thực trạng ô nhiễm môi trường và quản lý môi trường trong phát triển công nghiệp - Pdf 10

MỞ ĐẦU
Sau 20 năm thực hiện đường lối đổi mới do Đảng ta đề xướng và lãnh
đạo, đất nước đã chuyển sang thời kỳ phát triển mới: thời kỳ công nghiệp hóa,
hiện đại hóa. Nền kinh tế của Việt nam đã có nhiều biến tích cực, tăng trưởng
ngày càng cao. Sự phát triển của công nghiệp,nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy
sản và dịch vụ,đặc biệt là công nghiệp đã góp phần không nhỏ vào sự phát
triển chung của toàn xã hội, song cũng chính từ sự phát triển đó đã làm nảy
sinh nhiều vấn đề môi trường nghiêm trọng. Vì vậy nhiệm vụ bảo vệ môi
trường hiện đang là vấn đề hết sức cấp bách của thời đại, là thách thức gay gắt
đối với tương lai phát triển của tất cả các quốc gia trên hành tinh, trong đó có
Việt Nam.
Để thực hiện các mục tiêu về môi trường cũng như nhiều nước trên thế giới,
Việt Nam đang sử dụng công cụ pháp lý hay còn gọi là “Mệnh lệnh-Kiểm
soát” trong quản lý môi trường. Đây là biện pháp hữu hiệu, thường đưa lại kết
quả nhanh. Tuy nhiên “Mệnh lệnh-Kiểm soát” chưa tạo điều kiện để các
doanh nghiệp lựa chọn giải pháp tối ưu là tuân thủ quy định của nhà nước về
bảo vệ môi trường.
Các công cụ kinh tế được xây dựng dựa trên các nguyên tắc cơ bản của nền
kinh tế thị trường với mục đích điều hòa xung đột giữa tăng trưởng kinh tế và
bảo vệ môi trường. Các công cụ kinh tế sẽ tạo điều kiện để các doanh nghiệp
chủ động lập kế hoạch bảo vệ môi trường va tuân thủ pháp luật thông qua
việc lồng ghép chi phí bảo vệ môi trường với chi phí sản xuất kinh doanh va
giá thành sản phẩm. Đây là biện pháp đang được nhiều nước trên thế giới vận
dụng và đã đem lại những kết quả khả quan. Trong điều kiện của nướchiện
nay, khi mà ngân sách nhà nước còn khó khăn,khả năng bố trí kinh phí cho
các mục tiêu về quản lý, giữ gìn và bảo vệ môi trường còn hạn chế thì việc sử
dụng các công cụ kinh tế để huy đọng nguồn lực toàn xã hội tham gia bảo vệ
môi trường (thông qua các công cụ thuế,phí,các quỹ bảo vệ môi trường…) là
1
hướng đi đúng, vừa giúp giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước, vừa giúp
đạt được các mục tiêu về bảo vệ môi trường với hiệu quả cao hơn.

3.2.2. Thuế tài nguyên 17
3.2.3. Cấp giấy phép ô nhiễm chuyển nhượng 18
3.2.4. Quỹ bảo vệ môi trường 19
3.2.5 Một số công cụ kinh tế khác 20
IV. Những giải pháp đẩy mạnh sử dụng các công cụ kinh tế nhằm bảo vệ môi trường
trong phát triển công nghiệp 22
4.1. Những giải pháp có tính chiến lược 22
4.1.1 Các giải pháp về chính sách 22
4.1.2. các giải pháp về thể chế 24
4.1.3. Các giải pháp về nâng cao nhận thức cộng đồng 25
4.2. Những giải pháp cần giải quyết trước mắt 27
KẾT LUẬN 28
TÀI LIỆU THAM KHẢO 29
3
NỘI DUNG
I. Thực trạng ô nhiễm môi trường và quản lý môi trường trong phát triển
công nghiệp.
1.1. Thực trạng ô nhiễm môi trường.
Ô nhiễm môi trường là tình trạng môi trường bị ô nhiễm bởi các chất hóa
học hoặc các dạng năng lượng như tiếng ồn, nhiệt, ánh sáng tới mức độ gây
ảnh hưởng có hại cho sức khỏe con người, các cơ thể sống khác, hoặc hại cho
chính môi trường. Có 3 loại ô nhiễm môi trường chính là: Ô nhiễm môi
trường đất, ô nhiễm môi trường nước. và ô nhiễm môi trương không khí.
Ô nhiễm môi trường đất xảy ra khi các chất hóa học bị nhiễm đất qua các
hoạt động chủ động của con người như bón phân hóa học, phun thuốc trừ
sâu, hoặc do bị rò rỉ từ các thùng chứa ngầm. Ngày nay khi công nghiệp
càng phát triển, gày càng có nhiêu các loai thuốc trừ sâu, hay phân bón hóa
học được sử dụng… là nguyên nhân gây ra ô nhiễm môi trường cục bộ, làm
4
suy thoái môi trương đất. Thực tế cho thấy các loại đất bị thoái hóa chiếm hơn

