TIỂU LUẬN:
Quản lý học tập
Chương I
Tìm hiểu đề tài quản lý học tập
1- tầm quan trọng của tin học trong quản lý
Cùng với sự phát triển của xã hội thì công nghệ thông tin đã và đang triển khai
các ứng dụng trên địa bàn toàn quốc, dần tiến tới tin học hoá tất cả các hoạt động
trong mọi lĩnh vực của các ngành nghề. Máy tính thực sự là công cụ đáng tin cậy
không thể thiếu được trong mọi hoạt động của xã hội trong thời đại thông tin hiện
nay. Chính vì vậy việc quản lý học tập ở các trường phải được tin học hoá toàn bộ,
không còn phải làm theo lối thủ công để quản lý sổ sách, giấy tờ chậm chạp trong
việc khai thác thông tin và chiếm nhiều thời gian lưu trữ.
2- Mục đích của việc xây dựng đề tài này là:
- Giảm bớt thời gian ghi chép, không gây nhầm lẫn, thiếu chính xác.
- Thực hiện tìm kiếm, sửa dữ liệu rất thuận tiện
- Tận dụng tối đa khả năng tính đã có
- Mọi công việc cập nhật, điều chỉnh, tìm kiếm, tra cứu đều được thực hiện
nhanh chóng, chính xác, tiết kiệm thời gian
- Công việc của cán bộ không còn vất vả mà hiệu xuất công việc lại cao.
3- phạm vi đề tàI :
Do thời gian hạn hẹp mà khối lượng công việc rất lớn nên đề tài này không thể giải
quyết được toàn bộ yêu cầu của công tác quản lý học tập. Trong phạm vi đề tài này
chỉ giải quyết những yêu cầu sau :
a. Cập nhật thông tin :
- Cập nhật thông tin về sinh viên
không.
Trường hợp phải thi lại
- Kết quả điểm thi hết môn dưới 5 điểm. Học sinh phải đăng ký môn thi lạii cho
nhà trường chậm nhất 7 ngày trước khi tổ chức thi lại. ĐTBHK =
(ĐTB môn * Số học
trình)
ĐTBTK =
(ĐTBHK / Số học kỳ) +
Điểm thi TN
Chương II
Phân tích Và THIếT Kế Hệ THốNG A. Phân tích hệ thống về chức năng
Hệ thống quản lý học tập của sinh viên được phân thành 4chức năng:
Chức năng cập nhật học sinh
Chức năng cập nhật danh mục môn học
Chức năng cập nhật điểm
Chức năng báo cáo thống kê
1- Chức năng cập nhật học sinh : Chức năng này gồm 5 chức năng con.
- Chức năng nhập học sinh :là chức năng cho phép nhập mã học sinh, tên học sinh
- Chức năng cập nhật điểm thi lại: sau khi học sinh đã thi lại thì chức năng này
sẽ cập nhật điểm .
4-Chức năng báo cáo thống kê: Chức năng này gồm các chức năng con sau:
- Chức năng in bảng điểm trung bình học kỳ :sau khi đã có điểm của tất
cả các môn học thì hệ thống sẽ tính điểm trung bình sau đó sẽ in ra.
- Chức năng in bảng điểm toàn khoá : Chức năng này sẽ in ra điểm của toàn
khoá học.
- Chức năng in bảng kết quả học tập cá nhân : Chức năng này sẽ in ra bảng
điểm chi tiết của từng học sinh.
- Chức năng in danh sách học sinh thi lại: Những học sinh có đểm thi dưới 5
sẽ được in ra.
Từ việc phân tích trên ta có biểu đồ phân cấp chức năng sau:
Qu
ản lý học
t
ập
danh m
ục
Cập nhật
đi
ểm
Báo cáo
th
ống kê
Cập nhật
h
ọc
sinh
Nhập
S
ửa
Xoá
Nh
ập
Xem
S
ửa
Lý
lịc
h
Danh
mục
môn
h
ọc
Kế
t
qu
ả
Kết
quả
học
tập
Lý
lịch
Kết
quả
học
tập
Yêu
cầu
Danh mục
môn học
phận cập nhật danh mục môn học và danh mục môn học sẽ được đưa vào kho dữ
liệu danh mục môn học. Bộ phận cập nhật đểm thi sẽ đọc thông tin từ kho hồ sơ
học sinh và danh mục môn học để lưu vào kho đểm thi. Chức năng báo cáo thống
kê sẽ đọc thông tin từ kho đểm thi và kho danh mục môn học để in ra danh sách
các học sinh phải thi lại và in ra điểm .
