các nước
CHƯƠNG II: VAI TRÒ CỦA LÃI SUẤT TRONG ĐIỀU TIẾT VĨ MÔ ĐỐI
VỚI NỀN KINH TẾ
1 LÃI SUẤT LÀ CÔNG CỤ ĐIỀU TIẾT VĨ MÔ
Đối với ngân hàng nhà nước thì lãi suất là công cụ điều tiết vĩ mô. Sự biến động
của lải suất trong quá trình điều chỉnh của Ngân hang Nhà nuớc tác động đến nhiều
mặt của nền kinh tế như đầu tư, tiêu dung, tiết kiệm, tỉ giá…qua đó ảnh hưởng trực
tiếp đến các mục tiêu kinhtế vĩ mô củađất nước.
Trong nền kinh tế thị trường, người tiêu dung và các doanh nghiệp có thể tiến

nhạy bén trong điều hành kinh tế vĩ mô mà lạm phát bùng phát ở “đỉnh điểm” vào
cuối quí I/2008 với mức tăng giá tiệm cận tới 20%. Điều này như một cảnh báo về
tính bức xúc của việc điều chỉnh chính sách kinh tế vĩ mô của Chính phủ, mà trong
đó, chính sách tiền tệ là tiêu điểm.
Lý luận và thực tiễn đã thừa nhận mối quan hệ chặt chẽ giữa lãi suất và lạm phát.
Hiệu ứng Fisher cho rằng có mối quan hệ một – một giữa tỷ lệ lạm phát và lãi suất
danh nghĩa. Những năm có tỷ lệ lạm phát cao tương ứng với lãi suất danh nghĩa cao
Biểu đồ: biến động tỷ lệ lạm phát và lãi suất danh nghĩa
(Nguồn: Báo cáo thường niên Ngân hàng Nhà nước các năm 2004 – 2010, Tổng cục
thống kê ).
Những nước có lạm phát cao thường cũng có xu hướng lãi suất danh nghĩa
cao.Lạm phát là hiện tượng mất giá của đồng tiền, là tình trạng tăng liên tục mức giá
chung của nền kinh tế do nhiều nguyên nhân khác nhau. Do vậy tuy có nhiều biện
pháp khác nhau để kiểm soát lạm phát, nhưng giải pháp về
lãi suất có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Trong thời kỳ lạm phát, tăng lãi suất sẽ cho phép hệ thống ngân hàng có thể thu hút
phần lớn số tiền có nhiều trong lưu thông khiến cho đồng tiền trong lưu thông g
8
TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
iảm, cơ số tiền và lượng tiền cung ứng giảm, lạm phát được kiềm chế. Như vậy, lãi su
ất cũng góp phần chống lạm phát.
Tuy nhiên,việc sử dụng công cụ lãi suất trong chống lạm phát không thể duy trì lâu
dài vì lãi suất tăng sẽlàm giảm đầu tư, giảm tổng cầu và làm giảm sản lượng. Do vậy l
ãi suất phải được sử dụng kết hợp với các công cụ khác thì mới có thể kiểm soát
được lạm phát, ổn định giá cả, ổn định đồng tiền. Một chính sách lãi suất phù hợp là
sự cần thiết cho sự phát triển lành mạnh của nền kinh tế.
9
TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
4. ẢNH HƯỞNG CỦA LÃI SUẤT ĐẾN TIÊU DÙNG, TIẾT KIỆM VÀ ĐẦU


lãi suất cho vay của NHTM tăng sẽ đẩy chi phí đầu vào và giá thành sản phẩm tăng
lên, làm suy giảm lợi nhuận cũng như khả năng cạnh tranh của DN, gây ra tình trạng
thua lỗ, phá sản trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Xu hướng tăng lãi suất Ngân
10
TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
hàng sẽ luôn đi liền với xu hướng cắt giảm, thu hẹp quy mô và phạm vi của các hoạt
động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế. Ngược lại, khi lãi suất Ngân hàng giảm
sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiep giảm chi phí, hạ giá thành, nâng cao hiệu quả kinh
doanh và khả năng cạnh tranh. Lãi suất cho vay thấp luôn là động lực khuyến khích
các DN mở rộng đầu tư, phát triển các hoạt động sản xuất kinh doanh và qua đó kích
thích tăng trưởng trong toàn bộ nền kinh tế.
