BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ KIỀU OANH
THỰC TRẠNG ĐÁNH BẮT, NUÔI TRỒNG VÀ
CHẾ BIẾN THỦY SẢN
TỈNH BÌNH THUẬN
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh -7/ 2011
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ KIỀU OANH
THỰC TRẠNG ĐÁNH BẮT, NUÔI TRỒNG VÀ
CHẾ BIẾN THỦY SẢN
TỈNH BÌNH THUẬN
Chuyên ngành: Địa lí học
Mã số:60.31.95
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ HỌC
Người hướng dẫn khoa học
TS. Nguyễn Đức Tuấn
Thành phố Hồ Chí Minh -7/ 2011
1T2.2.3. Thuận lợi về kinh tế - xã hội1T 49
1T2.2.4. Khó khăn về kinh tế - xã hội1T 54
1T2.3. Tình hình nuôi trồng, đánh bắt và chế biến thủy sản tỉnh Bình Thuận giai đoạn
2005 – 2008.
1T 55
1T2.3.1. Những thành tựu và hạn chế của ngành thủy sản Bình Thuận.1T 55
1T2.3.2. Tình hình nuôi trồng thủy sản1T 65
1T2.3.3. Tình hình khai thác thủy sản1T 72
1T2.3.4. Tình hình chế biến và xuất khẩu1T 77
1TCHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN1T 83
1T3.1. Định hướng phát triển Thủy sản Bình Thuận đến năm 20201T 83
1T3.1.1. Quan điểm quy hoạch của Tỉnh1T 83
1T3.1.2. Mục tiêu cụ thể1T 84
1T3.1.2. Các định hướng phát triển thủy sản Bình Thuận đến 20201T 85
1T3.2. Hệ thống các giải pháp1T 87
1T3.2.1. Các giải pháp hỗ trợ1T 87
1T3.2.2. Các giải pháp trực tiếp1T 89
1TKẾT LUẬN1T 97
1TTÀI LIỆU THAM KHẢO1T 99
1TPHỤ LỤC1T 101
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNH – HĐH: Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long
EU: Liên minh châu Âu
HACCP: Hệ thống phân tích mối nguy và kiểm soát điểm tới hạn
ISO: Bộ tiêu chuẩn về quản lí và đảm bảo chất lượng
NTTS: Nuôi trồng thủy sản
UBND: Ủy ban nhân dân
TNHH : Trách nhiệm hữu hạn
mũi nhọn của Tỉnh.
Mặc dù vậy, xuất khẩu thủy sản vẫn gặp nhiều khó khăn như chịu sức ép cạnh tranh
trên thị trường ngày càng lớn trong khi đó các doanh nghiệp của Bình Thuận còn non
trẻ, nhỏ cả về qui mô sản xuất, vốn, trang thiết bị và thị trường. Ngành thủy sản Bình
Thuận muốn vượt qua được khó khăn, duy trì và tiếp tục phát triển thì cần sự nổ lực của
toàn ngành với những giải pháp khác nhau. Trong việc tập trung xây dựng các mô hình
liên kết sản xuất trên từng lĩnh vực khai thác, nuôi trồng, chế biến thủy sản để đảm bảo
hiệu quả, bền vững hơn. Do đó, tác giả chọn đề tài “Thực trạng và giải pháp nuôi
trồng, đánh bắt và chế biến thủy sản tỉnh Bình Thuận” làm luận văn tốt nghiệp với
mong muốn nghiên cứu được thực trạng phát triển hiện nay của ngành cũng như tìm
hiểu những định hướng phát triển của tỉnh nhà.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ
2.1. Mục tiêu
• Tìm hiểu các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đã có tác động đến ngành kinh tế
thủy sản.
• Khái quát thực trạng phát triển của ngành thủy sản Bình Thuận.
• Luận văn hướng vào phân tích tình hình phát triển đồng thời đề ra những định
hướng và các giải pháp nhằm phát triển ngành thủy sản Bình Thuận. Tạo điều
kiện phát huy lợi thế là ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh.
