Tên đề tài:
Nội dung thẩm định dự án đầu tư trong các ngân hang
Thương mại ở Việt Nam
Từ nhiều năm nay hoạt động đầu tư theo dự án đã đóng vai trò quan trọng
trong việc tái tạo duy trì năng lực sản xuất,phát triển cơ sở hạ tầng của xã hội
nói chung và của doanh nghiệp nói riêng.Thực tế cho thấy có nhiều phương
pháp để huy động vốn cho đầu tư phát triển cũng như cho hoạt động sản xuất
kinh doanh như:vốn cấp phát từ ngân sách,vốn cổ phần bán công trái,và một số
công cụ nợ khác.Tuy nhiên với ưu thế là nguồn vốn lớn,thời gian giải ngân chăc
chắn,có sự quản lý,giám sát chặt chẽ…thì vốn đầu tư từ các ngân hang Thương
Mại đã đóng góp tới hơn 15% trong tổng nguồn vốn đầu tư toàn xã hội(giai đoạn
từ năm 2000 – 2004)
Hiện nay các ngân hàng Thương mại rất quan tâm tới vấn đề thẩm định
đối với các dự án đầu tư biểu hiện cụ thể bởi 2 lí do:Một là thẩm định dự án đầu
tư góp phần quan trọng trong thực hiện các mục tiêu chiến lược kinh tế của quốc
gia,thực hiện các chương trình kinh tế trọng điểm.Hai là thẩm định nhưng chưa
được áp dụng đúng mức ở tất cả các cấp ngành,các bộ phận,các cơ quan quản lý
một cách hợp lý và chặt chẽ trong tổng thể nền kinh tế Việt Nam.
Cũng như nhiều nước đang phát triển khác ,những số tiền lớn của xã hội
chi cho việc đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng và đầu tư trực tiếp sản xuất nhưng bị
lãng phí do chưa điều tra kĩ lưỡng về tính khr thi của các phương án,nhu cầu thị
trường và hiệu quả kinh tế.Mặc dù sự lầm lẫn trong một số quyết định đầu tư là
không thể tránh khỏi nhưng cần một số kĩ thuật tốt để thẩm định các dự án một
cách hệ thống.Những kĩ thuật này có thể làm tăng vọt tỷ lệ các dự án thành công
và các quan chức cũng như các nhà quản lý kinh tế nên học tập và áp dụng
chúng.
Hơn thế,qua thực tế ta cũng thấy rằng trong số rất nhiều các nhân tố ảnh
hưởng đến hiệu quả của đầu tư nói chung và vấn đề thẩm định đối với dự án đầu
tư trong các ngân hàng Thương Mại nói riêng thì thẩm định dự án có vai trò
quan trọng nhất. Để góp phần một lần nữa làm sáng tỏ điều này em lự chọn đề
tài:”Nội dung thẩm định dự án đầu tư trong các Ngân hàng Thương Mại ở Viêt
một hàng hóa đặc biệt đó là "vốn- tiền", trả lãi suất huy động vốn thấp hơn lãi
suất cho vay vốn, và phần chênh lệch lãi suất đó chính là lợi nhuận của ngân
hàng thương mại.. Hoạt động của ngân hàng thương mại phục vụ cho mọi nhu
cầu về vốn của mọi tầng lớp dân chúng, loại hình doanh nghiệp và các tổ chức
khác trong xã hội.
Trong ngân hàng thương mại, tiền huy động được của người gửi gọi là tài
sản "nợ", tiền cho công ty và các cá nhân vay cũng như tiền gửi ở các ngân hàng
khác và s ố tr ái phi ếu ngân hàng sở hữu gọi là tài sản "có" của ngân hàng. Phần
chênh lệch giữa số tiền huy động được và số tiền đem cho vay, gủi ngân hàng
và mua trái phiếu gọi là vốn tự có. Phần tài sản có tính thanh khoản cao được
giữ để đề phòng trường hợp tiền gửi vào ngân hàng bị rút đột ngột g ọi l à t ỉ lệ
dự trữ của ngân hàng bộ số vốn của ngân hàng được chia làm hai loại vốn cấp 1
và vốn cấp 2. Vốn cấp 1 còn gọi là vốn nòng cốt, về cơ bản bao gồm vốn điều lệ,
lợi nhuận không chia và các quỹ dự trữ lập trên cơ sở trích từ lợi nhuận của tổ
chức như quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ dự phòng tài chính và quỹ đầu tư
phát triển. Vốn cấp 2 bao gồm: phần giá trị tăng thêm do định giá lại tài sản của
tổ chức, nguồn vốn gia tăng hoặc bổ sung từ bên ngoài (như tr ái phiếu chuyển
đổi ,cổ phiếu ưu đãi một số công cụ nợ khác).