2
S vượt 4,2 lần, hàm lượng NH
3
vượt 84 lần tiêu chuẩn cho phép nên
đã gây ô nhiễm nặng nề các nguồn nước mặt trong vùng dân cư.
Mức độ ô nhiễm nước ở các khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công
nghiệp tập trung là rất lớn. Theo ước tính, mỗi khu công nghiệp thải ra
khoang từ 3000-10.000 m nước thải/ngày đêm. Như vậy tổng lượng nước thải
công nghiệp của các khu công nghiệp trên cả nước lên khoảng 500.000-
700.000m3/ngày đêm.
Ô nhiễm không khí, nhiễm không khí là kết quả của sự thải ra không khí
các chất thải khí độc hại ở thể hơi, bụi, khí. Làm tăng đột biến các chất như
CO
2
, NO
X
, SO
X

Cùng với sự phát triển kinh tế và quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa, trong những năm gần đây, tình trạng ô nhiễm không khí đang gia tăng ở
Việt Nam. Giải quyết vấn đề này khá phức tạp, đòi hỏi phải xác định được
mức độ ô nhiễm, nhận dạng các quy luật diễn biến chất ô nhiễm và nguồn
phát sinh để từ đó có hướng xử lý đúng.
Theo các chuyên gia môi trường, nguyên nhân gây ra ô nhiễm không khí
ngày càng gia tăng là do dân số, xe máy, ôtô, công nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp phát triển quá nhanh, nhất là không gian đô thị phát triển nhanh hơn hạ
tầng cơ sở.
. Thực tế cho thấy khói thải từ khí đốt các ngành công nghiệp, sinh hoạt
…đã và đang làm chất lượng không khí xấu đi. Theo thống kê của Cục Bảo

Tuy nhiên, việc thực hiện các mục tiêu trên đây vẫn là một thách thức
đối với các cơ quan của Chính phủ. Các cơ quan này thường thiếu năng lực,
công cụ và tầm ảnh hưởng để làm cho việc bảo vệ môi trường trở thành một
nhân tố then chốt trong việc lập quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội.
Do đó, hiện tại chi phí xây dựng hệ thống chất thải cùng với việc chưa
có cơ chế hỗ trợ thỏa đáng từ phía nhà nước, là một trong những nguyên nhân
khiến các nhà đầu tư chậm triển khai hệ thống này. Ngoài ra, hệ thống pháp
luật về bảo vệ môi trường trong các khu công nghiệp còn chưa hoàn chỉnh.
Chưa hình thành hệ thống các quy định thống nhất về công tác quản lý môi
7
trường theo các loại hình ô nhiễm rắn, lỏng, khí và chưa thích hợp với đặc
điểm của các KCN - đòi hỏi quản lý ô nhiễm theo từng ngành và theo cả hệ
thống trong KCN là chưa phù hợp. Quy định về thẩm định môi trường đối với
các dự án trong KCN chậm được đổi mới và không có chế tài mang tính bắt
buộc. Ngoài cơ chế hỗ trợ theo Quyết định 183 năm 2003 của Thủ tướng
Chính phủ, thì cơ chế hỗ trợ xây dựng hệ thống xử lý chất thải ở KCN vẫn
chưa được hình thành. Hơn nữa, việc có nhiều đầu mối quản lý KCN cũng
dẫn đến hiệu quả phối hợp giữa các đơn vị trong quản lý môi trường trong
KCN chưa được tốt
Quản lý Nhà nước về tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường có vị
trí và vai trò cực kỳ quan trọng trong mối quan hệ giữa con người - xã hội - tự
nhiên: đó là vai trò quản lý, điều chỉnh, kiểm soát và giám sát việc khai thác,
sử dụng tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường. Cho nên, Việt Nam cần
phải có sự hợp tác khu vực và quốc tế trong việc giải quyết vấn đề môi
trường.
II. Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng các công cụ kinh tế nhằm
bảo vệ môi trường trong phát triển công nghiệp.
2.1. Cơ sở phương pháp luận.
2.1.1. Quan hệ tương tác giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường.
Kinh tế và môi trường có mối quan hệ tương tác chặt chẽ với nhau.