2.2. Nhiệm vụ
• Tìm hiểu vai trò của ngành thủy sản trong nền kinh tế quốc dân của Việt Nam và
tỉnh Bình Thuận.
• Phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển ngành thủy sản ở Bình
Thuận.
• Nghiên cứu thực trạng phát triển của ngành thủy sản Bình Thuận.
• Định hướng phát triển thủy sản đến 2020, từ đó đề ra các giải pháp phát triển
ngành thủy sản Bình Thuận.
3. Phạm vi nghiên cứu
3.1. Về mặt không gian
Đề tài luận văn ngiên cứu hiện trạng phát triển ngành thủy sản trong mối quan hệ giữa
một số nhà báo.
5. Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
5.1. Quan điểm nghiên cứu
5.1.1. Quan điểm tổng hợp lãnh thổ
Địa lí kinh tế xã hội là một khoa học tổng hợp nghiên cứu không gian lãnh thổ kinh tế -
xã hội liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau. Do đo, khi nghiên cứu các nguồn lực nhằm
phát triển thủy sản Bình Thuận phải xem xét trong một chỉnh thể chung của vùng và cả
nước. Sự phát triển ngành thủy sản Bình Thuận không chỉ có ý nghĩa đối với tỉnh mà còn có
ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển của vùng Nam Trung Bộ và cả nước.
5.1.2. Quan điểm hệ thống
Ngành thủy sản là một bộ phận không thể tách rời trong cơ cấu của ngành Nông –
lâm – thủy sản nói riêng và nền kinh tế nói chung. Sự phát triển kinh tế - xã hội có ảnh
hưởng sâu sắc tới ngành thủy sản và ngành thủy sản cũng có những ảnh hưởng nhất định
đến sự phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh, của vùng và cả nước. Do vậy, khi nghiên cứu
vấn đề thủy sản cần xem xét trong mối quan hệ với sự phát triển kinh tế - xã hội.
5.1.3. Quan điểm lịch sử viễn cảnh
Ngành thủy sản cũng như những ngành kinh tế khác luôn luôn vận động và phát
triển, tùy theo từng giai đoạn có các nguồn lực, các thế mạnh khác nhau tạo điều kiện cho sự
phát triển của ngành. Vì vậy, khi nghiên cứu chúng ta phải có cái nhìn từ quá khứ đến hiện
tại và dự báo đến một khoảng thời gian nào đó trong tương lai.
Trong nội dung cụ thể , tác giả sẽ nghiên cứu cụ thể về tình hình phát triển đánh bắt,
nuôi trồng và chế biến thủy sản Bình Thuận từ năm 2005 đến 2008 và trên cơ sở đề tài còn
đưa ra định hướng phát triển năm 2020.
5.1.4. Quan điểm sinh thái và phát triển bền vững
Khi nghiên cứu những vấn đề về thủy sản, phải dựa trên quan điểm sinh thái và phát
triển bền vững. Phát triển thủy sản phải đi đôi với việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ
môi trường, tạo môi trường sống trong sạch. Sự phát triển bền vững thể hiện rõ ở cả ba mặt:
kinh tế, xã hội và môi trường.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
5.2.1. Phương pháp thống kê
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG VỀ NGÀNH THỦY SẢN
1.1. Tổng quan về ngành thủy sản
1.1.1.Một số khái niệm cơ bản về ngành thủy sản
1.1.1.1. Thủy sản
Thủy sản là những loài sinh vật sống dưới nước như cá, nhuyễn thể, giáp xác,…có
thể qua hay không qua khâu nuôi trồng và dùng làm thực phẩm.
1.1.1.2. Vấn đề phát triển ngành thủy sản
Ngành thủy sản là việc tiến hành khai thác, nuôi trồng, vận chuyển thủy sản khai
thác, bảo quản, chế biến, mua bán, xuất khẩu, nhập khẩu thủy sản, dịch vụ trong hoạt động
thủy sản, điều tra, bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản.
Nguồn lợi thủy sản là tài nguyên sinh vật trong vùng nước tự nhiên, có giá trị kinh
tế, khoa học để phát triển nghề khai thác thủy sản, bảo tồn và phát triển nguồn lợi thủy sản.
