BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH
Phạm Hoàng Hải Ngọc
TỔ CHỨC LÃNH THỔ TRỒNG VÀ
CHẾ BIẾN ĐIỀU Ở TỈNH BÌNH THUẬN
Chuyên ngành: Địa lý học
Mã số:
60 31 95
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC
Ban Giám hiệu nhà trường, Phòng Khoa học Công nghệ và Sau Đại học đã tạo
điều kiện thuận lợi cho học viên trong việc học tập, nghiên cứu và hoàn thành
Luận văn tốt nghiệp.
Cùng lời cảm ơn chân thành đến các Thầy Cô, đồng nghiệp, bạn bè và gia đình đã
có nhiều sự giúp đỡ, đóng góp ý kiến và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi có thể hoàn
thành tốt khóa học và Đề tài nghiên cứu. Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 8/2010
Tác giả Luận văn
Phạm Hoàng Hải Ngọc
MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
Điều là loại cây trồng có nhiều công dụng, có giá trị kinh tế cao, không chỉ là nguồn
thực phẩm cung cấp cho con người mà còn là nguồn nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế
biến.
Cây điều là cây nhiệt đới, nguồn gốc ở Brazil. Người Bồ Đào Nha là những người đầu
tiên đưa cây điều từ Brazil tới châu Á và châu Phi. Ngày nay trên thế giới cây điều đã được
trồng trên một vùng rộng lớn trong phạm vi từ vĩ tuyến 30
0
Nam đến 30
0
Bắc và trở thành
một cây có giá trị kinh tế lớn. Những nước trồng điều nhiều là Ấn Độ, Brazil, Mozambique,
Tanzania, Kenya.
Cây điều được du nhập vào nước ta từ thế kỷ XVIII, ban đầu được trồng phân tán
chúng và hiệu quả đạt được từ cây điều ở Bình Thuận.
-Xây dựng mô hình tổ chức lãnh thổ hợp lý và đề xuất giải pháp thực hiện có hiệu quả
ngành sản xuất điều ở tỉnh Bình Thuận.
4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
-Đối tượng nghiên cứu: tình hình trồng và chế biến sản phẩm từ cây điều và mối quan
hệ giữa trồng và chế biến điều ở Bình Thuận.
-Phạm vi nghiên cứu: địa bàn nghiên cứu chủ yếu là các khu vực trồng điều và các cơ
sở chế biến điều ở Bình Thuận.
5. Những công trình nghiên cứu có liên quan
-Tổ chức lãnh thổ trồng và chế biến nông sản cũng như kết hợp nông – công nghiệp đã
được nghiên cứu từ lâu và đi vào thực tiễn sản xuất của nhiều nước trên thế giới. Ở Việt
Nam, mô hình kết hợp nông – công nghiệp đã được nghiên cứu cả về mặt lí luận lẫn thực
tiễn.
-Với sự chú trọng quan tâm đầu tư phát triển của Đảng và Nhà nước đã có nhiều đề
tài, dự án, hội thảo nghiên cứu phát triển cây điều:
+ Đề tài “Xây dựng mô hình thâm canh cây điều ghép trên vùng đất cát đỏ Bình
Thuận” – KS.Tô Quang Bình – Sở Nông nghiệp Phát triển Nông thôn Bình Thuận
+ Dự án cây điều VIE 85/005 – Bình Thuận (1986 – 1992)
+ Báo cáo “Kĩ thuật trồng và thâm canh cây điều” – Sở Nông nghiệp Phát triển Nông
thôn Bình Thuận
Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có nghiên cứu nào cụ thể liên quan đến tổ chức lãnh thổ
cũng như việc quy hoạch, tổ chức có hiệu quả giữa vùng nguyên liệu với các cơ sở chế biến
nhằm phát huy lợi thế của ngành sản xuất cây điều. Đây cũng là nội dung cơ bản cho đề tài
nghiên cứu của luận văn dưới góc độ về Địa lý Kinh tế- Xã hội.
6.Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
6.1.Phương pháp luận
6.1.1.Quan điểm hệ thống
Bình Thuận là tỉnh cực nam của vùng duyên hải Nam Trung bộ, có mối quan hệ và
giao lưu kinh tế thuận lợi với các tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, các tỉnh nam
Tây Nguyên và duyên hải miền Trung. Sức hút của các trung tâm phát triển lớn như Thành
6.2.1.Phương pháp thu thập, thống kê và phân tích tổng hợp
Tiến hành thu thập tài liệu liên quan đến nội dung đề tài từ các nguồn: báo chí, thư
viện, trên mạng Internet, các dự án của các ban ngành, hội thảo….Từ đó, chọn lọc nội dung,
phân tích, tổng hợp và xử lý số liệu đảm bảo giá trị phục vụ cho nội dung nghiên cứu đề tài.