nguyên nhân làm giảm sút tăng trưởng kinh tế và tác động trực tiếp tới sức
khỏe con người.
2.1.2. Phát triển kinh tế bền vững.
Để đảm bảo cho tăng trưởng kinh tế có tính ổn định và bền vững các
quốc gia cần phải đồng thời quan tâm tới 3 mục tiêu cơ bản là: mục tiêu kinh
tế, mục tiêu xã hội và mục tiêu môi trường. Nếu nền kinh tế của quốc gia nào
9
thục sự đạt được 3 mục tiêu đó thì chính là nền kinh tế hướng tới sự phát triển
bền vững.
Như vậy để hướng tới một sự phát triển bền vững, các quốc gia đều phải
cân nhắc, tính toán, xem xét, cân bằng cả 3 mục tiêu đã nêu trên. Ba mục tiêu
này có quan hệ mật thiết với nhau, ràng buộc và quy định lẫn nhau. Phát triển
kinh tế nhằm thỏa mãn tốt hơn nhu cầu vật chất của con người trên cơ sở nâng
cao không ngừng tính hiệu quả, bảo đảm tính ổn định, vững chắc.
Bảo vệ môi trường nhằm duy trì và phát huy sự đa dạng sinh học, bảo
tồn các nguồn TNTN , ngăn chặn ô nhiễm là các tiền đề cơ bản bảo đảm cho
sự tồn tại và phát triển bền vững của toàn xã hội. Để bảo vệ môi trường một
cách hữu hiệu các quốc gia cần tiến hành thường xuyên đánh giá tác động tới
môi trường của các hoạt động phát triển, tiền tệ hóa tác động môi trường của
chúng thông qua các công cụ có hiệu lực của nền kinh tế thị trường – các
công cụ kinh tế.
2.2. Cơ sở khoa học - thực tiễn.
2.2.1. Nguyên tắc PPP.
Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền ( tiếng Anh là popluter pays
principle, viết tắt là PPP ).
Theo nguyên tắc này thì người gây ra ô nhiễm phải chịu mọi khoản chi
phí để thực hiện các biện pháp làm giảm ô nhiễm do chính quyền tổ chức thực
hiện,nhằm khắc phục và hoàn trả.
Nguyên tắc PPP xuất phát từ những luận điểm của Pigou về nền kinh tế
phúc lợi. Trong đó, nội dung quan trọng nhất đối với một nền kinh tế lý

