Tài liệu TIỂU LUẬN: TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CHI NHÁNH TÂY HÀ NỘI TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY - Pdf 10

TIỂU LUẬN:
TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA
NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ
PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CHI
NHÁNH TÂY HÀ NỘI TRONG
NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY

PHẦN I. TỔNG QUAN VỀ SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NGÂN
HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CHI NHÁNH
TÂY HÀ NỘI.
I.Lịch sử hình thành và phát triển Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển
Nông thôn Việt Nam.
Trong giai đoạn từ năm1988 đến năm 1990 Ngân hàng Nông nghiệp và
phát triển nông thôn Việt Nam có tên là Ngân hàng phát triển Nông nghiệp Việt
Nam có trụ sở tại số 7, Lê Lai, Hoàn Kiếm Hà Nội theo Nghị Định số 53/HĐBT
của Hội đồng Bộ Trưởng (hiện nay là Chính Phủ) ngày 26 tháng 3 năm 1988 về
việc thành lập các ngân hàng chuyên doanh. Ngân hàng phát triển Nông nghiệp
được thành lập trên cơ sở một số cục, Vụ Ngân hàng Nhà nước trung ương, các chi
nhánh trực thuộc được tách từ các ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh thành phố

1
].

Theo Quyết định số 67/QĐ –TTg ngày 30 tháng 3 năm 1999 của Thủ
tướng Chính phủ về một số chính sách tín dụng phục vụ cho phát triển nông
nghiệp, nông thôn. Do đó hoạt động tín dụng của ngân hàng được phát triển , đối
tượng cho vay đa dạng, hồ sơ thủ tục vay vốn đơn giản, mạng lưới Chi nhánh,
Văn phòng giao dịch mở rộn tới cấp xã.
Năm 2008 là năm ghi dấu chặng đường 20 năm xây dựng và trưởng thành
của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam và cũng là năm có
tính quyết định trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế theo chủ trương của Đảng,
Chính phủ. Trong chiến lược phát triển của mình, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn Việt Nam sẽ trở thành một Tập đoàn tài chính đa nghành, đa sở
hữu, hoạt động đa lĩnh vực. Theo đó, toàn hệ thống xác định những mục tiêu lớn
phải ưu tiên, đó là: Tiếp tục giữ vai trò chủ đạo, chủ lực trên thị trường tài chính
nông thôn, luôn là người bạn đồng hành thủy chung tin cậy cuả 10 triệu hộ gia
đình; xúc tiến cổ phần hóa các công ty trực thuộc, tiến tới cổ phần hóa Ngân hàng
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam theo định hướng và lộ trình thích
hợp, đẩy mạnh tái cơ cấu ngân hàng, giải quyết triệt để vấn đề nợ xấu, đạt hệ số an
toàn vốn theo tiêu chuẩn quốc tế, phát triển hệ thống công nghệ thông tin, đa dạng

[
1
] Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông Thôn Việt Nam Bảng cân đối kế toán
hợp nhất Quý III năm 2009
hóa sản phẩm , nâng cao chất lượng dịch vụ, chuẩn bị nguồn nhân lực chất lượng
cao, đảm bảo các lợi ích của người lao động và phát triển thương hiệu - văn hóa

