Tài liệu TIỂU LUẬN: Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Hàng Hải - Chi nhánh Hà Nội - Pdf 10


TIỂU LUẬN:
Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng đối với
khu vực kinh tế ngoài quốc doanh tại
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Hàng
Hải - Chi nhánh Hà Nội

Lời nói đầu

Bằng việc huy động các khoản tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế, hoạt động của các
tổ chức tín dụng đã góp phần không nhỏ trong việc thu hút lượng vốn lớn để cho các
doanh nghiệp vay thực hiện tái đầu ttư thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Đây chính là hoạt
động truyền thống, chủ yếu của Ngân hàng. Chính vì vậy, kết quả huy động vốn của tổ
chức tín dụng cao hay thấp, có ảnh hưởng không chỉ doanh nghiệp sự tồn tại và phát triển
của bản thân tổ chức tín dụng mà nó còn tác động trực tiếp đến nền kinh tế, đặc biệt là
đối với một nền kinh tế vừa bước ra khỏi cơ chế bao cấp và đang khởi sắc trong những
bước đầu đổi mới như nước ta.
Hoà mình với công việc đổi mới chung của đất nước, cùng góp phần vào những
thành tựu đã đạt được trong thập niên qua, ngành ngân hàng đã phải vượt qua không ít

từ tháng 7 năm 1991 với thời hạn 25 năm, thời hạn này sẽ thay đổi khi có nghị quyết của
Đại hội đồng cổ đông.
MSB được thành lập trên cơ sở tự nguyện góp vốn của các cổ đông. Vì vậy vốn
điều lệ là do các cổ đông đóng góp, MSB tự chủ về tài chính, tự chịu trách nhiệm về kết
quả kinh doanh và chịu trách nhiệm với khách hàng của mình trước pháp luật.
Các chi nhánh, các văn phòng đại diện, các Công ty trực thuộc là pháp nhân duy
nhất có con dấu riêng, và làm nghĩa vụ đối với Nhà nước theo pháp luật quy định.
MSB có các trụ sở chính: Hải Phòng: (trụ sở chính): Giấy phép hoạt động số
001/NH - GP ngày 08/6/1991 và các chi nhánh:
+ Chi nhánh tại Hà Nội: Giấy phép hoạt động số 001/NH - GP ngày 08/6/1991.
+ Chi nhánh tại thành phố Hồ Chí Minh: Giấy phép số 001/NH - GP ngày
08/6/1991.
+ Chi nhánh tại Quảng Ninh: Giấy phép số 0001/NH - GTC ngày 15/9/1992.
+ Chi nhánh tại Cần Thơ: Giấy phép số 0007/NH - GTC ngày 29/3/1993.
+ Chi nhánh tại Đà Nẵng: Giấy chập thuận số 0008/GTC ngày 10/5/1993.
+ Chi nhánh tại Vũng Tàu: quyết định số 185/QĐ - NH5 ngày 12/7/1996.
Là một ngành thương mại cổ phần, hoạt động theo luật Ngân hàng và các tổ chức
ttín dụng, luật doanh nghiệp, MSB tiến hành các hoạt động nghiệp vụ huy động vốn trên
các loại như: vốn ngắn, trung, dài hạn (tiền gửi có kỳ hạn, không kỳ hạn, tiền gửi tiết
kiệm) bằng VND và ngoại tệ trong nước và ngoài nước đề đầu tư trực tiếp cho nền kinh
tế. Đối với hoạt động sử dụng vốn MSB cho vay ngắn hạn với các tổ chức kinh tế và cá
nhân được phép hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ, thương mại và các nhu
cầu hợp pháp khác. cho vay trung và dài hạn tuỳ theo tính chất và khả năng nguồn vốn
mang lại hiệu quả kinh tế và lợi nhuận, hoàn vốn đúng hạn MSB thực hiện các nhiệm vụ
khác như chiết khấu thương phiếu, trái phiếu và các giấy tờ khác, hùn vốn và liên doanh
theo pháp luật hiện hành và do hội đồng quản trị quyết định, thực hiện các nhiệm vụ kinh
doanh đối ngoại và các nhiệm vụ khác khi được ngân hàng Nhà nước cho phép.