dành cho các mục tiêu môi trường thì lúc đó chính sách này có thể được coi là
chính sách hiệu quả về môi trường. Mục đích hướng tới của BPP là nhằm bảo
vệ môi trường, do đó công chúng ủng hộ rộng rãi.
11
III. Các công cụ kinh tế được sử dụng nhằm bảo vệ môi trường trong
phát triển công nghiệp.
3.1. Sự cần thiết phải sử dụng các công cụ kinh tế.
Các công cụ kinh tế là một trong số các công cụ của quản lý môi trường.
Chúng có thể được sử dụng thay thế hoặc bổ sung cho các công cụ khác của
quản lý môi trường. Khi sử dụng các công cụ kinh tế trong quản lý môi
trường chính là sử dụng sức mạnh của thị trường để bảo vệ tài nguyên và môi
trường, đảm bảo cân bằng sinh thái.
Công cụ kinh tế hay còn gọi là công cụ dựa vào thị trường là những công
cụ chính sách được sử dụng nhằm thay đổi chi phí và lợi ích của các hoạt
đông kinh tế thường xuyên tác động tới môi trường (các cá nhân và tổ chức
kinh tế )để tạo ra các ảnh hưởng đến hành vi của các tác nhân kinh tế theo
hướng có lợi cho môi trường.
Hiện nay công cụ kinh tế đã và đang được ứng dụng rộng rãi trên thế
giới, đặc biệt là tại các nước công nghiệp phát triển OECD.
Ở các nước đang phát triển chính sách môi trường thường sử dụng hai
loại
công cụ chủ yếu là mệnh lệnh và kiểm soát (hay pháp lý) và các công cụ
kinh tế. Các công cụ khác như: công cụ kỹ thuật quản lý, công cụ giáo dục
truyền thông…cũng được sử dụng nhằm bổ sung hỗ trợ và góp phần hoàn
chỉnh hai công cụ pháp lý và kinh tế. Tuy nhiên việc sử dụng các công cụ
kinh tế là cần thiết vì nó đem lại nhiều điều thuận lợi sau:
3.1.1. Tăng hiệu quả chi phí.
Hệ thống công cụ kinh tế ( tiếng Anh là Economic Instrument System,
viết tắt là EIs ) thường đạt được thành công cùng với mục tiêu môi trường
như là các quy định “điều hành và kiểm soát” (CAC) nhưng ở mức chi phí

13
Loại công cụ kinh tế này được sử dụng nhằm: một mặt tăng nguồn thu
cho ngân sách nhà nước, mặt khác hạn chế hoặc ngăn chặn các tác nhân gây ô
nhiễm môi trường tại các đô thị và khu công nghiệp.
Để đảm bảo công bằng xã hội trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, bất kể
một doanh nghiệp nào, trong quá trình hoạt động sản xuất sản xuất kinh
doanh mà thải ra các loại chất độc hại gây ô nhiễm môi trường, đều phải nộp
thuế ô nhiễm môi trường. Đây là công cụ hữu hiệu có tác dụng điều hoà trực
tiếp các quan hệ lợi ích giữa xã hội và doanh nghiệp; từ đó, làm lành mạnh
các quan hệ xã hội, đồng thời khuyến khích ý thức tiết kiệm, giảm bớt sự lãng
phí trong quá trình khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên và
tăng cường các biện pháp bảo vệ môi trường.
Để phát huy tối đa công cụ thuế ô nhiễm môi trường, chúng ta cần phải
coi trọng tới cả hai hình thức thu gián tiếp và thu trực tiếp. Việc tính thuế phải
được dựa trên cơ sở xác định các yếu tố đầu vào (nguyên, nhiên liệu được sử
dụng trong sản xuất) hoặc dựa trên cơ sở xác định các yếu tố đầu ra (tiêu thụ
các hàng hoá liên quan tới việc gây ô nhiễm môi trường). Xác định các yếu tố
đầu vào của sản xuất hoặc dịch vụ, nguyên nhân có thể gây ra ô nhiễm môi
trường để tính thuế có tác dụng điều chỉnh các hoạt động sản xuất kinh doanh
theo hướng tích cực, tạo ra sự hài hoà giữa lợi ích của xã hội và của các doanh
nghiệp.
Cho tới nay, trên thế giới đã xuất hiện một số loại thuế ô nhiễm môi
trường hoặc các loại thuế có liên quan tới bảo vệ môi trường. Loại thuế ô
nhiễm môi trường đầu tiên được một nhà khoa học người Anh, tên là Pigou
đưa ra vào năm 1920 (loại thuế này được gọi là thuế Pigou). Với mục đích
của việc thu thuế là nhằm thu hẹp khoảng cách giữa chi phí cá nhân (MC)
biên giới chi phí xã hội (MSC) biên; phương pháp chủ yếu là đánh thuế vào
từng đơn vị sản phẩm gây ô nhiễm môi trường.
Gọi T là mức thuế đánh vào 1 đơn vị chất thải
T + MSC - MC