Khai thác thủy sản là việc khai thác nguồn lợi thủy sản trên biển, sông, hồ, đầm,
phá và các vùng nước tự nhiên khác.
Theo FAO ( 2008) Nuôi trồng thủy sản (NTTS) còn được gọi là canh tác dưới nước.
Nuôi các loài động vật( cá, giáp xác, nhuyễn thể…) và thực vật ( rong biển,…) trong môi
trường nước ngọt, lợ và mặn, bao gồm áp dụng các kỹ thuật vào qui trình nuôi nhằm nâng
cao năng suất thuộc sở hữu cá nhân hay tập thể. Có nhiều hình thức nuôi trồng thủy sản
như:
+ Nuôi thủy sản siêu thâm canh
Nuôi thủy sản siêu thâm canh là nuôi có năng suất cao, trung bình hơn 200
tấn/ha/năm, sử dụng thức ăn viên công nghiệp có thành phần dinh dưỡng đáp ứng như cầu
của đối tượng nuôi, giống được sản xuất từ các trại (hay là giống nhận tạo), không dùng
phân bón và loại bỏ hết địch hại, kiểm soát hoàn toàn các điều kiện nuôi (nước được bơm
hay tự chảy, thay nước hoàn toàn chủ động và kiểm soát chất lượng nước, có sục khí,…).
Nuôi chủ yếu trong ao nước chảy, trong lồng, bể hay trong hệ thống máng nước chảy.
+ Nuôi thủy sản thâm canh
Nuôi thâm canh là hình thức nuôi có năng suất dưới 200 tấn/ha/năm; kiểm soát tốt
Nuôi thủy sản luân canh là hình thức không nuôi liên tục hai hay nhiều vụ một đối
tượng trên cùng một diện tích sản xuất. Ví dụ như nuôi một vụ tôm càng xanh và một vụ
trồng lúa trên ruộng lúa hay nuôi luân phiên một vụ tôm sú và một vụ cá rô phi trong ao
tôm.
Các hình thức nuôi
Nuôi ao
Nuôi trong ao là hình thức nuôi các loài thủy sản trong ao đất (ao nằm trên đất liền).
Có nhiều loại ao khác nhau được thiết kế cho nuôi thủy sản như ao cho cá đẻ, ao trú động,
ao ương cá bột, ao nuôi cá thương phẩm,…
Nuôi bè
Nuôi bè là hình thức nuôi các loài thủy sản trong các bè, chủ yếu làm bằng gỗ và có
kích thước lớn. Thuật ngữ bè thường được dùng phổ biến ở vùng Nam Bộ để chỉ các bè
nuôi cá tra, basa, cá mè vinh, trên sông. Kích cỡ rất khác nhau từ dưới 100 đến hơn 1.000
m
P
3
P/bè.
Nuôi lồng
Nuôi lồng là hình thức nuôi các loài thủy sản trong các lồng làm bằng lưới có kích cỡ
rất khác nhau từ dưới 10 m
P
3
P/lồng đến hơn 1.000 mP
3
P/lồng (trường hợp là nuôi lồng biển).
Tuy nhiên, nuôi lồng cũng có thể chỉ hình thức nuôi trong có lồng làm bằng gỗ, tre nứa,…
kích thước thường nhỏ.
Nuôi đăng quầng
Là hình thức nuôi các loài thủy sản trong các quầng lưới hay đăng tre có kích
thước rất khác nhau tùy theo loài nuôi. Quầng có thể có một mặt giáp với bờ, nhưng đáy
Ngành Thuỷ sản được coi là ngành có thể tạo ra nguồn ngoại tệ lớn cho nhiều nước,
trong đó có Việt Nam. Xuất khẩu thuỷ sản đã trở thành hoạt động có vị trí quan trọng hàng
nhất nhì trong ngành ngoại thương Việt Nam. 0T Việt Nam được coi là một trong những nước
có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu thủy sản nhanh nhất thế giới với tốc độ tăng giá trị trung
bình giai đoạn 1998-2008 đạt 18%/ năm.