trưởng thành, trang 36 -37.
3. Các Chi nhánh phụ thuộc Chi nhánh cấp 1 (gọi là Chi nhánh cấp 2).
4. Các Chi nhánh phụ thuộc Chi nhánh cấp 2 (gọi là Chi nhánh cấp 3).
5. Các Phòng Giao dịch, Quỹ tiết kiệm trực thuộc Sở Giao dịch, Chi nhánh
cấp 1, Chi nhánh cấp 2, Chi nhánh cấp 3.
Cũng theo Khoản 5 Điều 2 Quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng
thương mại thì Chi nhánh là đơn vị phụ thuộc ngân hàng thương mại, có con dấu,
thực hiện hoạt động kinh doanh theo ủy quyền của ngân hàng thương mại.
Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Tây Hà Nội là
chi nhánh cấp 1 trực thuộc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt
Nam, được thành lập và chính thức đi vào hoạt động theo Quyết định số
126/QĐ/HĐQT-TCCB từ ngày 05/06/2003 của Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân
hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam. Từ khi thành lập chi nhánh
đã sớm ổn định về tổ chức, mạng lưới mở rộng hoạt động kinh doanh, đến nay đã
triển khai nhiều điểm giao dịch tại các tụ điểm dân cư, thương mại trên toàn địa
bàn Thành Phố. Hoạt động của chi nhánh ngày càng mở rộng và đạt kết quả cao.
Sau 7 năm hoạt động hiện tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chi
nhánh Tây Hà Nội có một mạng lưới hoạt động gồm 4 chi nhánh cấp 2 và 8 phòng
giao dịch tại phía Tây Hà Nội. Với số lượng các bộ công nhân viên chức trong
toàn chi nhánh là 206 cán bộ với độ tuổi trung bình là 34 trong đó có 106 người có
trình độ đại học và trên đại học[
3
].
Chi nhánh thực hiện chương trình giao dịch bán lẻ, hệ thống các trang
bị hiện đại: Máy vi tính, máy ATM và các sản phẩm dịch vụ Ngân hàng đa
dạng thoả mãn được nhiều yêu cầu của thành phần kinh tế sự đa dạng của
khách hàng. Là đơn vị kinh doanh có hiệu quả, hệ số lương vượt so với mức

tra - kiểm toán nội bộ, các phòng giao dịch trực thuộc chi nhánh. Theo đó ta có sơ
đồ sau :
Sơ đồ 1. Sơ đồ tổ chức của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông
thôn chi nhánh Tây Hà Nội. [
4
]
2.2 Chức năng, nhiệm vụ của chi nhánh Tây Hà Nội và các phòng ban trực thuộc
chi nhánh.
a.Chức năng và nhiệm vụ của chi nhánh.
Căn cứ vào Quyết định số 126/QĐ/HĐQT-TCCB từ ngày 05/06/2003 của
Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt
Nam thì chức năng, nhiệm vụ chủ yếu của chi nhánh Tây Hà Nội như sau :
- Huy động vốn bằng đồng Việt Nam và Ngoại tệ với nhiều hình thức: Mở
tài khoản tiền gửi thanh toán, tiền gửi Tiết kiệm, Kỳ phiếu, Trái phiếu
- Đầu tư vốn Tín dụng bằng đồng Việt Nam và Ngoại tệ đối với các thành

toán, ngân
quỹ
Phòng
thanh toán
quốc tế
Phòng
kiểm tra
nội bộ
Phòng giao
dịch
Phó Giám đ

c

Phó Giám đ

c

- Chi trả, mua bán Ngoại tệ, chiết khấu cho vay cầm cố chứng từ có giá.
- Bảo lãnh bằng đồng Việt Nam và Ngoại tệ dưới nhiều hình thức khác
nhau trong và ngoài nước.
- Thực hiện các dịch vụ khác.
b. Chức năng nhiệm vụ của các phòng ban chức năng.[
5
]
- Phòng Hành chính – Nhân sự: Tham mưu cho Ban Giám đốc về: Chiến
lược phát triển nguồn nhân lực, lao động tiền lương, thi đua khen thưởng, quy