15
chất thải gây ô nhiễm môi trường. Hiện nay, thực hiện một số mục tiêu kinh
tế nhất định, Nhà nước đưa ra một số sắc thuế có tác động tích cực đối với
môi trường như thuế tiêu thụ đặc biệt, đây là loại thuế đánh vào một số loại
sản phẩm hàng hoá mà xã hội không khuyến khích sử dụng như: thuốc lá,
rượu, bia loại thuế này có tác dụng gián tiếp làm hạn chế các nguyên nhân
gây ô nhiễm, các loại thuế này cần phải được coi trọng. Việc áp dụng các
phương pháp tính thuế đúng, theo quy định của luật pháp không chỉ khuyến
khích các cơ sở sản xuất kinh doanh tìm kiếm các giải pháp hữu hiệu để đẩy
mạnh sản xuất, mà còn buộc các doanh nghiệp sử sụng các nguồn tài nguyên
một cách tiết kiệm và tham gia tích cực vào các hoạt động bảo vệ môi trường.
Phí ô nhiễm môi trường là công cụ hỗ trợ cho các hoạt động bảo vệ và quản lý
môi trường.
Phí là khoản thu của nhà nước, được sử dụng để bù đắp một phần các chi
phí cho công tác bảo vệ và quản lý môi trường, đồng thời đảm bảo cung cấp
dịch vụ trực tiếp cho người nộp phí. Như vậy, khác với thuế ô nhiễm môi
trường, phần lớn nguồn thu từ phí sẽ được sử dụng cho công tác bảo vệ và
quản lý môi trường, giải quyết một phần các vấn đề môi trường do những
người đóng phí gây ra.
+ Phí phát thải các chất gây ô nhiễm môi trường.
Đây là loại phí được thu từ các cơ sở sản xuất kinh doanh, phát thải các
chất thải gây ô nhiễm ra môi trường (khí thải, nước thải hoặc chất thải rắn).
Phí phát thải được thu dựa trên cơ sở xác định số lượng và tính chất độc hại
của các chất gây ô nhiễm môi trường. Nếu lượng các chất phát thải càng lớn,
tính độc hại của các chất gây ô nhiễm môi trường càng cao thì doanh nghiệp
phải nộp phí càng nhiều.
Chỉ cần phân tích các dữ liệu (lượng, loại chất thải gây ô nhiễm), để xác
định mức tổn thất môi trường đó các chất thải gây ra. Các quy định về mức
được xả thải đối với mỗi doanh nghiệp cần phải nhất quán với các giấy phép
đã được cấp. Nếu có những quy định khác nhau giữa các ngành, giữa các lĩnh

17
Mục đích thuế tài nguyên là nhằm xác lập mức tối đa về sử dụng TNTN ,
khuyến khích những hành vi bảo đảm cũng như bền vững.
Thuế tài nguyên phải được sử dụng từng bước để tránh làm mất cân bằng
kinh tế, phải hợp lý và dễ điều chỉnh, có lợi cho kinh tế xã hội. Nếu muốn
giảm suy thoái tài nguyên và ô nhiễm môi trường, chính phủ cần tăng thuế.
Ngược lai nếu muốn tăng việc làm, giảm thất nghiệp cần giảm thuế. Thuế tài
nguyên có sự phân biệt giữa các sản phẩm cùng loại với mức độ tác động
khác nhau lên môi trường theo hướng ngày càng gây tác hại tới môi trường,
mức thuế phải nộp càng cao.
Thuế tài nguyên gồn các loại thuế chủ yếu: thuế sử dụng đất, thuế sử
dụng nước, thuế rừng, thuế tiêu thụ năng lượng.
Theo thông tư 42/2007 của Bộ Tài Chính mới được ban hành đã ấn định
mức thuế tài nguyên từ 0 – 40% áp dụng cho các loại TNTN trên lãnh thổ
Việt Nam. Các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước, không phân biệt ngành
nghề, quy mô, hình thức hoạt động, nếu có khai thác TNTN theo quy định của
pháp luật Việt Nam đều phải đăng ký, kê khai và nộp thuế tài nguyên. Thuế
tài nguyên dược tính theo công thức:
Thuế tài nguyên phải nộp trong kỳ =Sản lượng tài nguyên thương phẩm
thực tế khai thác * giá tính thuế đơn vị tài nguyên * Thuế suất -Số thuế tài
nguyên được miễn giảm(nếu có).
Cụ thể nước thiên nhiên khai thác để sản xuất nước đá( trừ sản xuất
nước đá tinh lọc) áp dụng thuế suất thuế tài nguyên là 1%. Quặng apatit khai
thác và bán ra áp dụng thuế suất là 2%, nhóm khoáng sản kim loại có thuế
suất 2-5%, khoáng sản không kim loại 1-8%, sản phẩm rừng tự nhiên 5-40%,
thủy sản tự nhiên 2-10%, nước khoáng nước thiên nhiên 0-4%
3.2.3. Cấp giấy phép ô nhiễm chuyển nhượng.
Loại giấy này cho phép được đỏ phế thải hay sử dụng một nguồn tài
nguyên đến một mức định trướcdo pháp luật quy định và được chuyển
nhượng bằng cách đấu thầu hoặc trên cơ sở quyền sử dụng đã có sẵn. Các