danh
m
ục môn
Cập
nh
ật
điểm
Học sinh
Phòng đào
t
ạo
Danh mục
môn
Điểm thi
Yêu c
ầu sửa
HS
mới
vào
lớp
Lý
lịch S
ửa
Xem
Xoá
Tìm
kiếm
Nhập
mới
H
ọc sinh
Hồ sơ học
sinh
Giáo viên
Yêu
c
ầu
xoá
ạo
Danh mục
môn học
Đi
ểm thi lại
Đi
ểm thi 1.3.3 Biểu đồ phân rã chức năng cập nhật điểm:
họ
c
t
ậ
Kq
họ
c
t
ậ
Kho dữ liệu danh mục môn học lấy trong danh mục môn học
Kho dữ liệu điểm thi lấy từ danh sách đểm các môn học
Kho dữ liệu điểm thi lại lấy từ danh sách điểm thi lại các môn học
u
c
ầ
Kq
họ
c
t
ậ
B. Phân tích hệ thống về dữ liệu
1. Mô hình thực thể liên kết
Học
sinh
Lớp học
Môn học
MSLH
Tên lớp
Năm học
MSMH
Tên môn SHT
Học kỳ
Năm học
Điểm
thi
MSHS
MSLH
MSMH
Điểm
thi
Kết
quả
h
2. Chuẩn hoá dữ liệu
Mô hình liên kết những khái niệm chuẩn hoá của nó sẽ cung cấp một lý thuyết
chặt chẽ về việc xây dựng cơ sở dữ liệu. Chuẩn hoá sẽ được dùng để bổ sung,
củng cố các mô hình thực thể liên kết và bảo đảm rằng mọi thực thể kết hợp với
các thuộc tính đúng đắn của nó, nhằm tránh sai sót trước khi chuyển mô hình sang
các bảng vật lý.
Nếu mô hình được triển khai cẩn thận thì các bảng trong thiết kế sẽ ở dạng
chuẩn hoặc gần với dạng chuẩn. Trong trường hợp đó công việc chuẩn hoá chỉ đơn
giản là việc kiểm tra lại các công việc trước đó. Ngược lại nếu có lỗi trong mô
hình liên kết thì việc chuẩn hoá sẽ phát hiện chúng trước khi đi vào cài đặt và thi
hành mô hình.
Việc kiểm tra chuẩn hoá là giai đoạn cuỗi cùng của thiết kế và phân tích logíc.
Một mô hình có thể chuyển thành đặc tả vật lý mà nó có thể được thực hiện bởi
việc sử dụng hệ quản trị cơ sở dữ liệu nào đó.
Mỗi thực thể trong mô hình trở thành một bảng. Mỗi dòng trong bảng tương
ứng với thể hiện của một thực thể. Các dòng có thể theo một thứ tự bất kỳ. Các cột
của bảng tương ứng với các thuộc tính của thực thể. Một cột chứa tất cả các dữ
liệu về một thuộc tính đơn.
Ví dụ:
Họ và tên Mã học
sinh
Ngày
sinh
Tên trương Kiểu dữ liệu Kích cỡ ý nghĩa
MSLH Text 4 Mã số lớp học
TENLOP Text 8 Tên lớp
HOCKY Text 2 Học kỳ
NAMHOC Text 9 Năm học (yyyy - yyyy) c) ĐIÊM THI(DIEMTHI.mdb)
ý nghĩa:thể hiện cho điểm thi
Tên trương Kiểu dữ liệu Kích cỡ ý nghĩa
MSHS Text 8 Mã số học sinh
MSMH Text 5 Mã số môn học
MSLH Text 5 Mã số lớp học
DIEMTHI Number Sing Điểm thi
d) KQHT(KQHT.mdb)
ý nghĩa: Thể hiện cho kết quả học tập của học sinh
Tên trương Kiểu dữ liệu Kích cỡ ý nghĩa
Khi tung ra VisualBasic 1.0 BillGates, chủ tịch kiêm Tổng giám đốc
Microsoft đã mô tả một đó là sản phẩm “đáng nể”. Trải qua gần 10 năm và 6 phiên
bản, VisualBasic như một “công cụ dễ và mạnh để phát triển các ứng dụng
Windows trong Basic ”. Điều đó hình như chưa đủ để chứng thực những phô
chương trên cho đến khi bạn thực sự thấy rằng, hiện nay đang có hàng chục triệu
người sử dụng và phát triển ứng dụng MS Windows.