điều hành đúng Pháp luật mọi nghiệp vụ Ngân hàng; Hạn chế rủi ro trong kinh
doanh, đảm bảo an toàn tài sản, đảm bảo tính chuẩn xác của số liệu hạch toán.
Trực tiếp triển khai tác nghiệp các nghiệp vụ về Kiểm tra Kiểm toán. Đây là phòng
có Nhiệm vụ: giám sát việc chấp hành Pháp luật, chấp hành các quy định của
NHNo&PTNT Việt Nam; Trực tiếp Kiểm tra các hoạt động nghiệp vụ trên tất cả
các lĩnh vực của Chi nhánh NHNo&PTNT Tây Hà Nội.
- Phòng giao dịch : Theo quyết định số 640/QĐ/HĐQT-TCCB ngày 23
tháng 5 năm 2008 của Hội đồng quản trị Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn Việt Nam về việc ban hành Quy chế Tổ chức và hoạt động của Phòng
giao dịch thuộc Sở giao dịch, Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn Việt Nam thì chức năng, nhiệm vụ chủ yếu của phòng giao dịch :
- Tiếp thị tìm hiểu giới thiệu khách hàng cho Sở, Chi nhánh trực tiếp quản
lý.
- Trực tiếp thực hiện một số giao dịch với khách hàng bao gồm : huy động
vốn, cho vay, giải ngân, thu nợ, thu lãi theo các hợp đồng tín dụng đã được phê
duyệt, chi trả kiều hối và một số các dịch vụ thanh toán do Giám đốc Sở, Chi
nhánh trực tiếp quản lý giao theo quy định của Ngân hàng Nông nghiệp.
- Chịu sự điều hành của Giám đốc về mọi hoạt động trong lĩnh vực được
giao, được Giám uỷ quyền quản lý con người, mọi tài sản được giao tại Phòng,
nhận và thực hiện các chỉ tiêu Kế hoạch khoán tài chính do Giám đốc giao, thực
hiện chế độ hạch toán báo sổ, chấp hành đúng qui trình tác nghiệp về các chuyên
đề chuyên môn nghiệp vụ.
- Phát hành và chiết khấu giấy tờ có giá do Ngân hàng Nông nghiệp, Sở và
Chi nhánh loại 1, 2 trực tiếp quản lý uỷ quyền phát hành.
- Hướng dẫn khách hàng xây dựng dự án, phương án vay vốn.
- Đảm bảo an toàn quỹ tiền mặt, các loại chứng từ có giá, thẻ phiếu trắng,
các hồ sơ lưu về khách hàng và quản lý tốt tài sản trang thiết bị làm việc.

6
] TS.Nguyễn Hữu Huấn, Bài phát biểu : “Báo cáo tổng kết kinh doanh năm 2009 ”, tại
Chi Nhánh Tây Hà Nội, ngày 31/12/2009.
 Quy mô nguồn vốn huy động quyết định quy mô tín dụng và quy mô
các dịch vụ khác.
 Hiệu quả, chất lượng của nguồn vốn huy động sẽ quyết định chi phí
đầu vào và mức doanh lời của Ngân hàng.
Điều đó thể hiện cơ cấu của nguồn vốn hợp lý, phù hợp với cơ cấu sử dụng
vốn, tỷ trọng các loại nguồn vốn đặc biệt là tiền gửi tổ chức kinh tế, tiền gửi thanh
toán.
Bảng 1. Tình hình huy động vốn của các năm 2005 – 2009.
( Đơn vị : Tỷ, %)
Chỉ tiêu 2005 2006 2007 2008 2009
Tổng nguồn vốn huy động 2673 2751 3540 4566.6 4795
Tăng trưởng nguồn vốn
huy động so với năm trước
(%).
100% 2,9% 28,7% 29% 5%
Nguồn : Báo cáo tổng kết kinh doanh các năm 2005 -2009 của Chi nhánh.
Năm 2007 chứng kiến sự tăng trưởng vượt bậc trong công tác huy động vốn
của ngân hàng với số khách hàng gửi tiền tăng hơn gấp đôi năm 2006 từ 10.037
lên 23.692 khách hàng và tổng nguồn vốn huy động đạt 3540 tỷ đồng, bằng 118%
so với kế hoạch 2007 và tăng 789 tỷ đồng so với 31/12/2006, bằng 128,7% năm
2006. Đến năm 2009, tuy diễn ra khủng hoản kinh tế, công tác huy động vốn trở
nên khó khăn, nhưng mức tăng trưởng nguồn vốn huy động vẫn tăng 5 % so với
năm 2008, đạt 112% so với kế hoạch năm 2009 và tăng 228.6 tỷ đồng so với năm
2008, bằng 105% năm 2008. Sở dĩ năm 2007 đạt được kết quả cao như vậy là do,