19
Hơn 3 năm qua, với những nỗ lực của mình, Quỹ BVMTVN đã tích cực giúp
đỡ, tư vấn và hỗ trợ tài chính cho các dự án tại các địa phương.
Năm 2005, Quỹ tiếp tục hỗ trợ tài chính cho các dự án môi trường theo
hai phương thức: cho vay với lãi suất ưu đãi và tài trợ không hoàn lại với tổng
số vốn hơn 21 tỷ đồng. Ngoài ra Quỹ đã tài trợ 650 triệu đồng để khắc phục ô
nhiễm môi trường của cơn bão số 7, 8 tại chín địa phương ở miền Bắc, Miền
Trung, Nam trung Bộ và miền núi Bắc Bộ. Quỹ đã cho các dự án môi trường
vay vốn thời hạn 5 năm với lãi suất ưu đãi 5,4%/năm. Năm 2006, nhờ được
nâng cao một phần cơ sở vật chất và có thêm kinh nghiệm trong các hoạt
động cùng với sự hỗ trợ về cơ chế của Hội đồng Quản lý, kế hoạch triển khai
của Quỹ được xúc tiến thuận lợi hơn. 6 tháng đầu năm 2006, Quỹ đã hỗ trợ
được hơn 20 tỷ đồng cho 7 dự án. Đặc biệt, khi cơn bão số 6 có tên quốc tế
Xangsane phá hoại nặng nề các tỉnh miền Trung, Quỹ BVMTVN đã tiến hành
hỗ trợ khẩn cấp cho các tỉnh với số tiền 210 triệu đồng.
Như vậy, trong hơn 4 năm hoạt động Quỹ BVMTVN đã tiến hành hỗ trợ
cho các dự án với số vốn trên 40 tỷ đồng và tài trợ khẩn cấp gần 900 triệu
đồng. Ngoài ra Quỹ còn tham gia cùng các cơ quan trong và ngoài nước tài
trợ cho các chiến dịch ngày làm sách thế giới , ngày môi trường và cuộc thi
viết báo về đề tài bảo vệ môi trường của Việt Nam.
3.2.5 Một số công cụ kinh tế khác.
Đầu tư cho bảo vệ môi trường là công cụ quan trọng tạo ra chi phí cơ hội
tốt nhất cho phát triển bền vững. Thực tiễn cho thấy những quốc gia nào nhìn
nhận sớm vấn đề này sẽ tránh được những thiệt hại không đáng có do ô nhiễm
và suy thoái môi trường gây ra. Đầu tư cho bảo vệ môi trường có thể được
phân thành 2 nhóm cơ bản:
- Đầu tư quốc tế: Tức là đầu tư của các quốc gia, các tổ chức quốc tế và
cá nhân nước noài cho nước sở tại với mục tiêu bảo vệ môi trường. Ví dụ như
nguồn vốn của UNDP, ODA, WB…
20