Mặt khác, lãi suất là căn cứ để các chủ thể kinh tế lựa chọn đầu tư. Doanh nghiệp
chi kinh doanh khi tỷ suất lợi nhuận cao hơn lãi suất tín dụng. Cá nhân chi gửi tiết
kiệm khi lãi suất đem lại cao hơn món đầu tư khác và cao hơn tỷ lệ lạm phát. Như
vậy lãi suất tín dụng làm thay đổi tỷ lệ giữa tích luỹ và tiêu dung của doanh nghiệp và
cá nhân, đồng nghĩa với việc họ mở rông hay thu hẹp đầu tư.
11
TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
CHƯƠNG III: THỰC TRẠNG , CHÍNH SÁCH VÀ GIẢI PHÁP
1 THỰC TRẠNG VÀ CÁC CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT TRONG NỀN KINH TẾ
VĨ MÔ CỦA NƯỚC TA HIỆN NAY
a) Thực Trạng
Vn hiện nay đang trên con đường thị trường hóa và hướng ngoại nền kinh tế. Tốc
độ và sự thành công trong các chính sách kinh tế phục vụ tăng trưởng phụ thuộc quan
trọng vào sự điều tiết và cân đối vĩ mô của chính phủ. Để điều tiết và định hướng nền
kinh tế, nhà nước không thể không lấy công cụ lãi suất và kiểm soát lượng cung tiền
tệ. Những chính sách khác nhau được đưa ra vào những thời điểm khác nhau đã có
những tác động to lớn tới nền kinh tế.
- Lãi suất VN từ sau đổi mới đến năm 2000.
Sau hơn 10 năm đổi mới, chính sách lãi suất của VN đã góp phần thực hiện tốt các

chỉnh
Thời điểm Trần lãi suất cho
vay ngắn hạn
Trần lãi suất cho
vay trung và dài
hạn
191/QĐ-NH1 15/07/1996 1,60 1,65
255/QĐ-NH1 27/08/1996 1,50 1,55
266/QĐ-NH1 27/09/1996 1,25 1,35
197/QĐ-NH1 28/06/1997 1,00 1,25
39/QĐ-NH1 17/01/1998 1,20 1,25
Lãi suất cho vay năm 1996 đã được điều chỉnh theo hướng giảm mạnh đã giúp
cho các doanh nghiệp giảm được chi phí và giá thành trong việc vay vốn cho sản xuất
kinh doanh, đồng thời mạnh dạn hơn trong thực hiện các dự án cho vay, đầu tư phát
triển và đổi mới công nghệ.
Tuy nhiên, trước khi NHNN chính thức công bố lãi suất trần, các ngân hàng
thương mại đã tiến hành điều chỉnh hạ thấp lãi suất cho vay để tăng cường thu hút
khách hàng. Hiện tượng này diễn ra âm thầm, tự phát .Điều này đẵ dẫn tới tình trạng
lãi suất ở khu vực nông thôn, nơi cần nhiều sự giúp đỡ lại cao hơn. Đây chính là một
trong những bất cập đòi hỏi chính sách lãi suất cần phải được xem xét.