dịch vụ cao chính là yếu tố cơ bản giúp Ngân hàng hạn chế rủi ro trong hoạt động
kinh doanh của mình đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động, tạo sức cạnh tranh
cho Ngân hàng. Phát triển hoạt động dịch vụ là định hướng quan trọng đối với các
Ngân hàng thương mại nước ta nói chung và hệ thống NHNo&PTNT Việt Nam
nói riêng trong đó có NHNo & PTNT Tây Hà Nội.
3. Phương hướng phát triển của chi nhánh năm 2010.
Trên cơ sở đánh giá tình hình thực hiện năm 2009, căn cứ định hướng, mục
tiêu, giải pháp của NHNo &PTNT Việt Nam và tình hình thực tế , chi nhánh
NHNo & PTNT Tây Hà Nội đề ra mục tiêu, nhiệm vụ hoạt động kinh doanh năm
2010 như sau:
a, Mục tiêu tổng quát :
- Giữ vững và phát huy vai trò chủ đạo trong thu hút tài chính nhàn rỗi
trong thị trường tài chính tiền tệ phù hợp với định hướng phát triển của Ngân hàng
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam.
- Thực hiện tích cực các giải pháp theo chỉ đạo của cấp trên, góp phần ngăn
chặn suy giảm kinh tế và thúc đẩy tăng trưởng bền vững.
- Tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng ở mức hợp lý, đảm bảo cân đối an toàn
và khả năng sinh lời.
- Đáp ứng vốn cho nhu cầu chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp, nông
dân, nông thôn theo chủ trương “ Tam nông” của Đảng và Chính phủ.
- Tập trung đầu tư, đào tạo nguồn nhân lực, đổi mới công nghệ ngân hàng
theo hướng hiện đại hoá, đủ năng lực cạnh tranh và hội nhập. Tiếp tục mở rộng và
nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng để tăng cường nguồn thu dịch vụ ngoài tín
dụng.

hàng Nông nghiệp Việt Nam đã ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện như :
,Quyết định số 09/QĐ-HĐQT-05 ngày 18 tháng 01 năm 2001 quyết định về ban
hành hướng dẫn thực hiện quy chế bảo lãnh ngân hàng trong hệ thống Ngân hàng
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Quyết định số 398/QĐ /HĐQT-TD ngày 02
tháng 5 năm 2007 quy định về “ bảo lãnh ngân hàng trong hệ thống Ngân hàng
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam”; Quyết định số 1300/QĐ-HĐQT
–TDHo ngày 03 tháng12 năm 2007 của Hội đồng quản trị NHNo & PTNT Việt
Nam quy định về “ Thực hiện các biệm pháp bảo đảm tiền vay trong hệ thống
NHNo & PTNT Việt Nam”; Văn bản số 3894/NHNo-TDHo ngày 23/9/2008 về
việc hướng dẫn quy trình sử lý tài sản bảo đảm, Công văn số 6067/NHNo –TDDN
về việc sửa đổi bổ sung hướng dẫn thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh cho doanh nghiệp
vay vốn của NHTM theo Quyết định số 14/2009/QD-TTg. Căn cứ vào các văn bản
nêu trên thì NHNo & PTNT Tây Hà Nội thực hiện các loại bảo lãnh :
1) Bảo lãnh vay vốn
+Bảo lãnh vay vốn trong nước
+Bảo lãnh vay vốn nước ngoài
2) Bảo lãnh thanh toán
3) Bảo lãnh dự thầu
4) Bảo lãnh thực hiện hợp đồng
5) Bảo lãnh đảm bảo chất lượng sản phẩm
6) Bảo lãnh hoàn thanh toán
7) Các loại bảo lãnh khác
2. Đối tượng áp dụng.
Căn cứ vào Điều 3 của quy định về bảo lãnh ngân hàng ban hành kèm theo
quyết định 398/QĐ-HĐQT-TD ngày 02 tháng 5 năm 2007 thì NHNo&PTNT Việt
nam thực hiện bảo lãnh cho các đối tượng sau :
a. Các doanh nghiệp đang hoạt động kinh doanh hợp pháp tại Việt Nam:

Đối với bảo lãnh vay vốn nước ngoài, khách hàng phải thực hiện đúng các
quy định của pháp luật về thương phiếu.
Đối với bảo lãnh vay vốn nước ngoài, khách hàng phải thực hiện đúng các
quy định của pháp luật về quản lý vay và trả nợ nước ngoài.
Những trường hợp bị từ chối bảo lãnh gồm:
i)Phương án kinh doanh không khả thi, dẫn đến có nguy cơ cao ngân hàng
phải thanh toán thay.
ii)Hàng hoá hoặc dịch vụ cung cấp không phù hợp với pháp luật và các quy
định của chính phủ Việt Nam và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
iii)Tài sản đảm bảo không đủ giá trị hoặc tính pháp lý để đảm bảo cho
khoản bảo lãnh. 4.Tài sản đảm bảo cho bảo lãnh.
Tài sản đảm bảo cho bảo lãnh được quy định tại Điều 22 Quy định bảo lãnh
ngân hàng ban hành kèm theo Quyết định 398/QĐ-HĐQT-TD ngày 02 tháng 5
năm 2007 của NHNo & PTNT Việt Nam thì các hình thức bảo đảm cho bảo lãnh
bao gồm ký quỹ, cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, bảo lãnh của bên thứ ba và các
biện pháp bảo đảm khác theo quy định của pháp luật và hướng dẫn của NHNo &
PTNT Việt Nam.
Các loại tài sản dùng để bảo đảm cho bảo lãnh là các loại tài sản tương tự
như tài sản dùng để cầm cố, thế chấp, bảo lãnh để vay vốn tại ngân hàng.
Tài sản dùng để bảo đảm cho bảo lãnh phải đáp ứng đủ các điều kiện sau:
Thuộc quyền sở hữu, quyền quản lý, sử dụng của khách hàng hàng. Để
chứng minh được điều kiện này khách hàng phải xuất trình giấy chứng nhận sở
hữu, quyền quản lý, sử dụng tài sản. Trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất,
khách hàng phải có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và được thế chấp theo quy
Sơ đồ 2. Sơ đồ nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng.
Bước 1. Tiếp nhận hồ sơ bảo lãnh: Doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân,
hợp tác xã có yêu cầu bảo lãnh phải làm hồ sơ bảo lãnh theo mẫu của ngân hàng.
Hồ sơ bảo lãnh tín dụng bao gồm : hồ sơ pháp lý, hồ sơ khoản bảo lãnh ( gồm :
giấy đề nghị bảo lãnh, các giấy tờ có liên quan đến nghĩa vụ bảo lãnh), hồ sơ đảm
bảo cho khoản bảo lãnh.
Bước 2. Thẩm định hồ sơ bảo lãnh : Cán bộ tín dụng phải kiểm tra hồ sơ và
mục đích xin bảo lãnh, phân tích thẩm định khách hàng và phương án sản xuất
kinh doanh được đề nghị bảo lãnh cùng biện pháp bảo đảm cho khoản bảo lãnh.
Sau đó lập báo cáo thẩm định bảo lãnh đề nghị Trưởng phòng tín dụng phê duyệt.
Trưởng phòng tín dụng kiểm tra lại và chịu trách nhiệm trước Giám đốc về tính
đầy đủ và hợp pháp của toàn bộ hồ sơ khách hàng, tính trung thực và chính xác