4.1. Những giải pháp có tính chiến lược.
4.1.1 Các giải pháp về chính sách.
Từ năm 1991 đến nay, sau khi ban hành “Kế hoạch hành động quốc giai
về bảo vệ môi trường và phát triển lâu bền”, Việt Nam đã ban hành một loạt
các văn bản pháp luật và chính sách bảo vệ môi trường và một số văn bản
khác liên quan tới công tác bảo vệ môi trường. Theo thông kê sơ bộ trong 10
năm qua đã có gần 500 văn bản pháp quy được ban hành liên quan trực tiếp
hoặc gián tiếp đến công tác bảo vệ môi trường. Ngoài những văn bản pháp
luật và chính sách của cơ quan trung ương ban hành còn có nhiều các văn bản
của các cấp chính quyền địa phương có liên quan. Những cải cách lớn về
chính sách đã góp phần quan trọng trong công tác bảo vệ môi trường. Có thể
kể đến một số thay đổi lớn về chính sách liên quan trong giai đoạn 1991-2000
như sau:
- Luật bảo vệ môi trường được ban hành tháng 12 năm 1993 là cơ sở
quan trọng nhất cho các hoạt động bảo vệ môi trường nói chung và việc áp
dụng các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường nói riêng. Nghị định của
chính phủ số 175/CP ngày 18 tháng 10 năm 1994 qui định chi tiết việc thi
hành Luật bảo vệ môi trường và Pháp lệnh về phí và lệ phí của của ủy ban
thường vụ quốc hội sô 38/2001/PL-UBTVQH 10; Nghị định số 57/2002/NĐ-
CP của chính phủ ngày 3/6/2002 qui định chi tiết thi hành Pháp lệnh về Phí và
lệ phí là những căn cứ pháp lý quan trọng cho việc áp dụng các công cụ kinh
tế trong quản ly môi trường.
- Trong nhận thức và chủ trương của Đảng và Nhà nước đã xác định
quan điểm trong thiết kế, hoạch định mọi chính sách quản lý kinh tế xã hội là
phát triển kinh tế xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Bộ chính trị Ban chấp
hành trung ương Đảng đã có chỉ thị số 36-CT/TW ngay25/6/1998 về “tăng
cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại
22
hóa đất nước” đã khẳng định rằng bảo vệ môi trường là một nội dung cơ bản
không thể tách rời trong đường lối, chủ trương và kế hoạch phát triển kinh tế

4.1.2. các giải pháp về thể chế.
Môi trường và phát triển bền vững là một vấn đề có tính thời đại liên
quan đến nhiều ngành nhiều lĩnh vực. Đối với Việt Nam, bảo vệ môi trường
đã trở thành một trong những chính sách quan trọng của Đảng và Nhà nước
nhằm thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Trong những biên pháp mà nhà nước sử dụng để bảo vệ môi trường, pháp luật
đóng vao trò đặc biệt quan trọng. Sự hình thành hệ thống pháp luật về bảo vệ
môi trường và hệ thống các cơ quan quản lý môi trường các cấp đã tạo nền
tảng thể chế cần thiết cho việc thực thi các chức năng, nhiệm vụ của hoat
động bảo vệ môi trường
Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng các công cụ kinh tế quản lý
môi trường, Nhà nước cần có các giải pháp nhằm:
- Hoàn thiện quy định của Luật bảo vệ môi trườngvà các văn bản có liên
quan; (tiến hành bổ sung, sửa đổi Luật bảo vệ môi trường trình quốc hội phê
duyệt).
- Tăng cường năng lực về thể chế, đảm bảo sự thi hành các quy định của
pháp luậtvề bảo vệ môi trường; để đạt được các mục tiêu nêu trên, cần xác
định phương hướng hoàn thiện cơ sở pháp lý và thể chế cho quản lý môi
trưởng Việt Nam như sau:
+ Rà soát sự chồng chéo để có hướng phân định lại chức năng, nhiệm
vụ của các cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường và tài nguyên
thiên nhiên tránh tình trạng chồng chéo như hiện nay. Cần chú ý cả việc phân
định, phân cấp nhiệm vụ, quyền hạn giữa cơ quan quản lý ở trung ương với
cơ quan quản lý ở địa phương;
+ Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thông tiêu chuẩn môi trường phù
hợp với điều kiện của nước ta để làm cơ sở cho việc thực hiện và đánh giá
tình hình thực hiện.
24
+ Tiếp tục thể chế hóa các chính sách về sử dụng công cụ kinh tế trong
quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường. Đẩy mạnh hoat động Quỹ bảo vệ môi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status