Tại các nước đang phát triển như Việt Nam, ngân hàng thương mại thực
sự đóng một vai trò rất quan trọng, vì nó đảm nhận vai trò giữ cho mạch máu
(dòng vốn) của nền kinh tế được lưu thông và có vậy mới góp phần bôi trơn cho
hoạt động của một nền kinh tế thị trường còn non yếu. Năm 2005-2006
Việt Nam đã tích cực đẩy mạnh quá trình cổ phần hoá các ngân hàng thương
mại Nhà nước với mục đích quan trọng nhất là nâng cao năng lực tài chính của
các tổ chức này. Tính đến tháng 2-2007 đã có 34 ngân hàng thương mại hoàn tất
việc cổ phần hóa với tổng số vốn điều lệ trên 21.000 tỷ đồng , trong đó Ngân
hàng thương mại cổ phần Sài gòn Thương tín có số vốn điều lệ cao nhất là trên
2.089 tỷ đồng.
2.Vai trò của ngân hàng thương m ại trong đầu tư phát triển kinh tế
xã hội:
chuyển vốn, thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hóa. Ở các nước phát triển phần
lớn thanh toán được thực hiện qua sec và được thực hiện bằng việc bù trừ thông
qua hệ thống ngân hàng thương mại. Ngoài ra việc thực hiện chức năng là thủ
quỹ của các doanh nghiệp qua việc thực hiện các nghiệp vụ thanh toán đã tạo cơ
sở cho ngân hàng thực hiện các nghiệp vụ cho vay.
Hiện nay ở các nước công nghiệp phát triển việc sử dụng hình thức
chuyển tiền bằng đện tử là chuyện bình thường và chính điều này đưa đến việc
không sử dụng sec ngân hàng mà dùng thẻ như thẻ tín dụng. Họ thanh toán bằng
cách nối mạng các máy vi tính của các ngân hàng thương mại trong nước nhằm
thực hiện chuyển vốn từ tài khoản người này sang người khác một cách nhanh
chóng.
2.3.Chức năng tạo ra tiền ngân hàng trong hệ thống ngân hàng hai cấp
Vào cuối thế kỉ 19 hệ thống ngân hàng hai cấp được hình thành, các ngân
hàng không còn họat động riêng lẽ nữa mà tạo thành hệ thống, trong đó ngân
hàng trung ương là cơ quan quản lý về tiền tệ, tín dụng là ngân hàng của các
ngân hàng. Các ngân hàng còn lại kinh doanh tiền tệ, nhờ họat động trong hệ
thống các NHTM đã tạo ra bút tệ thay thế cho tiền mặt.
2.4.Vai trò của ngân hàng thương mại trong việc tham gia phát triển thị
trường chứng khoán
Với trên 5 năm hình thành và hoạt động, thị trường chứng khoán (TTCK)
Việt Nam đã có những bước phát triển đáng kể. Riêng trong năm 2005, chỉ số
VNIndex đã tăng từ 237,23 lên 307,5, tức 30%. Tổng giá trị thị trường đạt
26.878 tỷ đồng, trong đó cổ phiếu chiếm 10,4%, trái phiếu chiếm 88,7% và
chứng chỉ quỹ chiếm 0,9% .
Tuy còn non trẻ, nhưng TTCK Việt Nam đã chứng tỏ là một kênh dẫn vốn
quan trọng, phục vụ đắc lực cho công cuộc phát triển kinh tế của đất nước.
Người ta thường cho rằng, khi TTCK có xu hướng tăng trưởng mạnh mẽ thì
lượng chu chuyển vốn qua hệ thống Ngân hàng Thương mại (NHTM) bị giảm
sút và ngược lại. Tuy nhiên, đặc thù của nền kinh tế Việt Nam với tiềm năng về
vốn trong dân cư còn rất lớn thì nếu có sự tham gia của các NHTM vào TTCK
qua hệ thống Kho bạc Nhà nước.