Không đ

ng ý

đi

u ki

n

của báo cáo thẩm định do cán bộ tín dụng trình, ghi rõ ý kiển của mình về việc
đồng ý hay không đồng ý với đề xuất của cán bộ tín dụng để trình Giám đốc.
Trường hợp cần thiết thì có thể trực tiếp thẩm định lại đề nghị bảo lãnh.
Bước 3. Trình Giám đốc xem xét hồ sơ và báo cáo thẩm định của phòng tín
dụng để quyết định duyệt, duyệt có điều kiện hay từ chối bảo lãnh. Nếu là trường
hợp vượt phạm vi phán quyết thì lập tờ trình, ghi rõ ý kiến đồng ý hay không đồng
ý bảo lãnh và chuyển toàn bộ hồ sơ lên cấp trên trực tiếp xem xét giải quyết.
Nếu đồng ý bảo lãnh thì Giám đốc quyết định nội dung và ký cam kết bảo lãnh,
hợp đồng bảo lãnh, hợp đồng đảm bảo, hợp đồng tín dụng trong phạm vi phán quyết.
Bước 4. Ký hợp đồng bảo lãnh : Hợp đồng bảo lãnh là hợp đồng độc lập
với hợp đồng thương mại giữa khách hàng và ngân hàng thể hiện ràng buộc tài
chính giữa ngân hàng và bên thứ ba. Nội dung chính của hợp đồng được lập theo
đúng quy định của pháp luật bao gồm:
- Tên, địa chỉ của ngân hàng bảo lãnh và khách hàng.
- Số tiền bảo lãnh của ngân hàng.

hoạt động bảo lãnh ở Ngân hàng trong 4 năm qua tương đối cao. Năm 2006 Ngân
hàng thực hiện được 236 món bảo lãnh với tổng giá trị 124.378 triệu đồng, Đến
năm 2007, doanh số bảo lãnh là 215.021 triệu đồng, tăng gấp 1,78 lần so năm
2006. Đặc biệt sang đến năm 2008 do có rất nhiều đơn vị mở L/C thanh toán qua
Ngân hàng, cộng với việc chi nhánh bảo lãnh cho một số công trình lớn,vì vậy
doanh số bảo lãnh tăng rất nhanh, đạt 620.021 triệu đồng, tăng gấp 2,88 lần so với
cùng kỳ năm trước. Sang tới năm 2009 doanh số bảo lãnh vẫn tăng nhưng với tốc
độ chậm lại; đạt 682.023 triệu đồng, tăng gấp 1,1 lần so với năm 2008.
Ngân hàng ngày càng có uy tín và thu hút được nhiều khách hàng với
những món bảo lãnh lớn. Ngân hàng đạt được như vậy là nhờ có sự cố gắng nỗ lực
của mọi bộ phận trong chi nhánh nhằm đa dạng hoá các loại hình bảo lãnh, hợp lý
đến mức tối đa mức phí bảo lãnh, giữ gìn tốt mối quan hệ với khách hàng cũ cũng
như khai thác được nhu cầu bảo lãnh của các khách hàng mới tại Ngân hàng bảo
lãnh được phân chia và quản lý theo 2 loại hình: bảo lãnh trong nước và bảo lãnh
mở L/C kết cấu từ trong của 2 loại bảo lãnh này cụ thể như sau:

Bảng 6. Bảng cơ cấu bảo lãnh tại chi nhánh.
Đơn vị tính : Triệu đồng,
%
Năm Tổng doanh số
Bảo lãnh trong
nước