VisualBasic đã nhanh mạnh hơn và dễ sử dụng hơn VisualBasic 1.0,
VisualBasic 3.0 tăng thêm các cách thức đơn giản để điều khiển những cơ sở dữ
liệu mạnh nhất sắn có. VisualBasic 4.0 hỗ trợ sự phát triển 32 Bit và bắt đầu tiến
trình chuyển VisualBasic thành 1 ngôn ngữ lập trình hướng đối tựng đầy đủ.
VisualBasic thêm khả năng tạo tập tin thi hành (.exe) thực sự và có khả năng lập
các điêù khiển riêng cho bạn.
Phiên bản 6.0 mới nhất của VisualBasic kế tục truyền thống này: những
ứng dụng Windows 95/98 và Windows NT giờ đây được phát triển chỉ cần rất ít
thời gian so với trước đây. Các lỗi lập trình (mối rối - bugs) không còn thường
xuyên xẩy ra nữa và nếu có cũng dễ phát hiện và sửa chữa hơn. Nói đơn giản là
với VisualBasic, việc lập trình dưới Windows trở nên hiệu quả hơn mà còn lý thú
hơn.
Đặc biệt VisualBasic cho phép bổ sung các menu, hộp văn bản, nút lệnh,
nút tuỳ chọn, các hộp kiểm tra, các hộp danh sách, thanh cuộn và các hộp tập tin,
thư mục cho các của sổ trống. Người dùng có thể dùng các lưới (Gird) để quản lý
dữ liệu trên bảng. Chúng ta có thể truyền thông với các ứng dụng Windows khác
và có thể là quan trọng nhất có phương phát dễ dàng để người dùng điều khiển và
truy cập các cơ sở dữ liệu (những thành phần đó được VisualBasic gọi là các điều
khiển Control)
Có thể có nhiều cửa sổ trên màn hình. Các cửa sổ này có toàn quyền truy
cập clipboard vào các thông tin trong hầu hết các ứng dụng Windows khác. Chúng
trọng.
Để thiết kế cơ sở dữ liệu có thể sử dụng một trong các công cụ sau:
Sử dụng phiên bản Micosofft Access tương ứng với phiên bản của cuả Mirosoft
Visual Basis.
Sử dụng chương trình DataManager được cung cấp kèm theo Visual Basic
- Thiết kế báo cáo: Để thiết kế mẫu biểu báo cáo có thể sử dụng một trong
các công cụ sau:
- Sử dụng phiên bản DataEnviroment tương ứng trong Microsoft Visual
Basic
- Sử dụng DataReport được cung cấp kèm theo.
c. Lý Do Chọn VisualBasic :
Bất kể làm một việc gì chúng ta cũng đều bắt đầu từ những cái hiện có mà
đi lên, không phải trở về con số không rồi mới bắt đầu.
Chúng ta từng làm việc trên máy tính, và ít nhất là thao tác trên Windows,
tạo ra những văn bản trên word, vậy chúng ta thấy những gì? có phải đó là những
giao diện màn hình (màn hình tương tác với người sử dụng) gồm các dẫy thực đơn
(Menu), hộp thoại (dialog box), các nút lựa chọn (Option button), các nút kiểm tra
(Check button), các nút lệnh (OK) (Cancel) nếu phải học viên lập trình từ đầu, có
thể nói chưa chắc chúng ta đã tạo ra những đề mục trên sau 1 đến 2 năm học. Nhưng
với VisualBasic bạn đã có thể tạo ra được tất cả chúng, mà chỉ trong 1 đến 3 tháng
mà thôi. Nói cách khác tất cả những gì chúng ta thấy phần mềm trong Windows
chúng ta có thể tạo ra từ VisualBasic. Tuy nhiên không nói đến mặt trái của
Visualbasic, thì cũng không thật khách quan khoa học. VisualBasic tuỳ thuộc hoàn
toàn vào Windows, chúng ta không thể chạy các ứng dụng của VisualBasic trên một
ứng dụng khác mà không phải là Windows.
2 - Visual Basic & Microsoft Access
Visual Basic là ngôn ngữ lập trình hướng đối tượng, nó giải quyết được mọi