Số liệu được tổng hợp và xử lý trên cơ sở dữ liệu của Cục Thống kê tỉnh Bình Thuận,
Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Bình Thuận….Đồng thời, tôi cũng tham khảo
các số liệu được công bố trên sách, báo của các cơ quan khác như Viện Khoa học Kỹ thuật
Nông nghiệp miền Nam.
6.2.2.Phương pháp điều tra thực địa
Để có các số liệu cơ bản và có cái nhìn thực tế để nhận xét đúng các yếu tố ảnh hưởng
cũng như thực trạng trồng và chế biến điều ở tỉnh Bình Thuận nên tôi đã đi thực tế đến các
cơ quan ban ngành có liên quan, đến một số hộ gia đình nông dân gắn bó lâu dài với nghề
trồng điều. Đồng thời tôi cũng tham khảo ý kiến về những khó khăn, kiến nghị đến việc
trồng và chế biến điều từ một số cán bộ, chuyên gia và hộ nông dân.
6.2.3.Phương pháp bản đồ, biểu đồ
Đây là phương pháp đặc trưng trong nghiên cứu các vấn đề về Địa lý. Xây dựng một
số bản đồ liên quan tới nội dung đề tài và xây dựng một số sơ đồ, biểu đồ thể hiện đối tượng
nghiên cứu một cách trực quan cho việc phân tích đánh giá và so sánh số liệu giữa các năm.
6.2.4.Phương pháp dự báo
Dự báo xu hướng phát triển của từng ngành, từng vùng là công việc cần thiết không
thể thiếu được của nghiên cứu địa lý. Trong nội dung nghiên cứu của mình, tôi cố gắng đưa
ra những dự báo có cơ sở khoa học về việc phát triển ngành điều trên các phương diện: diện
tích trồng điều, sản lượng điều, khả năng đáp ứng nhu cầu cho người tiêu dùng, tình hình
xuất nhập khẩu điều và dự báo về khả năng phát triển tổ chức lãnh thổ trồng và chế biến điều
ở tỉnh Bình Thuận trong chiến lược phát triển kinh tế của tỉnh nói riêng và cả nước nói
chung.
6.2.5.Phương pháp hệ thống thông tin địa lý (GIS)
Hệ thống phần mềm thông tin địa lý (GIS) được sử dụng phổ biến để lưu trữ, phân
tích, xử lý các thông tin không gian lãnh thổ. Hệ GIS cho phép chồng xếp các thông tin địa
lý để thấy được nét đặc trưng riêng cho đối tượng địa lý. Đề tài chủ yếu sử dụng phần mềm
1.1.2.Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp
Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp là một trong những hình thức tổ chức của nền sản xuất
xã hội theo lãnh thổ.
Qua các công trình của K.I.Ivanov, của VG.Kriutokov (1978) và một số tác giả khác
có thể quan niệm về vấn đề này như sau: “Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp được hiểu là một hệ
thống liên kết không gian của các ngành, các xí nghiệp nông nghiệp và các lãnh thổ dựa trên
Tổ chức nền sản xuất xã hội
TCLT các ngành và vùng
TCLT các vùng TCLT ngành Thành thị Nông thôn
Tổ chức môi trường sống
cơ sở các quy trình kỹ thuật mới nhất, chuyên môn hóa, tập trung hóa, liên hợp hóa và hợp
tác hóa sản xuất cho phép sử dụng có hiệu quả nhất sự khác nhau theo lãnh thổ về các điều
kiện tự nhiên, kinh tế, nguồn lao động và đảm bảo năng suất lao động xã hội cao nhất”.
Thông qua định nghĩa này, có thể thấy rõ sự nổi bật của một số điểm dưới đây:
-Phân công lao động theo lãnh thổ cùng với việc kết hợp giữa tự nhiên, kinh tế, nguồn
lao động là cơ sở để hình thành các mối liên hệ qua lại theo lãnh thổ.
-Khía cạnh ngành và khía cạnh lãnh thổ quyện chặt với nhau trong tổ chức lãnh thổ
nông nghiệp.