Tuy nhiên, Việt Nam chưa có hệ thống các đại lý sơ cấp. Việc hình thành
hệ thống đại lý sơ cấp với sự tham gia của các NHTM sẽ góp phần đẩy nhanh và
hiệu quả qúa trình phân phối trái phiếu Chính phủ.
2.4.2.Trên thị trường thứ cấp.
Với vai trò là trung gian trên thị trường, các NHTM có thể thực hiện các nghiệp
vụ sau:
a. Kinh doanh trái phiếu:
Mới đưa vào hoạt động từ tháng 8/2005, hoạt động kinh doanh trái phiếu
của NHNT với 13 đối tác là các NHTM và các công ty chứng khoán đã có
những kết quả hết sức khả quan. Tính đến hết năm 2005, tổng doanh số giao
dịch đạt khoảng 2.700 tỷ đồng, trong đó chiếm phần lớn là hoạt động bán mua
lại (chiếm khoảng 2.670 tỷ đồng, tức là khoảng 99%). Do vậy có thể thấy rõ
ràng hoạt động kinh doanh trái phiếu của NHNT thực chất là hoạt động chiết
khấu, tạo thanh khoản cho thị trường. Bện cạnh đó, hoạt động kinh doanh trái
phiếu, công trái với các nhà đầu tư nhỏ lẻ cũng có tiềm năng phát triển lớn,
nhưng chưa được tổ chức thật sự chuyên nghiệp. Một ưu điểm nữa của hình thức
kinh doanh này là không bị giới hạn bởi thời gian giao dịch của thị trường chứng
khoán tập trung.
b. Sản phẩm phái sinh:
Các NHTM có thể thực hiện các sản phẩm phái sinh như: hoán đổi, kỳ
hạn, quyền chọn, hợp đồng tương lai đối với các trái phiếu, cổ phiếu trên thị
trường. Ở đây, sự kết hợp liên thị trường giữa thị trường tiền tệ với thị trường
chứng khoán sẽ cung cấp cho các nhà đầu tư nhiều công cụ để kinh doanh (đầu
cơ) và bảo hiểm rủi ro, đồng thời tăng tính thanh khoản của thị trường.
c.Cho vay chứng khoán:
Nghiệp vụ cho vay chứng khoán rất phổ biến đối với các TTCK phát
triển. Tại Mỹ, Cục dự trữ liên bang (Fed) thực hiện nghiệp vụ này với các đại lý
sơ cấp đối với trái phiếu Chính phủ. Nghiệp vụ này một mặt làm tăng thanh
khoản của thị trường, mặt khác giúp Fed điều tiết được lượng cung tiền. Tài sản
nhất thì cần phải có biện pháp giám sát được sự chuẩn bị và thực hiện đầu tư
một cách tốt nhất mà thông thường thì phòng tránh và ngăn ngừa rủi ro thì tốt
hơn nhiều việc phải khắc phục rủi ro gặp phải nếu không lường trước được.Do
đó thực hiện Thẩm định dự án một cách khoa học,khách quan là phương pháp
tốt nhất.Hoạt động đầu tư có đặc điểm vốn lớn,diễn ra trong thời gian dài,vốn
nằm khê đọng lâu chịu rất nhiều tác đọng của các yếu tố bất định vì thế mà cần
xem xét đánh giá kỹ lưỡng về các mặt như: khả năng huy động vốn,khả năng
cung cấp các yếu tố đầu vào(máy móc,thiết bị),nguồn nguyên vật liệu,năng
lượn,thị trường đầu ra,các loại rủi ro có thể xẩy ra và các biện pháp phòng ngừa
cũng như khắc phục hậu quả nếu nó xẩy ra…Trong dự án đã trình bày rất rõ các
vấn đề trên tuy nhiên để kiểm tra độ chính xác và nhìn nhận trên nhiều góc độ
thì Thẩm định dự án làm được.