Năm 1998, hệ thống ngân hàng thực sự phải đối mặt với những hệ quả nghiêm
trọng của cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á. Áp lực làm giảm giá của đồng VN
không chỉ biểu hiện ở những tác động hữu hình như tình trạng xấu đi nhanh chóng
của hoạt động đối ngoại, mà còn biểu hiện ở tâm lý lo sợ về sự phá giả của đồng VN
13
TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
nối tiếp theo làn sóng phá giá mạnh đang diễn ra đối với nhiều đồng tiền Châu Á tạo
ra những bất ổn trên thị trường ngoại hối. Vì thế, để duy trì kiểm soát chính sách lãi
suất là cần thiết trong điều kiện khi mà NHNN vẫn chưa có đủ các công cụ cần thiết
và hiện hữu để có thể kịp thời điều chỉnh. Với việc thực hiện kiểm soát lãi suất,

ngừng huy động vốn có kỳ hạn (loại 6 tháng và 9 tháng) với lý do tương tự đã tạo nên
14
TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
tình trạng đóng băng vốn số lượng lớn. nền kinh tế vẫn tiếp tục rơi vào trạng thái trì
trệ và hạ lãi suất lúc này là cần thiết. để giải tỏa nguồn vốn ứ đọng này, các NHTM
có nguồn vốn dư thừa đã tận dụng triệt để phương châm “thà cho vay với lãi suất
thấp tới mức 0,4%/tháng còn hơn để vốn chết tại NHNN để hưởng lãi suất
0,1%/tháng”. Giữa các ngân hàng dần hình thành nên thế cạnh tranh bằng lãi suất cho
vay. Mặc dù lãi suất cho vay của các NHTM giảm xuống từ 0,15% - 0,2%/tháng so
với quy định của NHNN nhưng tốc độ tăng tín dụng tới tận nữa đầu năm 2000 vẫn
chưa thực sự có ý nghĩa. Trong bốn tháng đầu năm 2000 vốn huy động tặng 12,3%
trong khi dư nợ tín dụng chỉ tăng 5,8%. Tín dụng chỉ được đẩy mạnh từ cuối quý 2
năm 2000 khi các ngân hàng tiếp tục hạ lãi suất cho vay và nhu cầu vốn của nền kinh
tế tăng lên. Mức huy động VNĐ cho kỳ hạn 12 tháng thời kỳ này là 0,5%/tháng đối
với các NHTMQD và từ 0,55%-0,57%/tháng đối với các NHTMCP. Lúc này, cơ chế
trần lãi suất tín dụng tỏ ra không còn thích hợp với môi trường VN. Nền kinh tế vĩ
mô biến động liên tục mặc dù đã có những cải thiện đáng ghi nhận, song đó chưa
thực sự ổn định.
- Từ năm 2000-2008
Từ năm 2000-2008 lãi suất liên tục thay đổi. tuy nhiên lãi suất huy động vẫn giữ
được ổn định tương đôi. Đầu 2008, cuộc đua lãi suất bắt đầu bùng nổ, biểu hiện đầu
tiên là sự leo thang của lãi suất qua đêm trên liên ngân hàng với các kỷ lục 20%, 25%
liên tục bị đánh đổ, và đỉnh điểm là mức chào 27%/năm…
- Năm 2009
Từ những ảnh hưởng khủng hoảng trên thế giới, sản xuất kinh doanh trong nước
rơi vào khó khăn. Đây là năm thứ hai trong quãng 8 năm qua lãi suất huy động VND
tương đối ổn định quanh 9%/năm, cũng là năm có chính sách cấp bù lãi suất kích cầu
của Chính phủ.
Điểm nổi bật trong năm này là câu chuyện của đường cong lãi suất, khi nó được kéo
thẳng ở hầu hết các kỳ hạn. Trạng thái này kéo dài cho đến trước ngày 11/6/2012.

TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
tháng trở lên ở mức 7.5-9%/năm, phù hợp với kỳ vọng lạm phát đến cuối năm 2013
và cả năm 2014.
Việc giảm lãi suất huy động tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng giảm mạnh lãi
suất cho vay qua đó chia sẻ khó khăn đối với các doanh nghiệp.
Hiện lãi suất cho vay đối với các lĩnh vực ưu tiên hiện ở mức 7-9%/năm, lĩnh vực sản
xuất, kinh doanh ở mức 9-11%/năm, trong đó, đối với khách hàng tốt lãi suất cho vay
chỉ từ 6,5-7%/năm.
Ngân hàng Nhà nước cũng khẳng định, mặc dù lãi suất huy động giảm mạnh
nhưng người dân vẫn yên tâm gửi tiền vào các tổ chức tín dụng với kỳ hạn dài hơn
cho thấy gửi tiền vẫn là kênh đầu tư an toàn và hiệu quả nhất hiện nay so với các
kênh đầu tư khác trong điều kiện lạm phát hiện nay và mục tiêu ổn định tỷ giá.