-Các đặc điểm không gian của sản xuất phần nhiều bắt nguồn từ tính chất của việc
khai thác và sử dụng các điều kiện sản xuất hiện có.
-Hiệu quả kinh tế là tiêu chuẩn hàng đầu trong việc tổ chức lãnh thổ nông nghiệp.
Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp không phải là bất biến. Nói cách khác, hình thái kinh tế-
xã hội nào thì có kiểu tổ chức lãnh thổ nông nghiệp tương ứng như thế. Hiện nay, tổ chức
theo vùng lãnh thổ, là sự tập trung các điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội tương đối đồng
nhất của vùng để tiến hành sản xuất ra những nông sản hàng hóa có lợi thế so sánh nhất so
với những vùng khác.
-Chuyên môn hóa theo các doanh nghiệp nông nghiệp: là hình thức biểu hiện phân
công lao động giữa các doanh nghiệp, đơn vị kinh doanh nông nghiệp, là sự tập hợp các năng
lực sản xuất của doanh nghiệp để sản xuất ra một vài nông sản hàng hóa có hiệu quả kinh tế
cao nhất.
Sản xuất nông nghiệp phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nhiều hơn các ngành sản xuất
khác. Hoạt động nông nghiệp bao trùm phạm vi lãnh thổ rộng lớn với các điều kiện tự nhiên
rất khác nhau. Trong chừng mực nhất định, các điều kiện tự nhiên nào đó có thể thuận lợi
hoặc không thuận lợi cho sự phát triển từng loại vật nuôi, cây trồng. Do vậy, khi vạch ra các
hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp, cần nghiên cứu kỹ các điều kiện tự nhiên, tiến hành
đánh giá chung về phương diện sinh thái. Điều đó nghĩa là cây trồng, vật nuôi phải được
phân bố ở những nơi có điều kiện thích hợp nhất. Vì thế, việc phân bố cây trồng, vật nuôi
cần được tiến hành trên cơ sở vạch ra các hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp.
Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp có nhiều hình thức từ thấp đến cao, từ đơn giản đến
phức tạp. Trong phạm vi đề tài, tôi xin đưa ra một vài hình thức tổ chức lãnh thổ nông
nghiệp quan trọng.
Xí nghiệp nông nghiệp: Xí nghiệp nông nghiệp là một trong những hình thức của tổ
chức lãnh thổ nông nghiệp trong đó có sự thống nhất giữa lực lượng lao động với công cụ và
đối tượng lao động để sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội. Mỗi xí nghiệp đều có tính độc
lập về pháp lý và có thể có quan hệ với các xí nghiệp khác.
Ở các nước Xã hội chủ nghĩa, các nông trang, nông trường quốc doanh, tập thể, các
hợp tác xã nông nghiệp được coi là xí nghiệp nông nghiệp.
Ở các nước phương Tây có nhiều hình thức liên quan đến xí nghiệp nông nghiệp. Phổ
biến là các nông trại và các đồn điền. Hình thức nông trại thường thấy ở Tây Âu và Bắc Mỹ
với quy mô khác nhau: từ vài ha đến hàng trăm ha. Trong khi đó, hình thức đồn điền tương
đối phổ biến ở các nước thuộc địa cũ thuộc vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Sản phẩm của
các đồn điền thường là các loại cây công nghiệp lâu năm (cao su, cà phê, ca cao, chè), cây
công nghiệp hàng năm, cây thực phẩm và chủ yếu để xuất khẩu.
Các xí nghiệp nông nghiệp có xu hướng phân bố liền nhau về lãnh thổ mang lại hiệu
quả kinh tế cao.
Cơ sở cấu trúc của các thể tổng hợp nông nghiệp, là các xí nghiệp nông nghiệp và các
xí nghiệp công nghiệp chế biến.
Cơ sở để phân loại dựa vào những sản phẩm hàng hóa mà việc sản xuất những sản
phẩm này do các điều kiện tự nhiên, kinh tế quyết định và liên quan tới việc lựa chọn các
quy trình hợp lý để đảm bảo hiệu quả kinh tế cao. Toàn bộ hệ thống các xí nghiệp nông
nghiệp, các xí nghiệp công nghiệp liên quan với nhau và liền nhau về lãnh thổ được hình
thành xung quanh các sản phẩm hàng hóa chính và các quy trình kỹ thuật để sản xuất ra các
sản phẩm ấy.