Nhà nước quản lý hoạt động kinh tế nói chung và các hoạt đọng đầu tư
nói riêng thông qua các qui định luật pháp,các chính sách nhà nước quản lý hoạt
động đầu tư thông qua việc thẩm định để cấp phép đầu tư,các chế độ ưu
đãi,khuyến khích đầu tư.Mọi công cuộc đầu tư đều có những lợ ích cũng như
những thiệt hai xã hội,nhiệm vụ của nhà nước làm sao để tối đa hoá lợi ích,tối
thiểu hoá thiệt hại của xã hội.Nhiều khi lợi ích của chủ đầu tư và xã hội mâu
thuẫn nhau,nhà nước phải xem xét để dung hoà,xử lý mâu thuẫn này.Nước nào
cũng có chính sách kinh tế,có luật pháp,có mục tiêu và chiến lược phát triển
kinh tế khác nhau vè để hướng các hoạt đọng kinh tế nói chung,hoạt động đầu tư
nói riêng theo đúng đường lối chiến lược thì phải giám sát,quản lý – rõ
ràng.Thẩm định dự án là một biện pháp rất hiệu quả.
Thông thường có nhiều cách để sử dụng vốn,một sự đầu tư bao giờ cũng
phải chịu mất một khoản chi phí cơ hội nhiều khi giá trị của nó khá lớn do đó
phải cân nhắc kĩ trước khi quyết đinh đầu tư. Để có thể thấy được tính khả thi
của dự án, để khẳng định rằng các chi phí mà dự án yêu cầu là phù hợp với khả
năng thực tế,các chi phí thực hiện là hợp lý và tương xứng với những lợi ích thu
được,các yếu tố như:công nghệ,kĩ thuật ,trinh độ khả năng người lao động,các
tác động môi trường là phù hợp với thực tế đòi hỏi,không vi phạm pháp luật thì
không,các lợi ích của chủ đầu tư,xã hội và các đơn vị tài trợ có đáng để họ tham
gia vào dự án haykhông.
+Tuy nhiên, đối với một dự án đầu tư phát triển thì mục đích thẩm định
khác nhau đối với các chủ thê thực hiện thẩm định.
đối với các cơ quan quản lý nhà nước – cơ quan cấp phép đầu tư,cấp phép
xây dựng cho dự án như Bộ Kế Hoạch và đầu tư,Bộ xây dựng và cac bộ chuyên
ngành có liên quan,Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh,Uỷ ban nhân dân câp huyện,xã nơi
dự an thực hiện thì sẽ quan tâm nhiều đến tính phù hợp với luật pháp,với qui
hoạch,chiến lựoc phát triển và các ảnh hưỏng của dự án đối với các vùng,ngành
đó.Vì vậy các chủ thể này thường tập trung vào đánh giá điều kiện pháp lí,các
chỉ tiêu kinh tế xã hội của dự an.
Các cấp tài trợ dự an – các tổ chưc tài chính mà cụthể la các ngân hàng thì
muc đích của họ là làm sao đảm bảo an toàn và sinh lời cho lượng vốn mà họ bỏ
ra.Nếu xét ở góc độ tài trợ thif các ngân hàng chỉ có trách nhiệm giải ngân đúng
và đủ theo tién độ và khối lượng đã ghi trong hợp đồng tính dụng.Tuy nhiên để
có thể thu hồi đủ vốn và lãi - tức la đạt được hiệu quả kinh doanh như mong
muốn thì ngân hàng không thể chỉ dựa vào kết quả thẩm định của các cơ quan
quản lí nhà nước mà phải tự đánh giá bằng phương pháp và theo quan điểm của
mình.Do vậy ngân hàng tiến hành thẩm định dự án chủ yếu tập trung vào tính
phù hợp về mặt pháp lí,hiệu quả tài chính đặc biệt la khả năng thu hồi vốn đầu
tư.Việc thẩm định của ngân hàng thương mại được diễn ra trong suôt thời gian
diễn ra hoat đông đầu tư từ lúc hình thành dự án đến lúc dự án đi vào hoạt động
và thu hồi đủ vốn mà ngân hàng mong muốn. Việc thẩm định này đòi hỏi các
ngân hàng thương mại phải làm việc một cách có khoa học và chặt chẽ để đảm
bảo thu hồi vốn đúng thời hạn.