Hành
chín
h -
Phòn
g
kiểm
soát
nội
Phòn
g
tài
chín
h kế
Phòn
g xử

rủi
ro
Phòn
g
dịch
vụ
khác
STT Các chỉ tiêu Năm 2000 Năm
2001

Tổng số Tỷ trọng %


276.337

77

4 Ngành khác 150.91

50,5

60.899

16,98

(Nguồn: Báo cáo hoạt động kinh doanh năm 2000)
Như vậy, trong tổng nguồn vốn huy động năm 2000 ngành Hàng Hải chiếm 7,19%
năm 2001 giảm xuống chỉ còn 5,7%., Ngành Bưu chính năm 2000 chiếm 41,58% năm
2001 tăng lên tới 77%. Đặc biệt đối với ngành Giao thông, trong năm 2001 huy động vốn
của Chi nhánh đã giảm rất mạnh (từ 68% xuống còn 27,8% trong tổng vốn huy động).
Với tình hình khách hàng của MSBHN như trên, nhưng Chi nhánh chưa thực sự
thu hút được các khách hàng lớn, khách hàng mang lại nhiều lợi ích cho MSBHN. Điều
này có thể nói rằng: chính sách khách hàng của MSBHN chưa có tính cạnh tranh, chi
nhánh chưa có khả năng đáp ứng được nhu cầu của khách hàng lớn, trong khi đó nhiều
doanh nghiệp vừa và nhỏ có uy tín chi nhánh chưa tiếp cận được.
3. Nguồn vốn của MSBHN.
Theo Điều 14, chương III của Điều lệ MSB thì vốn hoạt động của MSB gồm: vốn
điều lệ, vốn huy động, vốn tiếp nhận, vốn đi vay, vốn tích luỹ và vốn khác, hiện tại nguồn
vốn của MSBHN gồm:
- Nguồn huy động từ tổ chức kinh tế và cá nhân (gồm ngắn hạn dưới 12 tháng và
trung hạn từ 12 tháng trở lên).
- Nguồn huy động từ TCTTD khác ngoài hệ thống MSB (gồm ngắn hạn dưới 12


364.136

100

336.5
15

12,37
1

528.2
65

100

1 Hoạt động
TCKT$CN
200.00
0

6,000

293.000

80.4
6

298.0
00


4,469

46.769.5
0077.60
0

1,551

101.6
252 Huy động
TCTDMSB
5.632

0

5.632

1,5

015

0



0

80003 Nhận USD vốn từ trụ
sở chính
0

2,000

31.000

8,5

0

8,971

139.0
50

26

3.1 Ngắn hạn dưới 12
tháng
0

1,526

khác
0

0

0

0

0

0

0

0

5 Vốn cấp từ trụ sở 34.504

0

34.504

9,47 30.50 0

30.50 6


TT Chỉ tiêu
Năm 2000 Quy đổi Năm 2001 Quy đổi
VND USD Giá trị
Tỷ
trọn
g
VND USD
Giá
trị
Tỷ
trọn
g
Sử dụng vốn 240.13
6

8,000

364.136

100

336.5
15

12,37
1

528,2
65

9.000

200

12.10
02 Cho vay 96.020

10.25
0

254.896

70

136.0
00

11.87
1

320.0
00

61


100.5
502.2 Trung và dài
hạn
48.000

6.000

141.00046.00
0

7.290

158.9
952.2.
1
Hợp vốn và uỷ
thác
38.600

2.500



25

3.1 Dưới 12 tháng 30.000

0

30.00060.00
0

0

60.00
03.2 Trên 12 tháng 30.000

0

30.00070.00
0

0


3,1

29.11
1

0

29.11
1

6

(Nguồn: Báo cáo hoạt động kinh doanh năm 2001)
Qua biểu đồ trên ta thấy:
+ Về dự trữ thanh toán: vốn dùng thanh toán năm 2000 đạt tỷ lệ 6% so với vốn
huy động. Năm 2001 chi nhánh đã tăng lên gần 8%.
+ Về nghiệp vụ cho vay: doanh số cho vay năm 2001 là 320.000 triệu đồng, chiếm
tỷ trọng 61% trong tổng vốn sử dụng giảm 9% so với năm 2000 với số lượng cho vay là
254.895 triệu đồng. Doanh số cho vay tăng chủ yếu do tăng cho vay với một số khách
hàng lớn như Công ty xuất nhập khẩu vật tư đường biển, do tăng cho vay đồng tài trợ và
uỷ thác đầu tư ngắn hạn từ 72.230 triệu VND năm 2000 lên 100.550 triệu VND năm
2001.
+ Về chất lượng tín dụng: hoạt động tín dụng đem lại nguồn thu chủ yếu cho ngân
hàng nhưng cùng là hoạt động hàm chứa nhiều rủi ro cho ngân hàng. Hoạt động tín dụng
chỉ hiệu quả khi doanh số cho vay lớn, lãi cho vay nhiều và nợ quá hạn ở mức thấp. Hiện
nay, chi nhánh đã dần tăng vòng quay đồng vốn, đồng thời tỷ trọng dư nợ có khả năng