Xuất phát từ những quan điểm trên, người ta chia thành hai nhóm thể tổng hợp nông
nghiệp:
Các thể tổng hợp mà những sản phẩm hàng hóa sản xuất ra trước hết do các điều kiện
tự nhiên phân bố mang tính chất quyết định.
Các thể tổng hợp nông nghiệp ngoại thành. Đặc trưng cho các thể tổng hợp này là ở
chỗ sản phẩm hàng hóa chủ yếu của chúng do nhu cầu thực phẩm dân cư thành phố chi phối.
Các thể tổng hợp nông nghiệp ngoại thành hình thành chủ yếu xung quanh các thành phố,
các trung tâm công nghiệp. Ở đây, các yếu tố kinh tế đóng vai trò chủ đạo, còn các yếu tố tự
nhiên tuy cũng được lưu ý nhưng chỉ giữ vị trí thứ yếu. Quy mô (diện tích, sản phẩm) của
các thể tổng hợp có thể rất khác nhau tùy thuộc vào quy mô số dân của các thành phố, các
trung tâm công nghiệp.
Có thể nói thể tổng hợp nông nghiệp là một trong những hình thức tổ chức sản xuất
theo lãnh thổ mang lại hiệu quả kinh tế cao. Đồng thời, đây còn là bộ khung để tạo nên các
vùng nông nghiệp.
Vùng nông nghiệp: Vùng nông nghiệp được coi là một trong những hình thức tổ chức
lãnh thổ nông nghiệp. Thực chất, đó là những lãnh thổ sản xuất nông nghiệp tương đối đồng
nhất về các điều kiện tự nhiên, kinh tế được phân chia với mục đích phân bố hợp lý và
chuyên môn hóa đúng hướng các hoạt động sản xuất nông nghiệp trên cơ sở sử dụng đầy đủ
và có hiệu quả nhất các điều kiện sản xuất của các vùng trong cả nước cũng như trong nội
bộ từng vùng.
mối liên kết không gian của các ngành và các kết hợp sản xuất lãnh thổ khác nhau trên cơ sở
sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, vật chất, lao động cũng như tiết kiệm chi
phí để khắc phục sự không phù hợp đã xuất hiện trong lịch sử về việc phân bố các nguồn
nguyên nhiên liệu, năng lượng, nơi sản xuất và nơi tiêu thụ sản phẩm, góp phần đạt hiệu quả
kinh tế cao.
Ở nước ta, số lượng các công trình nghiên cứu về tổ chức lãnh thổ công nghiệp không
nhiều. Tuy nhiên, tổ chức lãnh thổ công nghiệp có thể được coi là việc bố trí hợp lý các cơ sở
sản xuất công nghiệp, các cơ sở phục vụ cho hoạt động công nghiệp, các điểm dân cư cùng
kết cấu hạ tầng trên một phạm vi lãnh thổ nhất định, nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn
lực bên trong cũng như bên ngoài của lãnh thổ đó.
1.2. Liên kết nông- công nghiệp- nội dung cốt lõi của tổ chức lãnh thổ
1.2.1.Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ với nền sản xuất nông
nghiệp tiên tiến
Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ đã biến nông nghiệp từ một ngành
sản xuất cổ truyền chủ yếu dựa vào kinh nghiệm thành một ngành sản xuất tiên tiến, dạng
sản xuất kiểu công nghiệp.
Không một ngành sản xuất nào trong giai đoạn hiện nay lại không chịu ảnh hưởng của
khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại. Trước hết là ở lĩnh vực cơ sở vật chất kỹ thuật phục
vụ sản xuất nông nghiệp. Việc đầu tư cho sản xuất nông nghiệp để chuyển từ nền sản xuất cổ
truyền tới một nền sản xuất hiện đại, một dạng sản xuất kiểu công nghiệp đã diễn ra từ giữa
thế kỷ XX. Các nước tư bản có nền kinh tế phát triển cao như Hoa Kỳ, Pháp, Australia,
Đức….đã đầu tư rất lớn cho sản xuất nông nghiệp trước hết là đầu tư trong lĩnh vực nghiên
cứu khoa học kỹ thuật phục vụ sản xuất nông nghiệp.