Giai đoạn tiền đầu tư gồm cac bước:
Các ngân hàng thương mại tiến hành thẩm định ở giai đoạn này thực chất
la xem xet các dự án tiền khả thi va dự án khả thi.vấn đê NHTM quan tâm trước
hết là độ chính xác của các thong tin trong dự án bởi nếu thông tin mà sai thì có
nghĩa la tính khả thi của dự án là không chắc chắn và NHTM không thể đánh giá
Chạy thử và
thi công
xây dựng
tài trợ vốn nên các chủ đầu tư cũng chú ý lam sao để nổi bật được khả năng thu
hồi vốn cũng như khả năng trả nợ của dựa n, đáp ứng được các mục tiêu hiệu
quả kinh tế xã hội của dự án.
3.Nội dung thẩm định dự án
Theo quy chế quản lý đầu tư,quy chế đấu thầu,luật khuyến khích đàu tư
trong nươc, luật đầu tư nước ngoài,thông tư số 07/2000/TT – BKH&ĐT của bộ
kế hoach và đầu tư hướng đẫn chung về nội dung tổng múc đầu tư,hồ sơ thẩm
định dự án và báo cáo đầu tư,thẩm định kết quả đầu tư,thẩm định và đánh giá
chất lương XD…NĐ 16/2005/NĐ – CP ngày 7/2/2005;NĐ 112/2006/NĐ – CP
ngày 29/9/2006 c ủa Chính Phủ thông tư số 02/2007/TT – BXĐ kí ngày
14/02/2007;Thông tư số 63/2007/TT – BTC;…Tuỳ theo mục đích,quy mô,tính
chất của dự án,hình thức và nguồn vốn đầu tư sẽ tiến hành thẩm định gồm các
nội dung sau:
3.1. Điều kiên pháp lý của dự án:
Là việc xem xét những vấn đề chịu sự quản li,chi phối của pháp luật hiên
hành.Chủ thể thẩm định sẽ xem xét đầy đủ hợp lệ của hồ sơ trình duyệt,tư cách
pháp nhân và năng lực của chủ đầu tư,muc tiêu và sự cân thiết thưc hiện đầu
tư,hình thức đầu tư va thời han đâu tư.
Tính đầy đủ của hồ sơ trình duyệt thể hiện ở giấy phép đăng kí kinh
doanh(nếu chủ đầu tư la doanh nghiệp),giấy phép đầu tư,giấy phép nhập khẩu
nguyên liệu,máy moc thiết bị(nếu phải nhập khẩu)các loại giấy tờ liên quan đến
vấn đề sử dụng đất,giấy phép xây dựng(nếu dự án có xây dựng)…Năng lực của
chủ đầu tư thể hiên ở năng lưc kinh doanh(sở trường,uy tín trên thương trường,
kinh nghiệm,các tầng lớp cán bộ kế cận…)và năng lực tài chính(khả năng nguồn
vốn tự có,tài sản thế chấp khi vay vốn,dòng thu, dong chi ở thời điêm hiêm tai
va kì vông trong thời gian tới). Để dánh giá được năng lực của chủ đầu tư có thể
sử dụng các tài liêu như:báo cáo tài chính tại điểm gần nhất gồm có bảng cân đối
xem xét trên 3 khía canh:
Môt. Là địa điểm thực hiện dự án:Các yếu tố như môi trường văn hoá xã
họi, địa hình địa chât,măt. bằng quy hoạch,hệ thống giao thông,thông tin liên
lac,khoảng cách đến nơi cung cấp nguyên liệu, đến thị trương mục tiêu,các cơ sở
hạ tầng như điện nước…ở đây rất cần quan tâm đến chi phí giải phóng mặt
vằng,chi phí đền bù thiệt hại do dự án tác động đến môi trường xung quanh.