Đại diện của FAO cho biết, Việt Nam đang đứng thứ 6 thế giới về xuất khẩu thủy
sản, thứ 5 về sản lượng nuôi trồng và thứ 12 về sản lượng khai thác. Kết quả là xuất khẩu
thuỷ sản năm 2010, Việt Nam đã xuất khẩu thủy sản đạt trên 4,9 tỷ USD, tăng 17,6% so với
cùng kỳ năm ngoái và trong năm tháng đầu năm 2011 đạt kim ngạch 1,62 tỷ USD, tăng
17,3% so với cùng kỳ năm 2010. Với kết quả này, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu thủy sản
đứng đầu ngành nông nghiệp khi nông sản tăng 7%, lâm sản tăng 9,5%. Với tốc độ phát
triển nhanh chóng như hiện nay, ngành thủy sản đã góp phần tăng trưởng kinh tế cho đất
nước, tạo công ăn việc làm cho một bộ phận lớn người lao động và kéo theo sự phát triển
mạnh mẽ cả về lượng và chất của hệ thống chế biến thủy sản
1.1.2.1. Cung cấp thực phẩm, tạo nguồn dinh dưỡng cho mọi người dân Việt Nam
50% sản lượng đánh bắt hải sản ở vùng biển Bắc Bộ, Trung Bộ và 40% sản lượng
đánh bắt ở vùng biển Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ được dùng làm thực phẩm cho nhu cầu
của người dân Việt Nam. Nuôi trồng thuỷ sản phát triển rộng khắp, tới tận các vùng sâu
vùng xa, góp phần chuyển đổi cơ cấu thực phẩm trong bữa ăn của người dân Việt Nam,
cung cấp nguồn dinh dưỡng dồi dào. Từ các vùng đồng bằng đến trung du miền núi, tất cả
các ao hồ nhỏ đều được sử dụng triệt để cho các hoạt động nuôi trồng thuỷ sản.
Ở tầm vĩ mô, dưới góc độ ngành kinh tế quốc dân, Ngành Thuỷ sản đã góp phần đảm
bảo an ninh lương thực thực phẩm, đáp ứng được yêu cầu cụ thể là tăng nhiều đạm và
vitamin cho thức ăn. Có thể nói Ngành Thuỷ sản đóng vai trò quan trọng trong việc cung
cấp thực phẩm cho người dân. Trong thời gian tới, các mặt hàng thủy sản sẽ ngày càng có vị
trí cao trong tiêu thụ thực phẩm của mọi tầng lớp nhân dân Việt Nam.
1.1.2.2. Xoá đói giảm nghèo
Ngành Thuỷ sản đã lập nhiều chương trình xóa đói giảm nghèo bằng việc phát triển
các mô hình nuôi trồng thuỷ sản đến cả vùng sâu, vùng xa, không những cung cấp nguồn
dinh dưỡng, đảm bảo an ninh thực phẩm mà còn góp phần xoá đói giảm nghèo. Tại các
Trong nhiều năm liền, Ngành Thuỷ sản luôn giữ vị trí thứ 3 hoặc thứ 4 trong bảng
danh sách các ngành có giá trị kim ngạch xuất khẩu lớn nhất đất nước. Ngành Thuỷ sản còn
là một trong 10 ngành có kim ngạch xuất khẩu đạt trên một tỷ USD. Năm 2010, kim ngạch
xuất khẩu thuỷ sản đạt 4.9 tỷ USD. Từ năm 2001, Việt Nam đã có tên trong nhóm 10 nước
xuất khẩu thuỷ sản hàng đầu trên thế giới, cụ thể như sau:
Bảng 1.1. Các nước dẫn đầu Thế giới về xuất khẩu thủy sản
STT
Quốc gia
Sản lượng (tấn)
1
Trung Quốc
6.636.839
2
Nauy
4.132.147
3
Thái Lan
4.034.003
4
Mỹ
3.800.000
5
Đan Mạch
3.566.149
6
Canađa
3.487.477
7
Tây Ban Nha
2.600.000
nước và vùng lãnh thổ.