Các nước có trình độ khoa học kỹ thuật cao đã không ngần ngại khi đầu tư kinh phí
vào quá trình sản xuất nông nghiệp từ khâu lai tạo, chọn giống, cải tiến kỹ thuật sản xuất
(máy móc, thuốc trừ sâu, phân bón…). Cuộc cách mạng trong lĩnh vực di truyền đã làm thay
đổi nhanh chóng các kết quả sản xuất nông nghiệp: nhiều giống cây trồng và vật nuôi mới có
khả năng cho năng suất cao đã nâng sản lượng của ngành sản xuất nông nghiệp lên một cách
đáng kể và làm thay đổi cơ cấu giá trị sản lượng nông nghiệp trong cơ cấu tổng sản phẩm
quốc dân trong nước.
với các ngành kinh tế quốc dân khác. Mối quan hệ giữa sản xuất nông nghiệp với sản xuất
công nghiệp thể hiện ở chỗ nông nghiệp nhận những sản phẩm của công nghiệp phục vụ cho
qúa trình sản xuất nông nghiệp như phân bón, thiết bị máy móc, thuốc trừ sâu, … và cả
phương pháp tiến hành sản xuất hợp lý kiểu nông nghiệp.
Lực lượng sản xuất phát triển, phân công lao động xã hội ngày càng trở nên sâu sắc thì
mối liên hệ giữa các khâu trong quá trình sản xuất sản phẩm càng phải chặt chẽ hơn. Sự liên
kết giữa các khâu trong một quá trình sản xuất sản phẩm cuối cùng từ nông nghiệp đã dẫn
đến sự hình thành các liên hợp nông công nghiệp.
Quá trình liên kết giữa các bộ phận của sản xuất nông nghiệp với nhau hoặc giữa sản
xuất nông nghiệp với sản xuất công nghiệp được gọi là quá trình nhất thể hóa. Có sự nhất thể
hóa theo chiều ngang giữa các xí nghiệp sản xuất cùng một loại sản phẩm hoặc các xí nghiệp
cùng nằm trong một giai đoạn công nghệ để mở rộng quy mô sản xuất, sử dụng tốt hơn công
suất thiết bị. Cũng có sự nhất thể hóa theo chiều dọc giữa các xí nghiệp hoặc các ngành có
liên quan trong việc tạo ra sản phẩm cuối cùng, các xí nghiệp hoặc các ngành trong cùng dây
chuyền sản xuất.
Khái niệm nhất thể hóa bắt nguồn từ tiếng La Tinh “Integrato” nghĩa là “sự nhích lại
gần nhau”, “sự quyện chặt lấy nhau”. Theo nghĩa kinh tế của từ nhất thể hóa là tập hợp các
mối liên hệ thường xuyên, lâu dài, ổn định về sản xuất, kỹ thuật và kinh tế giữa các bộ phận
cấu thành một cách tự nguyện, tương đối biệt lập nhưng vẫn có mối liên hệ phụ thuộc lẫn
nhau của một tổng thể kinh tế nào đó nhằm tối ưu hóa cấu trúc và đảm bảo cho nó phát triển
tổng hợp, cân đối, nhịp nhàng.
Mục đích của quá trình nhất thể hóa là giảm tối thiểu chi phí sản xuất và thu lợi nhuận
tối đa. Nhất thể hóa loại trừ nguy cơ cạnh tranh giữa các công đoạn khác nhau của cùng một
chu trình thống nhất sản xuất ra một loại sản phẩm cuối cùng, làm hạ giá thành sản phẩm.
Nhất thể hóa còn là điều kiện để công nghiệp hóa nông thôn, thúc đẩy quá trình chuyển hóa
nông thôn thành đô thị.
Sự liên kết ngày càng chặt chẽ giữa công nghiệp và thương nghiệp với nông nghiệp
trong quá trình nhất thể hóa làm cho số lượng sản phẩm (có nguồn gốc nông nghiệp) đã qua
chế biến ngày càng đa dạng và giá thành hạ. Xu thế hòa hoãn và hợp tác sau thời kỳ chiến
tranh lạnh càng làm mở rộng hơn, làm sâu sắc thêm quá trình nhất thể hóa. Quá trình liên kết
kinh tế, tự nhiên và lịch sử.
Sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội là cơ sở đầu tiên
của quá trình liên kết nông công nghiệp và các ngành khác trong nền kinh tế quốc dân. Trước
khi xảy ra cuộc phân công lao động lần thứ nhất thì trồng trọt là hoạt động sản xuất duy nhất
của loài người, các sản phẩm làm ra chỉ mang tính chất tự cung, tự cấp.