Hai la công nghệ thiết bị của dự án:cần xem xét các yếu tố như mức độ
hiện đại của công nghệ máy móc thiết bị thông qua các thông số:xuất xứ thơìư
gian sản xuất,mức độ tự động hoá,mức độ chuyên môn hoá,gắn liền với nó cũng
phải xét đến các nguồn cung cấp thiết bị thay thế.Tuy nhiên máy móc thiết bị chỉ
thực sự phát huy năng lực nếu có được người đủ trình độ,kinh nghiệm sử dụng
và bản thân còn phải phù hợ với công suất và mục tiêu của dự án.Thực tế cho
thấy vấn đề lựa chọn công nghệ phù hợp la vấn đề không dễ,tuy nhiên người
thẩm định thưong quan tâm đến mức độ an toàn,và sự tiên lợi trong sử dụng va
bảo quản.Có thể công nghệ máy móc thiết bị không cần mới nhưng cần hợp lý
đồng bộ - với các loại máy này cần xem xét cẩn thận mức độ hiện đại tránh tình
trạng mua phải rác thải công nghiệp.Nếu là công nghệ nhận chuyên giăộhc mua
licien cần xem xét thật kĩ xem đó la licien “động”hay “tĩnh” bởi giá và tác dụng
của hai loại nay chênh lệch rất lớn
Bala ảnh hưởng của dự án đến môi trường:Về môi trường cần xem xét
các chất gây ô nhiễm trong khí thải,nước thải, chất thải rắn của dự án và những
giải pháp kĩ thuật sẽ áp dụng để không chế sự phát huy tác dụng của các chất
gây ô nhiễm,các biện pháp giám sát dung lượng của các chất đó để không chế
trong mức cho phép.Trong trương hợp binh thường hoặc xảy ra sự cố cần có các
giải phap kịp thời,do đó cần tính đến các chi phí cho máy móc thiết bị cử lý
cũng như các hci phí liên quan khác.Nếu la dự án có ảnh hưởng đến một khu
vực như:bảo tồn thiên nhiên,di tích lịch sủ văn hoá hoặc ảnh hưởng đến sự cân
bằng môi trường sinh thái thi ngoài các giải pháp khắc phục,tính toán các chi phi
để giải quyết cần có các văn bản quy định trách nhiệm của các chủ thể hữu
quan,các cam kết cần thiết và các chế tài phải gánh chịu nếu để xảy ra hậu quả
đưa ra các kết luận vê vấn đê trên cần thục hiện các công việc sau:
Rà soát lại các bảng tính toán vốn đầu tư(không thiếu, không trùn, không
có nhưng khoản quá cao hay qua thấp….),chi phi hay giá thành sản phẩm dich
vụ ma dự án sử dụng hoặc tạo ra,doanh thu ma dư án dự điịnh thu được trong
từng thời kì.Xem lai tính khả dụng,tính hiện thực của các nguồn thu chi.xac định
mức độ chắc chắn của các phương thức huy đông vốn từ cac nguôn khác nhau
va tính toán thật kĩ cái giá phải trả cho việc sử dụng vốn đó.
Tính toán hoặc tính toán lai các tỷ lệ tài chính:Doanh thu/vốn đầu
tư,doanh thu/Vốn lưư dộng,lợi nhuận/vốn đầu tư,lợi nhuận sau thuế va sau khi
tra lãi/vốn riêng…Sau đó so sánh các tỷ lệ trên với các tiêu chuẩn định mức
hoặc vơi các dự an khác co đặc điêm tương tư.
Đối chiếu tiến đô rót vôn,góp vốn với tiến độ sử dung vốn ma dư án đòi
hỏi theo kế hoach đã định.Tinh toán và rà soát lai bản dự trù lỗ lãi,bảng tông kết
tài sản,bảng dự trù cân đối thu chi, đối chiếu tỉ lệ vốn tự có/vôn vay để đảm bảo
rằng ty lệ đó la hợp lý theo yêu cầu của các tổ chức tín dụng.
Đánh giá tỷ lệ vãng lai trong tưng năm,khả năng trả nợ tưng năm cũng
như ca đời dự án, rà soát lại”hành lang”an toàn của dự án bằng cách tinh toán va
so sánh lại các chi tiêu sau: điểm hoà vốn, độ nhạy của dự án,thu nhâp thuần,lợi
nhuân thuần,tỷ suất hoàn vốn nội bộ,thời gian hoàn vốn…của dự án.
3.6.Thẩm định một số khía canh khác xã hội cả dự án
Trong một số trương hợp chu thê thực hiện thẩm định quan tâm đến
những đóng góp cua dự án vào lợi ích chung thì họ tiến hành xem xét các chỉ
tiêu hiệu quả kinh tế xã hội như: đong góp của dự án vào lam tăng việc lam,
đong góp của dự án lam tăng thu hoặc tiết kiêm ngoại tệ, đóng góp của dự án
vào phát triển trình độ công nghê, đóng góp của dự an nâng cao mức sống của
dân cư…Thông thường người thẩm định tiến hanh xem xét mức độ phù hợp của
dự án đối với chiến lươc phát triển kinh tế xã hội,qui hoach va kế hoach phát
triển của ngành,của vung…từ đó thấy được các lợi thế của dự án so với cac dự
an khac,cac mức độ ưu tiên ưu đãi ma dự án có thể đươc hưởng.