Đối với các nước và vùng lãnh thổ có quan hệ thương mại, ngành thuỷ sản đã tạo
dựng được uy tín lớn. Những nước công nghiệp phát triển như Mỹ, Nhật và các nước trong
khối EU đã chấp nhận làm bạn hàng lớn và thường xuyên của ngành. Năm 2003, xuất khẩu
thuỷ sản của Việt Nam vào bốn thị trường chính là Mỹ, Nhật Bản, EU và Trung Quốc chiếm
trên 75% tổng giá trị kim ngạch, phần còn lại trải rộng ra gần 60 nước và vùng lãnh thổ.
Có thể thấy rằng sự mở rộng mối quan hệ thương mại quốc tế của ngành thuỷ sản đã
góp phần mở ra những còn đường mới và mang lại nhiều bài học kinh nghiệm để nền kinh
tế Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng hơn vào khu vực và thế giới.
1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của thủy sản Việt Nam
1.2.1. Các điều kiện tự nhiên
Đường bờ biển của Việt Nam kéo dài 3260 km từ Móng Cái (Quảng Ninh) đến Hà
Tiên ( Kiên Giang), đi qua hơn 15 vĩ độ ( từ 8
P
0
P34’B đến 23P
0
P23’B) với nhiều vùng sinh thái
khác nhau. Diện tích nội thủy và lãnh hải rộng 226 nghìn km
P
2
P, diện tích vùng biển đặc
quyền kinh tế hơn 1 triệu km
P
2
P, gấp 3 lần diện tích đất liền. vùng biển Việt Nam thuộc phạm
vi ngư trường Trung Tây Thái Bình Dương, có nguồn lợi sinh vật phong phú, đa dạng, là
một trong những ngư trường có trữ lượng hàng đầu trong các vùng biển trên thế giới. Trong
vùng biển có gần 4000 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó có những đảo lớn có dân cư như Vân Đồn,
Cát Bà, Phú quý, Côn Đảo, Phú Quốc, có nhiều vịnh, vũng, eo ngách, các dòng hải lưu, vừa
633,4
629,2
Nuôi hỗn hợp và thuỷ sản khác
32,7
122,2
53,4
53,3
62,7
Ươm, nuôi giống thuỷ sản
0,4
0,4
0,3
0,3
0,3
Diện tích nước ngọt
277,8
291,6
293,5
307,4
338,8
Nuôi cá
267,4
281,7
283,8
294,6
326,0
Nuôi tôm
6,4
4,9
4,6
Ngoài tiềm năng về biển, trong nội địa hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt và
các hồ thủy lợi, thủy điện, đã tạo cho nước ta có tiềm năng lớn về mặt nước với khoảng 1,7
triệu ha, ngoài ra còn chưa kể đến mặt nước các sông.
Như vậy, cho thấy tiềm năng phát triển NTTS của nước ta cũng còn rất lớn. Đặc biệt
ở vùng ĐBSCL có nhiều rừng ngập mặn rất thuận lợi cho việc nuôi tôm, các đồng bằng có
nhiều ô trũng để thả cá, nuôi các loài đặc sản. Trên các sông, hồ có điều kiện nuôi cá bè.
1.2.1.2. Nguồn lợi giống loài thủy sản
Qua thống kê cho thấy biển Việt Nam có tổng số 2038 loài cá, trong đó có trên 110
loài cá có giá trị kinh tế, 40 – 50 loài có sản lượng đánh bắt cao. Tổng trữ lượng cá trên biển
Đông là 2.769.041 tấn, trong đó cá nổi chiếm 62,8%, cá tầng đáy 37,2%. Có 19 loài cá voi,
225 loài tôm, 663 loài tảo rong biển, 55 loài mực, 5 loài rùa, 21 loài rắn biển. Ngoài ra còn
có nhiều loài hải sản quý giá như bào ngư, trai ngọc, sò huyết, san hô đỏ…Trữ lượng nguồn
lợi hải sản ước tính khoảng 3,0 đến 3,5 triệu tấn,khả năng khai thác 1,4 đến 1,5 triệu tấn.Với
điều kiện tự nhiên thuận lợi, vùng biển Việt Nam có năng suất sinh học tương đối cao
Có đến 225 loài tôm thuộc 11 họ tôm biển, số loài có giá trị kinh tế chiếm đến 50%,
đa số sống trong các vùng biển nông tới độ sâu 50m, rất thuận lợi cho việc đánh bắt. Hầu
hết, tôm biển ưa thích nền đáy bùn hoặc bùn cát vì thế thường tập trung ở các vùng cửa
sông. Khả năng khai thác tôm ở vùng biển Việt Nam khoảng 55 – 70 ngàn tấn/năm, chủ yếu
ở vùng biển Nam Bộ chiếm tới 80% tổng sản lượng khai thác của cả nước.