Dựa vào sự phát triển của lực lượng sản xuất theo từng thời kì mà sự phân công lao
động diễn ra theo từng giai đoạn khác nhau. Sau giai đoạn đầu, chăn nuôi tách khỏi trồng
trọt, bên cạnh đó một số loại lao động mới có tính chất riêng biệt được tách khỏi nông nghiệp
là thủ công và thương nghiệp. Nền đại cơ khí xuất hiện là một bước ngoặc đã làm thay đổi
toàn bộ các quá trình sản xuất, thu hẹp thời gian, giải phóng sức lao động trong tất cả các
ngành. Từ đó các ngành thể hiện dần chỗ đứng độc lập của mình. Nông nghiệp, công nghiệp,
thương nghiệp… ra đời.
Sự phân công lao động xã hội dẫn tới sự tách riêng nhiều ngành sản xuất mang tính
chuyên môn hóa cao, nâng cao mức độ tập trung và xã hội hóa sản xuất, đẩy mạnh kinh tế,
tăng cường kết quả hoạt động của các ngành. Từ đó đã làm cho năng xuất lao động xã hội
tăng lên chưa từng thấy trước đây. Đây là một xu hướng được thể hiện ở việc tổ chức các
quy trình sản xuất cũng như sự phân chia quá trình công nghệ. Nhiều ngành sản xuất công
nghiệp hóa được tách ra như công nghiệp chế biến, cơ khí trồng trọt, cơ khí chăn nuôi…
Do tính chất về năng suất lao động và những thành tựu khoa học kĩ thuật áp dụng
trong sản xuất, đòi hỏi các xí nghiệp chuyên môn hóa sản xuất nhỏ phải tập trung và trở
thành các xí nghiệp có quy mô lớn tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa cho xã hội. Sự cần thiết
phải thiết lập các mối quan hệ chặt chẽ và tương đối ổn định giữa các xí nghiệp chuyên môn
hóa sản xuất dẫn đến sự hợp tác các xí nghiệp này với nhau. Vì thế chuyên môn hóa và hợp
tác hóa là hai mặt khác nhau của cùng một quá trình phân công lao động xã hội và quy định
lẫn nhau trong sự phát triển của mình.
Nếu các xí nghiệp ngày càng được chuyên môn hóa sâu thì nó càng phụ thuộc chặt chẽ
vào các xí nghiệp khác. Các mối liên hệ kinh tế - kỹ thuật ngày càng trở nên chặt chẽ hơn thì
đòi hỏi việc tổ chức lãnh thổ các mối liên hệ giữa chúng ngày càng cao hơn.
Ngày nay, theo xu hướng phát triển nền kinh tế nông nghiệp hiện đại, việc liên kết
giữa hai ngành sản xuất nông nghiệp và công nghiệp là một đòi hỏi tất yếu nhằm đem lại sản
triển đi lên của mình, giữa chúng đều có mối tương hỗ lẫn nhau, ngành này là cơ sở cho
ngành kia phát triển.
Việc bảo đảm các mối liên hệ chặt chẽ giữa các xí nghiệp thực hiện các giai đoạn kế
tiếp nhau trong cùng một quá trình công nghệ nhưng lại bị phân tán và quản lí theo từng
ngành khác nhau diễn ra rất phức tạp. Nếu không tổ chức tốt các mối liên hệ, tất yếu dẫn đến
tình trạng mất cân đối và ảnh hưởng xấu đến nhịp điệu trao đổi, chất lượng nguyên liệu và
sản phẩm cuối cùng, dẫn đến những hao phí, tổn thất trong quá trình sản xuất và tiêu thụ.
Tính tất yếu và trở thành một yêu cầu khách quan là cần phải liên kết các xí nghiệp và các
ngành sản xuất chuyên môn hóa nhằm tái tạo quy trình công nghệ thống nhất mà trước đó đã
bị chia cắt trong quá trình phân công lao động xã hội.
Ở Hoa Kỳ và các nước Tây Âu thể hiện khá rõ nét về sự liên kết sản xuất, hầu như các
nông trại lớn có mối liên hệ với các công ty chế biến sản phẩm nông nghiệp, hóa chất, sản
xuất máy móc phục vụ nông nghiệp… thành các liên hợp lớn.
Hiện nay, các liên hợp nông công nghiệp đã hình thành các xí nghiệp có tính chất đa
quốc gia. Chuyển giao công nghệ và áp dụng công nghệ tiên tiến trong quy trình sản xuất.