kinh tế
20.678

100

18.584

100

- Nợ quá hạn kinh tế ngoài
quốc doanh
14.681

71

14.310

77

- Nợ quá hạn kinh tế quốc
doanh
5997

29

4.274

23

2. Nợ quá hạn theo thời hạn 20.678
Nguyên nhân của tình hình NQH trên một mặt là do hoạt động kinh doanh của
khách hàng thường gặp rủi ro, do khách hàng chày ỳ trong việc trả nợ Ngân hàng. 5. Các nghiệp vụ khác của MSBHN.
Cùng với sự hội nhập mở cửa của nền kinh tế, hoạt động ngân hàng không chỉ bó
hẹp trong các hoạt động tiêu dùng, cho vay đối với các tổ chức kinh tế và cá nhân. Trong
cả nước mà còn theo đà phát triển của các ngành kinh tế khác như ngành xuất nhập khẩu,
giao thương quốc tế. Để hỗ trợ và kinh doanh trong hoạt động xuất nhập khẩu, ngân hàng
đã cung cấp các dịch vụ bảo lãnh và cam kết tín dụng thư xuất nhập khẩu, các nghiệp vụ
bảo lãnh khác. Đồng thời để đáp ứng nhu cầu thanh toán bằng ngoại tệ, các ngân hàng
tham gia cung cấp: mua bán, ngoại tệ cho các đơn vị kinh tế tạo điều kiện cho các đơn vị
thực hiện thanh toán nhanh gọn, chi phí rẻ qua dịch vụ thanh toán của ngân hàng.
MSBHN cung cấp các dịch vụ.
* Nghiệp vụ bảo lãnh cam kết.
Hoạt động này hiện nay tại chi nhánh đang được mở rộng, đó là một trong nhiều
tiến bộ mới của MSBHN. Tình hình bảo lãnh trong năm 2001 của thư tín dụng nhập khẩu
và bảo lãnh khác tiếp tục tăng so với cùng kỳ năm ngoái. Năm 2000 số L/C mở là 142
món, sang năm 2001 đạt 114% so với 162 món. Các bảo lãnh khác phát sinh năm 2001
gần gấp hai lần năm 2000 với 109 món. Mặc dù số lượng các món tăng lên nhưng tổng
giá trị bảo lãnh giảm, điều này cho thấy sự biến đổi tích cực về chất trong nghiệp vụ bảo
lãnh và phù hợp với tình hình thực tế và khả năng của ngân hàng.
* Nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ.
Với sự đổi mới trong việc quản lý hoạt động kinh doanh ngoại tệ trong nội bộ
ngân hàng và trên thị trường liên ngân hàng, MSBHN đã chủ động hơn trong việc theo
dõi, quản lý và điều tiết ngoại tệ. Bằng hoạt động kinh doanh ngoại tệ MSBHN ngoài
việc chuẩn bị đã chuẩn bị tốt về khách hàng xuất nhập khẩu, chi nhánh cũng đã chuẩn bị
tốt về kỹ thuật kinh doanh ngoại tệ và đón bắt được cơ hội kinh doanh. Chính vì vậy

6.671

7.512

+841

+12,6

Chi phí hoạt động kinh doanh 3.624

3.940

+316

8,7

Thu nhập thuần 3.047

3.572

+525

+17Từ bảng trên, ta thấy thu nhập từ hoạt động kinh doanh năm 2001 tăng so với năm
2000 là 12,6% (tăng về số tuyệt đối là 841 triệu đồng).
Chi phí từ hoạt động kinh doanh năm 2001 tăng so với năm 2000 là 8,7% (số tuyệt
đối là 316 triệu đồng).
Do vậy, thu nhập của năm 2001 đạt 3.572 triệu đồng. Tăng so với năm 2000 là