Bảo lãnh mở tín
dụng

20%
( Nguồn báo cáo tổng kết hoạt động tín dụng các năm 2006 – 2009 của
Chi Nhánh)
Mặc dù năm 2006 số lượng các món bảo lãnh tương đối cao 236 món trong
đó có150 món bảo lãnh trong nước. Năm 2007 số lượng các món bảo lãnh tăng
146 món so với năm 2006. Trong đó số món bảo lãnh trong nước tăng 150 món
năm 2007 gấp 2 lần), tuy nhiên số món bảo lãnh mở L/C lại giảm đi 4 món. Đồng
thời giá rị mỗi món cũng giảm đi sang đến năm 2008 thì số lượng món bảo lãnh cả
trong nước và L/C đều tăng lên một cách đáng kể, bảo lãnh trong nước là 301 món
và bảo lãnh mở L/C là 181 món. Mặc dù là doanh số bảo lãnh tăng do có thêm
nhiều đơn vị mở L/C thanh toán qua Ngân hàng, nhưng số dư bảo lãnh lại giảm so
với cùng kỳ năm trước do chi nhánh đã tiến hành phân tích tình hình tài chính của
khách hàng kỹ hơn từ đó chọn lọc khách hàng tốt, còn những đơn vị khách hàng
có tình hình tài chính không lành mạnh, sản xuất kinh doanh không hiệu quả. Thì
đều không được Ngân hàng bảo lãnh. Tiếp tục mục tiêu đẩy mạnh hoạt động kinh
doanh của chi nhánh, trong năm 2009 doanh số về bảo lãnh tiếp tục tăng lên, số
món bảo lãnh cũng tăng lên đến 530 món, trong đó có 310 món là bảo lãnh trong
nước và 220 món L/C. Trong năm này các món mở L/C có thời hạn bảo lãnh dài
hơn.
6.2. Đánh giá kết quả đạt được trong thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh của Chi
nhánh.
6.2.1. Những thành tựu đạt được.
Sở dĩ NHNo&PTNT Chi nhánh Tây Hà Nội đã đạt được những kết quả
trên là do:
- Việc thực hiện bảo lãnh được tiến hành nhanh chóng, chính xác, kịp thời
tạo điều kiện cho khách hàng trúng thầu thi công nhiều công trình lớn. Bên cạnh

lãnh chất lượng sản phẩm mặc dù đã được ngân hàng chú ý phát triển nhưng vẫn
còn chưa nhiều, doanh số còn chưa cao.
- Còn nhiều vướng mắc liên quan đến tài sản đảm bảo trong khi xác định hạn
mức bảo lãnh cho khách hàng. Điều này xuất phát từ sự không thống nhất giữa các
văn bản quy phạm pháp luật và trong quá trình thực hiện của cơ quan công chứng,
cơ quan đăng ký tài sản đảm bảo.
- Hiện nay, ngân hàng chưa có chuẩn mực để xác định hạn mức mà việc xác
định hạn mức chủ yếu dựa vào kinh nghiệm và đánh giá chủ quan của cán bộ tín
dụng. Điều này cho thấy sự yếu kém trong việc lượng hóa các chỉ tiêu quan trọng,
đánh giá nhu cầu và khả năng của khách hàng.
- Việc thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh đối ứng còn nhiều lúng túng. Đặc biệt là
soạn thảo thư bảo lãnh cũng như thỏa thuận cách giải quyết tranh chấp liên quan
đến bảo lãnh đối ứng.
- Công tác thẩm định, kiểm tra, quản lý tài sản nợ vẫn còn thiếu sót. Theo
thống kê của ban kiểm toán nội bộ thì chất lượng của công tác thẩm định đạt 85%
so với thực tế.
Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến những vấn đề còn tồn đọng trong nghiệp vụ bảo
lãnh tại chi nhánh là do :
-Có rất nhiều các văn bản do NHNN và các NHNo & PTNT Việt Nam quy
định về nghiệp vụ bảo lãnh nhưng mà vẫn không đầy đủ, đồng bộ và hay thay đổi
làm cho quá trình thực hiện gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, nếu mà ngân hàng thực
hiện đúng quy trình và quy định đó thì hầu hết các doanh nghiệp đều không có đủ
điều kiện để được hưởng dịch vụ bảo lãnh, đặc biệt là các doanh nghiệp ngoài
quốc doanh. Bên cạnh đó, thì các quy định về thế chấp, cầm cố tài sản, các thủ tục
giải quyết các tranh chấp, phát mại tài sản chưa đầy đủ, còn nhiều vướng mắc
gây khó khăn cho ngân hàng trong việc thực hiện bảo lãnh cũng như thu lại các
khoản bồi hoàn nếu rủi ro xảy ra.

Trích đoạn Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát, quản lý
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status