Các xí nghiệp nông công nghiệp không những chỉ kết hợp hoạt động sản xuất nông nghiệp
với các xí nghiệp chế biến nông sản mà còn quản lý luôn cả khâu bảo quản, lưu trữ và lưu
thông phân phối. Như hãng Vexton ở Anh. Hãng này có 115 trang trại lớn, 6 nhà máy liên
hợp nuôi gia cầm, 18 nhà máy chế biến thức ăn phục vụ cho chăn nuôi, 114 nhà máy chế
biến bánh kẹo, chè, cà phê, 522 cửa hàng với tổng số lao động khoảng 110.000 công nhân.
Tóm lại: Việc hình thành liên kết nông công nghiệp là kết quả của quá trình hai mặt
tưởng như đối lập nhau: một mặt phân công lao động xã hội đã tách việc sản xuất nông phẩm
cuối cùng thành các ngành, các dạng hoạt động, tức là thể hiện sự phân hóa và mặt khác là
sự liên kết tổng hợp các ngành và các dạng hoạt động lại với nhau.
1.3.2.Cơ sở vật chất của liên kết nông- công nghiệp
Hiện nay hầu hết các nước trên thế giới đều có khuynh hướng đổi mới cơ cấu trong
nông nghiệp. Có nghĩa là biến đổi nền sản xuất nông nghiệp trở thành một kiểu sản xuất
công nghiệp, bằng cách thay đổi cơ sở vật chất kỹ thuật, quy trình công nghệ và tổ chức quản
lý nông nghiệp. Công nghiệp hóa nông nghiệp chính là cơ sở vật chất tạo tiền đề cho việc
hình thành liên kết nông công nghiệp.
Trong lĩnh vực khoa học phục vụ nông nghiệp: nghiên cứu các kỹ thuật về tách và
ghép GIEN để tạo ra các giống thực vật và động vật mới có năng suất cao, chất lượng tốt
phục vụ trồng trọt và chăn nuôi. Nghiên cứu trong nhà kính cây trồng trong dung dịch và
chất độn thay thế đất tự nhiên để đưa vào sản xuất.
Hầu hết những lĩnh vực nêu trên làm cho quá trình nhất thể hóa giữa các ngành tham
gia sản xuất ra sản phẩm cuối cùng hình thành liên hợp nông công nghiệp.
Hiện nay trong điều kiện cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ phát triển nhanh
chóng, công nghiệp hóa nông nghiệp được thể hiện qua các đặc điểm như sau:
- Không chỉ hệ thống máy móc, mà các tổ hợp, các tư liệu lao động cơ giới, hóa học,
kỹ thuật, thủy lợi và sinh học đều nằm trong một tổng thể cơ sở vật chất sinh học - kỹ thuật
của nông nghiệp.
- Nét tiêu biểu của giai đoạn tiến bộ kỹ thuật hiện nay trong nông nghiệp là sự kết hợp
hữu cơ những biến đổi cơ sở vật chất kỹ thuật với những cải tiến tương ứng về tổ chức sản
xuất ở mọi cấp.
- Công nghiệp hóa nông nghiệp phát triển với nhịp độ cao, kết hợp chặt chẽ với cơ sở
vật chất sinh học, kỹ thuật của quy trình công nghệ và tổ chức sản xuất.
Tóm lại: Liên kết nông công nghiệp ra đời là do sự phân công lao động trong xã hội
ngày càng sâu sắc, đồng thời nhờ vào kết quả của quá trình tập trung hóa, chuyên môn hóa
và nhất thể hóa trong sản xuất tạo nên những mối liên hệ giữa nông nghiệp, công nghiệp và
các ngành kinh tế khác. Bên cạnh đó có sự tham gia của các thành tựu khoa học kỹ thuật và
công nghệ vào quy trình sản xuất và quản lý.
1.3.3.Tiền đề khách quan của sự ra đời liên kết nông- công nghiệp ở Việt Nam
Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đã và đang diễn ra hết sức mạnh mẽ trên thế
giới đã làm thay đổi sâu sắc về cơ cấu kinh tế của mỗi quốc gia, nhất là các nước đang phát
triển. Liên kết kinh tế giữa các nước là hình thức biểu hiện mang tính hệ thống toàn cầu phụ
thuộc lẫn nhau. Vì vậy, nước ta không thể không mở cửa, hòa nhập với nền kinh tế thế giới,
tận dụng những tiến bộ khoa học - kỹ thuật và công nghệ phục vụ cho sự phát triển kinh tế -
xã hội của đất nước.