Ngoài ra có khoảng 55 loài mực thuộc 4 họ, trong đó 2 họ mực ống và mực nang
chiếm đa số, 7 loài bạch tuộc và các loài thực vật biển khác.
Việt nam có 2 khu hệ cá nước ngọt. Khu hệ cá miền Bắc thuộc hệ ngư lai Hoa Nam –
Trung Quốc với 240 loài, phần lớn là những loài cá ăn thực vật, tiếp đến là các loài cá ăn
tạp, ăn mùn bã hữu cơ, có ít loài ăn động vật. Khu hệ cá miền Nam thuộc hệ ngư lai Ấn Độ -
Malaysia với 225 loài, số loài cá ăn động vật chiếm ưu thế, số loài cá ăn thực vật ít hơn.
Trong tổng số 495 loài cá, có khoảng 50 loài có giá trị kinh tế cao, đó là những loài
cá nuôi hoặc khai thác trong tự nhiên có sản lượng lớn. Ngoài cá, thủy vực nước ngọt còn có
nhiều loài thủy sản khác, đáng kể nhất là nhóm giáp xác mà quan trọng nhất là tôm càng
xanh, các loài nhuyễn thể như trai, ốc và các loài thủy đặc sản như rắn, rùa, baba, cá sấu . . .
1.2.1.3. Khí hậu, thời tiết
Đảng và Nhà nước ta là tiến tới CNH – HĐH trên tất cả các lĩnh vực, do đó ngành thủy sản
là một trong những lãnh vực phải được đổi mới đầu tiên và quá trình chuyển đổi cơ chế
quản lý kinh tế phải được thực hiện một cách đồng bộ trên cơ sở ổn định và phát triển kinh
tế - xã hội.
Từ năm 1995 đến năm 2005, ngoài văn kiện của hai kỳ Đại hội Đảng khóa VIII và
khóa IX nêu rõ chủ trương đường lối phát triển thủy sản, còn có hàng trăm văn bản chính
sách có liên quan đến phát triển NTTS được ban hành. Các chính sách này có thể chia thành
nhiều nhóm khác nhau như. Các chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế, trong đó Đại hội
Đảng toàn quốc lần VIII đã chỉ rõ: “Phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công
nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản, đổi mới cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn theo
hướng CNH – HĐH”. Với đường lối chỉ đạo này đã có một sức ảnh hưởng rất lớn đến
ngành thủy sản, đó là nâng cao sự phát triển ngành thủy sản trong nền nông nghiệp toàn
diện.
1.2.2.2. Nguồn nhân lực
Ngành thủy sản thu hút hơn 4 triệu lao động đang trực tiếp hoặc gián tiếp làm việc,
đa số có truyền thống về nuôi trồng và đánh bắt thủy sản, sức lao động của họ đóng góp một
vai trò quan trọng đối với sự phát triển của ngành.
Tuy nhiên, nguồn nhân lực này chưa đáp ứng yêu cầu phát triển thủy sản do trình độ
thấp, thiếu kinh nghiệm, thiếu kiến thức về đánh bắt, nuôi trồng và chế biến. Đa số nông dân
và ngư dân gần như chưa được tập huấn, đào tạo chuyên môn sâu, nhiều doanh nhân chưa
có trình độ và bằng cấp chuyên môn, kỹ thuật cần thiết, số đông chủ trang trại và ngư trại
chưa có trình độ sơ, trung cấp về nông nghiệp và thủy sản, thiếu kiến thức về kỹ năng thực
hành, kỹ thuật nông nghiệp, ngư nghiệp và quản lý kinh doanh.