đối
Số tương đối
(%)
Tổng huy động vốn 298.632

358.715

60.083

+20

1. Khách hàng là doanh nghiệp 236.919

270.557

+33.638

+14

1.1. Tiền gửi không kỳ hạn 150.132

190.159

+40.027

+26.6

1.2. Tiền gửi có kỳ hạn 84.473

100.306


+ 240

4. Tài trợ uỷ thác đầu tư 8.994

17.942

+ 8.949

+ 99

(Báo cáo hoạt động kinh doanh năm 2001)
Từ kết quả so sánh qua hai năm cho thấy, vốn huy động của chi nhánh có chiều
hướng không ngừng tăng trưởng, vốn huy động năm 2001 tăng 10% so với vốn huy động
năm 2000, tăng 60,080 triệu đồng. Trong đó:
Hoạt động từ khách hàng là doanh nghiệp năm 2001 đạt 270,557 triệu đồng tăng
so với năm 2000 là 14% (tăng về số tuyệt đối là 33,638 triệu đồng).
Hoạt động từ TGTTK và TGCN năm 2001 đạt 70,158 triệu đồng, tăng 33% so với
năm 2000 (tăng về số tuyệt đối là 17,458 triệu đồng).
Nhìn vào mức tăng trưởng của vốn huy động qua hai năm, nếu nhìn nhận về
MSBHn thì đây là điều đáng mừng trong quá trình thay đổi nâng cao chất lượng hoạt
động.
Các hình thức huy động.
+ Đối với tổ chức kinh tế
Huy động vốn từ tổ chức kinh tế của MSBHN thực hiện dưới các hình thức; tài
khoản tiền gửi thanh toán, tài khoản tiền gửi có kỳ hạn, tài khoản chuyên chi, tài khoản
giữ hộ chuyên dùng, tài khoản uỷ thác, tài khoản ký ngân, tài khoản tiền gửi chung.

thanh toán L/C, Đại lý Hàng Hải
+ Đối với cá nhân.
Hiện tại MSBHN huy động vốn từ cá nhân dưới hai hình thức.
- Huy động từ tài khoản tiền gửi tiết kiệm
- Huy động từ tài khoản tiền gửi thanh toán
+ Tài khoản tiền gửi tiết kiệm là tài khoản khách hàng mở tại ngân hàng với mục
đích hưởng lãi suất cao. Hiện tại ở Việt Nam, hình thức gửi tiền này phổ biến và được
người dân ưa thích.
+ Tài khoản tiền gửi thanh toán.
Nó cũng giống như tài khoản tiền gửi thanh toán của các tổ chức kinh tế gửi tại
ngân hàng. Hiện nay các tài khoản này được gửi tại MSBHN chủ yếu là cho các cá nhân
buôn bán kinh doanh.
III. Quy trình của một số hoạt động cụ thể.
1. Quy trình cho vay tại MSBHN.
Căn cứ điều lệ Ngân hàng Thương mại Cổ phần Hàng Hải Việt Nam đã được
thống đốc Ngân hàng Nhà nước cho phép áp dụng tại quyết định số 219/QĐ - NH5 ngày
10/7/1997 căn cứ hướng dẫn số 148/QĐ - HĐQT ngày 10/4/1998 của Chủ tịch Hội đồng
Quản trị MSB về thực hiện quy chế cho vay của TCTD đối với khách hàng ban hành
theo quyết định số 324/1998/QĐ - NHNN1 ngày 30/9/1998 của thống đốc ngân hàng
Nhà nước.
Căn cứ vào quy định số 161/QĐ - HĐQT ngày 20/11/1998 của Chủ tịch Hội đồng
Quản trị MSB về hội đồng tín dụng và cán bộ tín dụng. Ngày 22/12/1998 Tổng giám đốc
MSB đã ra hướng dẫn về nghiệp vụ cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Cụ thể như
sau:
Nghiệp vụ được phân ra làm ba giai đoạn.
- Giai đoạn trước khi cho vay
- Giai đoạn trong khi cho vay