Từ Đại hội Đảng lần thứ VII cho đến nay, Đảng ta luôn có những chiến lược và sách
lược đúng đắn để tiến hành CNH, HĐH đất nước, nhằm tạo ra những giá trị về vật chất với
sắc và ngày càng năng động hơn. Cơ sở vật chất kỹ thuật và trình độ khoa học công nghệ đã
được nâng cao đáng kể. Thị trường trong nước tăng nhanh, thị trường ngoài nước được mở
rộng. Chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần đang phát huy tác dụng tích cực trong
việc huy động các nguồn lực và phát huy lợi thế của đất nước, tạo điều kiện thuận lợi cho thu
hút các nguồn lực từ bên ngoài. Vị thế của đất nước trên trường quốc tế được cải thiện và
củng cố.
Có được kết quả trên, ngoài việc tác động của chính sách phát triển nông nghiệp đúng
đắn mà Đảng và Nhà nước đề ra, còn có sự tham gia tích cực và hiệu quả của nền công
nghiệp. Các ngành công nghiệp phục vụ cho sản xuất ra đời như: nhà máy cơ khí phục vụ
nông nghiệp, nhà máy sản xuất phân bón, thuốc trừ sâu, công nghiệp chế biến nông sản…;
sự tác động mạnh mẽ của công nghiệp vào nông nghiệp đã làm cho cả hai ngành nông, công
nghiệp từng bước lớn mạnh.
Theo tổng kết kinh nghiệm của nhiều nước, người ta đã rút ra một kết luận là: mối
quan hệ nông công nghiệp bền vững là mối quan hệ 1 : 2, có nghĩa là nếu nông nghiệp phát
triển với tốc độ 2%/năm thì công nghiệp chỉ có thể phát triển với tốc độ trên dưới 4%/năm,
và nói chung mối quan hệ này tương đối đúng cho nhiều nước trong quá trình phát triển công
nghiệp hóa.
Vấn đề đặt ra là: Các nhà máy chế tạo máy móc nông nghiệp và các nhà máy chế biến
sản phẩm nông nghiệp từ phục vụ sản xuất cho đến tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp. Giữa
chúng chưa có mối quan hệ mật thiết nội tạng với nhau và đặc biệt chưa có những mối liên
kết kiểu nông công nghiệp theo đúng nghĩa của nó. Muốn phát triển nông nghiệp có hiệu quả
cao, thì không còn cách nào khác là phải hợp tác chặt chẽ giữa các ngành sản xuất công cụ,
máy móc công nghiệp và chế biến sản phẩm nông nghiệp dựa trên sự phân công lao động
trong một dây chuyền công nghệ sản xuất một loại sản phẩm nông nghiệp.
Vừa qua các doanh nghiệp ở nước ta cũng đã tiến hành bố trí lại sản xuất, xác định
nguồn nguyên liệu nông sản, áp dụng công nghệ mới trong chế biến, đa dạng hóa sản phẩm
và cải tiến mẫu mã phù hợp với thị hiếu tiêu dùng của từng thị trường trong và ngoài nước
như: sản phẩm chè chế biến từ 7 mặt hàng (3 loại chè đen và 4 loại chè hương), đến nay đã
có 45 mặt hàng chè tham gia vào thị trường; về cà phê, ngoài cà phê nhân còn có các mặt
hàng cà phê hòa tan, cà phê rang xay xuất khẩu; mặt hàng gạo xuất khẩu cũng đa dạng hơn.
thiết kế. Tình trạng nguyên liệu lúc thiếu, lúc thừa, tranh chấp quyền lợi giữa nông dân và
nhà máy diễn ra kéo dài trong ngành điều, gỗ làm bột giấy, đay sợi v.v… ảnh hưởng xấu đến
thu nhập của nông dân và khả năng cạnh tranh của ngành công nghiệp chế biến nông sản
Việt Nam.
Nhìn chung, năng lực công nghiệp chế biến và công nghệ sau thu hoạch chưa theo kịp
tốc độ phát triển sản xuất nguyên liệu và yêu cầu về nâng cao chất lượng và hiệu quả nông
sản phẩm. Hầu hết các sản phẩm nông nghiệp đều được tiêu thụ dưới dạng thô hoặc sơ chế.
Công nghiệp chế biến chưa làm được chức năng mở đường tạo điều kiện cho nông nghiệp
phát triển.