1.2.2.3. Cơ sở vật chất kĩ thuật
Tàu thuyền đánh bắt: theo số liệu của Bộ thủy sản, năm 2003 số thuyền, xuồng
không động cơ dùng để khai thác trên sông rạch là 168.049 chiếc, tổng số tàu thuyền cơ giới
là 102.069 chiếc với tổng công suất là 4.194.242 CV. Trong đó, số tàu đánh bắt xa bờ là
17.303 chiếc, số tàu khai thác nội địa là 10.608 chiếc. Đến năm 2005, tổng số tàu thuyền cơ
giới là 90.880 chiếc, trong đó số tàu đánh bắt xa bờ là 20.537 chiếc, như vậy so với năm
2003 số lượng này tăng lên để đảm bảo chương trình đánh bắt xa bờ.
chuyển giao cho các thành phần kinh tế.
Cơ sở chế biến thủy sản
Năm 1995, ngành thủy sản Việt Nam trở thành thành viên của tổ chức nghề cá Đông
Nam Á, cùng với việc mở rộng thị trường xuất khẩu đã tạo điều kiện cho ngành công nghiệp
chế biến thủy sản có chiều hướng phát triển tốt. Năm 2005, cả nước có 439 nhà máy chế
biến thủy sản xuất khẩu, đến năm 2010, Việt Nam đã có 568 cơ sở chế biến thủy sản xuất
khẩu hoặc làm vệ tinh cho các doanh nghiệp xuất khẩu. Về chất lượng, cộng đồng các
doanh nghiệp cũng như từng doanh nghiệp chế biến đã nỗ lực nâng cao công nghệ, đổi mới
trang thiết bị và đầu tư nâng cấp nhà xưởng. Phần lớn doanh nghiệp đã áp dụng các chương
trình quản lý chất lượng như HACCP, ISO đảm bảo được các yêu cầu vệ sinh an toàn thực
phẩm cũng như các yếu tố về môi trường.
Chất lượng sản phẩm thủy sản không ngừng được nâng lên do các cơ sở chế biến
ngày càng hiện đại, công nghiệp tiên tiến, quản lý theo tiêu chuẩn quốc tế. Từ 18 doanh
nghiệp năm 1999, đến năm 2005 đã có 171 doanh nghiệp Việt Nam được đưa vào danh sách
I xuất khẩu vào EU, 295 doanh nghiệp được phép xuất khẩu vào Hàn Quốc, 300 doanh
nghiệp áp dụng quy trình quản lý chất lượng sản phẩm theo HACCP (Hazard Analysis
Crtitical Control Point), đủ tiêu chuẩn xuất khẩu vào thị trường Mỹ, 222 doanh nghiệp đạt
tiêu chuẩn xuất khẩu vào Trung Quốc.
Bên cạnh các doanh nghiệp nhà nước, các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu thủy sản
của tư nhân phát triển mạnh trong thời gian qua, nhiều doanh nghiệp thuộc thành phần kinh
tế tư nhân đã có giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản hàng đầu, một số doanh nghiệp chế
biến xuất khẩu đã có kim ngạch xuất khẩu trên dưới 100 triệu USD mỗi năm.
1.2.2.4. Thương mại thủy sản
Với hàng nghìn chợ thủy sản trên thị trường nội địa với các quy mô rất khác nhau, rất
đa dạng về loại hình : chợ trên biển, chợ ở vùng nguyên liệu, chợ ở vùng tiêu thụ, chợ bán
buôn, chợ bán lẻ truyền thống, siêu thị, tạo thành một mạng lưới tiêu thụ thủy sản, đáp ứng
yêu cầu của các nhà máy chế biến và của hơn 80 triệu dân Việt Nam.
1.3. Tình hình phát triển ngành thủy sản
1.3.1. Tình hình phát triển ngành thủy sản trên thế giới.
Với đặc trưng là sản phẩm tiêu dùng thiết yếu, tình hình đánh bắt và nuôi trồng thủy