hành kiểm tra hồ sơ và kiểm tra thực tế đối với khách hàng, MSB có thể kiểm tra tại chỗ
và phỏng vấn khách hàng toàn bộ hoặc một phần các nội dung trên. Sau đó tiến hành lập
báo cáo, thời gian hoàn thành và lập báo cáo không quá hai ngày đối với cho vay ngắn
hạn và 7 ngày đối với cho vay trung và dài hạn. Trường hợp hồ sơ không đủ điều kiện để
thẩm định hoặc vượt quá khả năng quản lý thì MSB thông báo ngay bằng văn bản và
hoàn trả hồ sơ cho khách hàng. Sau đó MSB tiến hành nghiệp vụ thẩm định khoản vay
của khách hàng.
1.2. Giai đoạn trong khi cho vay.
Ngay sau khi thẩm định xong, mỗi khoản cho vay của MSB đều phải lập "Tờ trình
đề nghị phê duyệt khoản vay" do các đơn vị nghiệp vụ cho vay có chức năng nhiệm vụ
theo quy định của MSB quy trình thời gian hoàn hành và chuyển giao tờ trình phê duyệt
khoản vay tuỳ thuộc vào khách hàng vay và chất lượng báo cáo thẩm định nhưng tối đa
không quá một ngày đối với khoản vay ngắn hạn và 3 ngày đối với khoản vay trung và
dài hạn. Tiếp đó MSB tiến hành phê duyệt khoản vay ngay trên tờ trình phê duyệt khoản
vay và phải đưa ra được một trong bốn quyết định sau:
- Đồng ý cho vay, không kèm theo điều kiện bổ sung hoặc
- Đồng ý cho vay về nguyên tắc, có kèm theo điều kiện bổ sung hoặc
- Đồng ý cho vay và trình cấp trên trực tiếp (có lý do) hoặc
- Không đồng ý cho vay (có lý do).
Thời gian phê duyệt không quá hai ngày đối với cho vay ngắn hạn và 5 ngày đối
với cho vay trung - dài hạn (tại chi nhánh). Phê duyệt có kết quả thì MSB phải thực hiện
hông báo ngày bằng văn bản cho khách hàng để triển khai thực hiện.
Nếu được vay thì khách hàng và ngân hàng phải đàm phán ký kết hợp đồng tín
dụng và hợp đồng bảo đảm tiền vay (để đảm bảo tính pháp lý trước các cơ quan pháp
luật, hợp đồng tín dụng phải được ký trên văn bản đã được soạn thảo toàn bộ bằng máy
ính theo mẫu quy định). Rồi thông báo cho cơ quan quản lý về tài sản đảm bảo tiền vay.
Sau đó thì ngân hàng mở một hồ sơ khách hàng vì mỗi một khách hàng vay đều được

cho vay theo quy định hiện hành của MSB về kiểm tra, kiểm tra nội bộ.
2 - Xử lý khoản cho vay. Mỗi phát dinh trong quá trình quản lý khoản cho vay,
MSB phải lập tờ trình xử lý khoản cho vay và trình cấp có thẩm quyền để xử lý các
trường hợp.
+ Thu hồi một phần hoặc toàn bộ nợ vay trước hạn
+ Gia thu nợ
+ Thay đổi tài sản bảo đảm tiền vay.
* Những trường hợp khác như dừng tính lãi, giảm lãi, miễn lãi, xoá nợ, phát mại
tài sản, được xử lý theo quy định hiện hành của MSB.
3 - Phê duyệt xử lý khoản cho vay.
a. Căn cứ phê duyệt.
- Tờ trình xử lý khoản vay
- Các báo cáo tình hình thực hiện khoản vay.
- Các quy định hiện hành của MSB, Nhà nước và thông tin khác.
b. Phê duyệt: Cấp thẩm quyền cho vay phê duyệt ngay trên "Tờ trình xử lý khoản
vay" đối với khoản cho vay không thông qua Hội đồng tín dụng; hoặc Hội đồng tín dụng
quyết nghị phê duyệtt bằng văn bản.
Đối với khoản cho vay do Hội đồng tín dụng quản lý phê duyệt, trừ trường hợp
khẩn cấp phải xử lý ngay để đảm bảo an toàn vốn cho MSB.
4 - Thông báo triển khai thực hiện: Sau khi có kết quả phê duyệt xử lý khoản vay
của cấp thẩm quyền hoặc của Hội đồng tín dụng, MSB phải tthh thông báo văn bản cho
khách hàng hoặc cho chi nhánh MSB để triển khai thực hiện.
5 - Cập nhật vào hồ sơ nghiệp vụ (bằng văn bản và phân hệ "Quản lý cho vay" trên
máy tính) những văn bản phát sinh và thông tin đã được phê duyệt.
2. Quy trình kế toán.
* Các thể thức thanh toán.
UNC là lệnh viết của chủ tài khoản yêu cầu Ngân hàng phục vụ mình trích một số