Đến giữa tháng 9/2013, tiền gửi VND của dân cư tăng 13,78% so với cuối năm
2012. Cùng với đó, dù Ngân hàng Nhà nước đã bỏ quy định trần lãi suất kỳ hạn từ 6
tháng trở lên nhưng tính trật tự, kỷ luật trên thị trường vẫn được duy trì, không có
tình trạng cạnh tranh không lành mạnh về lãi suất giữa các tổ chức tín dụng với nhau
nhằm chèo kéo khách hàng, người gửi tiền gửi tiền với kỳ hạn dài hơn, không rút tiền
từ tổ chức tín dụng này gửi sang tổ chức tín dụng khác để hưởng chênh lệch lãi suất.
Đường cong lãi suất đã dần được hình thành (kỳ hạn ngắn có lãi suất thấp, kỳ hạn
dài có lãi suất cao) phù hợp với cơ chế thị trường trong điều kiện không biến động.
Qua đó cho thấy việc điều hành lãi suất, trần lãi suất huy động của Ngân hàng Nhà
nước là phù hợp với điều kiện thị trường hiện nay.
b)
17
TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
c) Các chính sách lãi suất trong nền kinh tế hiện nay
Từ thực tế diễn biến tiền tệ, lãi suất trong thời gian qua, có thể rút ra một số chính
sách sau:
• Chính sách tiền tệ của chính phủ : Như chúng ta đã biết một khi lãi suất tín dụng tăng
quá cao hay giảm thấp thì đều có ảnh hưởng nhất định đến nền kinh tế .Chính bởi vậy

tháng đầu năm 2008, nhất là đối với NHTM cổ phần quy mô nhỏ chuyển đổi mô hình
từ nông thôn lên; an toàn hệ thống ngân hàng được đảm bảo, củng cố lòng tin của các
18
TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
nhà đầu tư, doanh nghiệp và người dân đối với hệ thống ngân hàng. Khắc phục được
tình trạng cạnh tranh không lành mạnh trong huy động vốn giữa các NHTM bằng
cách đẩy lãi suất lên cao. Cùng với diễn biến lạm phát có xu hướng giảm, kinh tế vĩ
mô ổn định và hoạt động của các NHTM đảm bảo khả năng thanh toán, làm cho thị
trường tiền tệ và lãi suất trong những tháng đầu năm 2009 tương đối ổn định.
• Cơ chế truyền dẫn của các biện pháp điều hành lãi suất đã có hiệu lực và hiệu quả đối
với hoạt động kinh doanh của NHTM và lãi suất thị trường, thể hiện là lãi suất thị
trường liên ngân hàng đã biến động xoay quanh các mức lãi suất chủ đạo của NHNN;
lãi suất huy động và cho vay của các NHTM biến động theo cung - cầu vốn và tăng,
giảm theo sự thay đổi của các mức lãi suất điều hành của NHNN, đã tác động làm
cho thu hẹp hoặc mở rộng tín dụng.
• Việc điều hành linh hoạt lãi suất cơ bản, vừa là công cụ điều tiết thị trường, vừa là
động thái phát tín hiệu về chủ trương của Chính phủ và giải pháp điều hành chính
sách tiền tệ của NHNN là “thắt chặt” hay “nới lỏng” tiền tệ, đã và đang trở thành một
chỉ số kinh tế quan trọng trên thị trường tài chính, tiền tệ, được các doanh nghiệp,
người dân, các nhà đầu tư trong và ngoài nước, các NHTM quan tâm, theo dõi, dự
báo và có phản ứng khá nhanh nhạy, tích cực về hoạt động đầu tư, tiết kiệm và tiêu
dùng. Kết quả này cú ý nghĩa rất quan trọng, thể hiện được vai trò và những tác động
tích cực của chính sách tiền tệ đối với việc kiềm chế lạm phát và điều tiết kinh tế vĩ
mô.
• Cơ chế điều hành lãi suất cơ bản Phối hợp với quy định của Luật NHNN và Bộ luật
Dân sự, mục tiêu của chính sách tiền tệ hiện nay và các năm tới đây là kiểm soát lạm
phát, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở mức cao và bền vững.