4.Khái niệm và đặc điểm của công tác tín dụng trong thực hiện đầu
quả của việc sử dụng vốn vay không phụ thuộc hoàn toàn vào NHTM mà nó
chịu một phần tác động của người sử dụng vốn vay.Do đó để đảm bảo được
nguồn lợi và đảm bảo sử dụng nguồn vốn một cách có hiệu quả đã đặt ra cho các
NHTM rất nhiều mối quan tâm và chú ý.
Đối với hầu hết các quốc gia,vai trò chủ yếu của tín dụng trong đầu tư đặc
biệt là tín dụng trung dài hạn là góp phầm tăng cường cơ sở vật chất –kĩ thuật
của nền kinh tế,thúc đảy và đảm bảo sự tăng trưỏng lâu dài,vững chắc, độc lập
tự chủ của quốc gia.Công tác tín dụng theo dự án nếu hoạt động tốt tạo cơ hội
cho hoạt động đầu tư sẽ là trợ thủ đắc lực của các doanh nghiệp trong việc thoả
mãn các nhu cầu mua sắm các máy móc thiết bị,xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật
và một phần vốn lưu động tối thiểu để thực hiện các cơ hội kinh doanh.NHTM
là một tổ chức có kinh nghiệm trong việc nắm bắt thị trường,có khả năng thẩm
định các dự án,các chương trình đầu tư nhờ đó mà rủi ro được hạn chế đáng kể
đối với NHTM cũng như chủ đầu tư.Do vậy việc NHTM tài trợ vốn trung dài
hạn cho các doanh nghiệp,cá nhân vừa đảm bảo tính chất hiệu quả về mặt tốc độ
cơ cấu sản xuất vừa đảm bảo lợi ích của doanh nghiệp và lợi ích,mức độ suinh
lợi của các NHTM.
Sự cung cấp tín dụng trung dài hạn luôn kéo theo sự huy động tài nguyên
rất lớn vào một mục tiêu nào đó.Chính sự huy động đó nếu đạt hiệu quả sẽ đem
lại cho nền kinh tế,xã hội và NHTM cũng như chủ đầu tư những lợi ích to lớn,và
ngược lại nếu không đạt hiệu quả sẽ gây tổn hại to lớn cho xã hội,chủ đầu tư và
các NHTM.Do đó đàu tư theo tín dụng trong dự án phải đảm bảo phương châm
lấy hiệu quả chung của nền kinh tế và hiệu quả riêng của khách hang là mục
đích. Đồng thời phải đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của NHTM trong nền
kinh tế thị trường,phát huy được tối đa tiềm lực của mình.
Trong các hoạt động đầu tư hiện nay ở VN,tín dụng trong các NHTM là
hoạt động phức tạp chứa nhiều rủi ro và cạnh tranh gay gắt với các NH khác.
Đầu tư theo hoạt động tín dụng trung dài hạn là hoạt động gắn liền với những rủi
ro trong kinh doanh là điều không thể tránh khỏi – Đó là đối với doanh nghiệp –
còn đối với kinh doanh của NHTM là kinh doanh qua tay người khác,rủi ro của
xuất phát từ mối quan hệ giữa NH và doanh nghiệp - mối quan hệ tạo tiền đề và
hỗ trợ nhau phát triển,từ đặc điểm của công tác tín dụng trong hoạt động đầu
tư(kết quả của nó tác động đến rất nhiều chủ thể khác nhau).
Ba là nguyên tắc về tính chính xác và khoa học. Để dánh giá hiệu quả
kinh tế của các dự án đầu tu phải dựa trên một hệ thống chỉ tiêu có thể lượng
hoá được,kết hợp phân tích định tính và phân tích định lưọng.Theo nguyên tắc
này cần phải đảm bảo tính trung thực của thông tin,tính đúng đăsn của các công
thức và mức độ chính xác của các tính toán.Ngoài ra trong số rất nhiều phưong
pháp khác nhau cần lựa chọn một phương pháp khoa học,phù hợp với điều kiện
thực tế.