1 liên ghi có
1 liên báo có.
* Séc là lệnh trả tiền của chủ tài khoản, được lập theo mẫu do ngân hàng quy
định, yêu cầu đơn vị thanh oán (Ngân hàng, kho bạc) trích một số tiền từ tài khoản của
mình để trả cho người thụ hưởng.
Ví dụ: Đơn vị Lan Anh có tài khoản tại Ngân hàng Hàng Hải phát hành séc thanh
toán cho đơn vị thu tiền có TK ại Ngân hàng Đầu tư số tiền 10.000T.
Đơn vị Thu Hiền lập bảng kê nộp séc kèm theo cả séc và nộp cho Ngân hàng Đầu
tư. Ngân hàng Đầu tư giao cho Ngân hàng Hàng Hải nhận được tờ séc ngân hàng kiểm
tra các yếu tố trên tờ séc, yêu cầu trả cho, số CMT, Địa chỉ, số tài khoản, kiểm tra số dư
tài khoản khách hàng có đủ tiền không nếu thấy đầy đủ hợp lệ các yếu tố trên thì Ngân
hàng tiến hành thanh toán.
Nợ TK Lan Anh 10.000T
Có TK liên quan 10.000T
Dùng séc để hạch toán lưu chứng từ.
1 liên bảng kê báo nợ cho khách hàng
2 liên giao cho khách hàng bên kia nhận được.
1 liên ghi có 1 liên báo có.
Nợ cho TK liên quan 10.000T
Có cho TK khách hàng 10.000T
Nhận xét:
* Ưu điểm:
Chi nhánh MSBHN đã hoàn thành kế hoạch huy động vốn của trung tâm giao
trong 2 năm gần đây (2000-2001). Đặc biệt trong hai năm này, cơ cấu nguồn vốn của chi
nhánh có sự thay đổi lớn, từ chỗ chi nhánh chỉ huy động tiền gửi ngắn hạn của các tổ
chức kinh tế, chi nhánh đã khai thác được nguồn vốn trung hạn của tổ chức kinh tế, đạt
46.769,5 triệu VND năm 2000, tăng lên 101,625 VNĐ năm 2001. Đồng thời chi nhánh

nhu cầu mở tài khoản tiền gửi thanh toán. Yêu cầu của họ là các vấn đề như: Được phục
vụ nhanh với dịch vụ thuận tiện và với mức lãi suất cao, chi phí thấp.
Thứ hai: Là cơ cấu sử dụng vốn của chi nhánh;
Vốn huy động dài hạn của chi nhánh chỉ chiếm một tỷ trong nhỏ, không đáp ứng
được nhu cầu cho vay dài hạn, phải sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn. Dẫn
đến việc chi nhánh không đảm bảo được chỉ tiêu chuyển hoàn vốn của NHNN.
Thứ ba: Là về dịch vụ thanh toán: Để phục vụ việc sử dụng tài khoản hiện nay chi
nhánh cung cấp cho khách hàng các phương thức chuyển tiền, chuyển tiền nước ngoài
được thực hiện thông qua mạng SWIFT chuyển tiền trong nước được chi nhánh chuyển
qua hệ thống liên Ngân hàng. Tuy hoạt động chuyển tiền của chi nhánh thu được kết quả
như trên nhưng hoạt động này vẫn chưa thực sự đáp ứng nhu cầu của khách hàng thể
hiện.
Mạng lưới phục vụ khách hàng: Tại Hà Nội, chi nhánh chỉ hoạt động tại 44
Nguyễn Du ngoài ra không có phòng giao dịch nào khác.
Chính vì vậy khi muốn giao dịch thanh toán chuyển tiền, khách hàng phải đến 44
Nguyễn Du, do đó khách hàng sẽ thấy bất tiện, điều này sẽ làm giảm số lượng khách
hàng đến với Ngân hàng.
+ Phương thức phục vụ, phương châm của các Ngân hàng là phục vụ khách hàng
tận tình: Khi khách hàng có nhu cầu thanh toán ở bất ký đâu tại thời điểm nào …. Ngân
hàng có thể thực hiện ngay cho khách hàng. Mà hiện nay chi nhánh chỉ áp dụng dịch vụ
thanh toán tại cơ sở khách hàng cho các khách hàng quen, có uy tín với Ngân hàng.
Vì vậy, trong thời gian tới chi nhánh nên mở rộng các hình thức thanh toán.
Như vậy với ưu và nhược điểm như trên, chi nhánh cần phải tìm ra biện pháp để
duy trì các điểm mạnh, khắc phục các điểm yếu của Ngân hàng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status