Tuy vậy, cơ chế điều hành lãi suất cơ bản là công cụ can thiệp trực tiếp đối với lãi
suất kinh doanh của NHTM, có hạn chế nhất định việc thử nghiệm và đưa ra thị
trường các sản phẩm tín dụng có độ rủi ro cao nhằm tìm kiếm lợi nhuận trên thị

giảm kinh tế, việc tiếp tục áp dụng cơ chế điều hành lãi suất cơ bản là một giải pháp
thích hợp, phù hợp với các mục tiêu kinh tế vĩ mô, cung - cầu vốn thị trường. Việc
điều tiết lãi suất thị trường theo hướng ổn định được thực hiện kết hợp giữa điều tiết
khối lượng tiền thông qua các công cụ gián tiếp, điều hành linh hoạt các mức lãi suất
chủ đạo và làm tốt công tác truyền thông. Sự thay đổi cơ chế điều hành lãi suất theo
hướng tự do hoá phải trên cơ sở đánh giá một cách khoa học và thực tiễn các điều
kiện kinh tế, thị trường tài chính - tiền tệ ở trong và ngoài nước, cũng như các rủi có
thể xảy ra và các biện pháp xử lý để đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, sự an toàn và
phát triển của hệ thống tài chính.
5. GIẢI PHÁP HÒAN THIỆN CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT Ở VIỆT NAM
Khi xây dựng lãi suất phải đặt trong tương quan với giá trị của VND so với các
đồng tiền mạnh trên thế giới và trên khu vực đặc biệt là đồng USD,đồng EURO, đồng
Yên, đồng nhân dân tệ….Bởi lãi suất và giá có mối quan hệ hữu cơ với nhau,có môt
sư tăng giảm, chuyển đổi nội tệ sang ngoại tệ,ảnh hưởng trưc tiêp đến hoạt động xuât,
nhập khẩu của nền kinh tế.
20
TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
Việc công bố lãi suất phụ thuộc vào lợi nhuận bình quân của xã hội. Tỷ suất bình
quân này được hình thành trong quá trình cạnh tranh giữa các nền kinh tế. Điều này,
hoàn toàn phù hợp với lý luận triết học Mác xít: lợi nhuận của tư bản cho vay bao giờ
cũng nhỏ hơn lơi nhuận bình quân của tư bản sản xuất và đó chính là một phần của
giá trị thặng dư do lĩnh vực sản xuất tạo ra.
Lãi suất phải được đặt trong mối tương quan với lãi suất tín phiếu kho bạc,trái
phiếu kho bạc để làm sao có thể khai thác tối đa mọi nguồn lực trong xã hội.
Cần xem xét mối quan hệ giữa lãi suất và doanh lợi chứng khoán để xác định
chính sách lãi suất .Nếu lãi suất ngân hàng trả cho tài chính,lãi suất trên thị trường
tiền tệ có ảnh hưởng lớn đến việc phát hành mua bán chứng khoán trên thị trường tài
chinh.Nếu lãi suất ngân hàng trả cho người tiết kiệm cao,người gửi sẽ sẽ thích gửi
tiền vào ngân hàng để hưởng lãi suất cao và rủi ro thấp,hơn là mua chứng khoán với
lãi suất thấp nhưng rủi ro cao.

hiệu quả và quyết định thực hiện đối với các phương án/dự án SXKD.
- Tích cực và chủ động thực hiện các công cụ phòng ngừa rủi ro về lãi suất thông qua
việc khai thác, sử dụng các sản phẩm phái sinh để bảo hiểm các rủi ro do biến động
lãi suất trên thị trường.
- Trích lập đầy đủ các quỹ dự phòng về tài chính trong hoạt động SXKD nhằm tạo
nguồn lực dự phòng, giúp cho DN đứng vững trong các cú sốc về lãi suất.
- Sử dụng thận trọng và linh hoạt công cụ đòn bẩy tài chính trong hoạt động kinh
doanh nhằm đạt được mục tiêu gia tăng lợi nhuận trong điều kiện lãi suất thấp, đồng
thời hạn chế rủi ro thua lỗ khi lãi suất biến động ngoài dự đoán.
- Thường xuyên tăng cường năng lực tự chủ về tài chính, đa dạng hóa các kênh huy
động vốn, tránh việc phụ thuộc quá lớn vào nguồn vốn vay Ngân hàng.