Dưới đây sẽ đề cập đến hiêu quả của công tác tín dụng trong hoạt động
đầu tư trên hai góc độ:Hiệu quả công tác tín dụng đối với NH và hiệu quả công
tác tín dụng trong hoạt động đầu tư tín dụng theo dự án.
4.2.2Hiệu quả công tác tín dụng trong NHTM:
Hoạt động tín dụng Nh góp phần quan trọng thúc đẩy điều kiện kinh tế xã
hội tiến bộ,tăng việc làm,tăng thu nhập của người lao động,thúc đẩy dân giàu
nước mạnh.Hiệu quả tín dụng đối với các NHTM thể hiện thông qua lợi ích của
nguồn thu nhập lợi nhuận bao gồm cả lợi ích hữu hình cvà lợi ích vô hình,lợi ích
kinh tế xã hội , được xác định qua công thức sau:
Pi = Cu –(Rc+Lic+Bd+Pr)* Ir * T
Trong đó:
Pi:thu nhập lợi nhuận(profit income)
Cu:nguồn vốn tiền tệ khả dụng(usable Capital) bao gồm vốn tự có,vốn
chủ sở hữu,vốn huy động.
Rc:Dự trữ bắt buộc(Compulsory reserve) – do NH nhà nước quy định một
tỉ lệ/tổng số vốn huy động và phải gửi tại NH Nhà nước
Lic:vốn thanh khoản hiện hành(current liquidity) ;là số vốn để đáp ứng
nhu cầu thanh toán trước mắt cho người gửi tiền trích từ vốn tiền tệ khả dụng.
Bd:Nợ khó đòi không có khả năng thu hồi (Bad debt)
Pr:quỹi dự phòng rủi ro(Províon rate)
đến quy mô dự án,không tính đến thời điểm phát sinh chi phí và thu nhập.vì vậy
chỉ tiêu này phải sử dụng kết hợp với các chỉ tiêu khác trong đánh giá dự án.
-chỉ tiêu phân tích đánh giá khả năng thanh toán:gồ tỷ lệ lưu hoạt và tỷ lệ
cấp thời
Giá trị tài sản lưu động
Tỷ lệ tài sản =
Giá tìa sản ngắn hạn và nợ đến hạn
Giá trị tài sản lưu động – giá trị tồn kho
Tỷ lệ cấp thời =
Giá trị tài sản nợ đến hạn
Dự án được đánh giá là có khả năng thanh toán nếu tỷ lệ lưu hoạt thuộc
khoảng từ 2đên 4 , tỷ lệ cấp thời xấp xỉ 1.
-Chỉ tiêu phản ánh khả năng trả nợ của dự án: được xác định bằng tỷ lệ
giữa khả năng tạo vốn bằng tiền của dự án và nghĩa vụ hoàn trả (bao gồm nợ gốc
và lãi phải trả hang năm). Dự án có khả năng trả nợ tốt nếu tỷ lệ này lớn hơn
hoặc bằng 2.
III.Vai trò của thẩm định đối với công tác tín dụng trong hoạt động đầu tư
theo dự án của NHTM.
NH với tư cách là “bà đỡ” về mặt Tài chính cho các dự án sản xuất kinh
doanh,thường xuyên làm công tác thẩm định.Có thể thấy thẩm định đã trở thành
một bước không thể thiếu đối với công tác tín dụng trong hoạt động đầu tư
Sơ đồ 1:quá trình thự hiện tài trợ vốn
(Quá trình thực hiện tài trợ vốn)
Nhìn vào sơ đồ trên có thể thấy rằng các NHTM tiến hành thẩm định ngay
từ đầu đối với tất cả các dự án,và đúng như bản chất của hoạt động thẩm định thì
các NHTM chỉ đưa ra quyết định khi đã có được một sự xem xét cẩn thận.
Chính vì thẩm định sẽ giúo NHTM có được sự đánh giá đúng đắn và chắc
chắn hơn về dự án nên tù đó có thể khẳng điịnh Thẩm định là nhân tố quyết định
đến hiệu quả đâu tư tín dụng theo dự án.vai trò của thẩm định thể hịên cụ thể:
*.Thẩm định giúp lựa chọn dự án tốt nhất để đầu tư :
ngân
hàng