- Đối với các Cơ quan quản lý vĩ mô
Lãi suất là một công cụ điều tiết vĩ mô hết sức nhạy cảm, có tác động lớn đến
nhiều đối tượng trong nền kinh tế, vì vậy, để đảm hiệu quả tối ưu khi sử dụng công cụ
này thì các nhà làm chính sách cần:
- Có lộ trình, giải pháp khuyến khích phát triển đồng bộ các thị trường tài chính, đa
dạng hóa các kênh huy động vốn trong nền kinh tế để nhằm đáp ứng nhu cầu vốn
ngày càng tăng của DN, hạn chế tình trạng tín dụng đen, thị trường tài chính ngầm
phát triển tự do không có kiểm soát.
- Điều hành chính sách lãi suất một cách linh hoạt, kịp thời, duy trì mặt bằng lãi suất
ổn định, phù hợp cơ chế thị trường trên cơ sở xử lý tốt mối quan hệ về lợi ích của
người gửi tiền, các Ngân hàng và người vay tiền.
22
TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
- Hạn chế sử dụng các biện pháp hành chính trong điều hành lãi suất, làm biến dạng
sự vận động của lãi suất để đảm bảo lãi suất trong nền kinh tế vận động theo cơ chế
thị trường, giúp cho các chủ thể tham gia thị trường có thể dự báo, đưa ra các giải
pháp đối phó phù hợp.
- Tăng cường năng lực dự báo kinh tế và sớm đưa ra các giải pháp điều tiết mang tính
đón đầu để tránh các cú sốc về lãi suất, gây tổn thương cho các chủ thể trong nền

ứng đúng thị hiếu của người vay va có hiệu quả nhất.
Bên cạnh những thuận lơi do tự do hóa mang lại cũng còn tồn tại rất nhiều do tự
do hóa không thực hiện tốt vai trò của mình.Để tự do hóa và lãi suát làm tròn chức
năng của mình,thị trường tài chính cần được củng cố và phát triển.Nhưng trong nền
kinh tế, thi trường tín dụng không phải lúc nào cũng điều chỉnh đủ nhanh để cân bằng
giữa cung cầu khi điều kiện thay đổi và tình trạng mất cân bằng vẫn đặc trưng của bất
kỳ một nền kinh tế đang phát triển nào.
Do vậy để phát huy những ưu điểm và hạn chế những khuyết điểm của tự do hóa
lãi suất,cần những điều kiện sau:môi trường kinh tế vĩ mô phải ổn định và khá chắc
chắn,hành lang pháp lý phải tương đối ổn định và hoàn chỉnh, hệ thống ngân hàng ổn
định và và hoạt động hữu hiệu, thị trường tài chính đã hình thành và vận hành có hiệu
quả, các nguồn lực trong và ngoài nước.
Quan điểm của Đảng ta về việc phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận
hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước theo đinh hương XHCN là
quan điểm cơ bản xuyên suôt trong cơ chế quản lý kinh tế -tài chính của chúng ta.
Đồng thời với chính sách mở cửa nền kinh tế,xu hướng toàn cầu hóa trở nên cần thiết
để chúng ta đẩy nhanh tốc độ phát triển nền kinh tế-xã hội.
Khi các điều kiện đã hội đủ, chúng ta sẽ chuyển sang cơ chế tự do hóa lãi suất
nhưng phải cơ chế tự do hóa hoàn toàn,NHNN với tư cách là người điều hành chính
sách tiền tệ quốc gia sẽ sử dụng lãi suất tái chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn để tham
gia điều chỉnh gián tiếp các mức lãi suất trên thị trường nhằm phát huy vai trò lãi suất
đối với sự phát triển của kinh tế-xã hội.
CHƯƠNG IV: KẾT LUẬN
24
TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
Lãi suất là một phạm trù kinh tế tổng hợp có liên quan chặt chẽ đến một số phạm
trù kinh tế khác và đóng vai trò như là một đòn bẩy kinh tế cực kỳ nhạy bén trong
mỗi doanh nghiệp và đời sống cá nhân, có ảnh hưởng trực tiếp đến chính các hoạt
động của các doanh nghiệp và cá nhân, và hơn cả là một công cụ quan trọng trong
chính sách tiền tệ quốc gia.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status