nghiên cứu sự sinh trưởng của cây hoàng lan (cananga odorata (lamk.) hook.f. & thomson) ở giai đoạn vườn ươm với các chế độ bón phân khác nhau - Pdf 10

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Văn Định NGHIÊN CỨU SỰ SINH TRƯỞNG
CỦA CÂY HOÀNG LAN
(CANANGA ODORATA (LAMK.) HOOK.F. &
THOMSON)
Ở GIAI ĐOẠN VƯỜN ƯƠM VỚI CÁC CHẾ
ĐỘ BÓN PHÂN KHÁC NHAU

Chuyên ngành: Sinh Thái Học
Mã số: 60 42 60
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

NGUYỄN VĂN ĐỊNH
LỜI CAM ĐOAN “Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu và kết quả
được tôi trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ
công trình nào khác”.

NGUYỄN VĂN ĐỊNH
DANH MỤC
CÁC KÝ HIỆU, CÁC TỪ VIẾT TẮT

CS: Che sáng
ĐC: Đối chứng
NT: Nghiệm thức
S.cây: Số cây
TN: Thí nghiệm
TB: Trung bình
h: Chiều cao của cây hoàng lan
h: Gia tăng chiều cao trung bình/tháng
d: Đường kính thân cây
d: Gia tăng đường kính thân trung bình/tháng
L: Số lá trung bình của cây hoàng lan
L: Gia tăng số lá trung bình/tháng
S: Diện tích lá trung bình/cây
S: Gia tăng diện tích lá trung bình/tháng
C: Số cành cấp I trung bình/cây
C: Gia tăng số cành cấp I trung bình/tháng

MỞ ĐẦU

trồng, chăm sóc, … các loại cây có dầu để nâng cao về chất lượng và sản lượng tinh dầu sản
xuất.
Tinh dầu hoàng lan (ylang – ylang oil) có giá trị trên thị trường khá cao, tùy thuộc
vào chất lượng mà 1kg tinh dầu thay đổi trong khoảng 81 – 97 USD [28], được trồng và
khai thác nhiều ở các nước như Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Philippines, Madagasca,
Guam, … tinh dầu này được dùng để xoa bóp thư giãn, giúp hạ huyết áp, điều tiết các chất
bã nhờn trên da, sát khuẩn, …mùi tinh dầu hoàng lan pha trộn khá tốt với phần lớn các loại
mùi cây cỏ, hoa quả và gỗ.
Ở Việt Nam, cây hoàng lan chưa được quan tâm nghiên cứu và trồng với qui mô sản
xuất hàng hóa, mà chỉ được trồng rộng rãi ở các công viên, trường học, nhà dân để lấy bóng
mát và làm cảnh. Tinh dầu hoàng l
an có giá trị cao và rất có triển vọng để trồng và khai thác
ở nước ta. Vì thế, việc nghiên cứu sự sinh trưởng của cây con ở giai đoạn vườn ươm với các
chế độ bón phân khác nhau, nhằm tìm ra một chế độ bón phân thích hợp nhất, nghiên cứu
các điều kiện sinh thái, đặc điểm sinh học của cây hoàng lan, chuyển giao và cung cấp giống
cây trồng cho các địa phương, tiến tới trồng đại trà ở các vùng miền khác nha
u của nước ta
để tạo nguồn nguyên liệu lấy tinh dầu đáp ứng nhu cầu sử dụng trong nước và xuất khẩu là
rất cần thiết.
Từ những lý do trên nên chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu sự sinh trưởng của
cây hoàng lan (Cananga odorata (Lamk.) Hook. f. & Thomson) thuộc họ Na
(Annonaceae) ở giai đoạn vườn ươm với các chế độ bón phân khác nhau”.
2. Mục tiêu đề tài
Nghiên cứu sự sinh trưởng của cây hoàng lan trồng trong túi bầu với các nghiệm thức
bón phâ
n khác nhau, từ đó tìm ra nghiệm thức bón phân thích hợp nhất đối với sự sinh
trưởng, phát triển của cây hoàng lan trong giai đoạn vườn ươm, cung cấp nguồn cây giống
khỏe mạnh.
3. Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu sự sinh trưởng của cây con hoàng lan trong 6 tháng với các nghiệm

Trong quá trình phát triển, các hợp chất cacbon do quá trình quang hợp tạo ra được
vận chuyển tới hạt dưới dạng đường saccarose. Trong hạt, đường biến đổi sang nhiều hợp
chất, nhưng phần lớn chuyển sang chất dự trữ carbohydr
ate, lipid, protein (Bewley & Black,
1994). Nhiều loài hạt có nhiều dạng chất dự trữ hơn, song thường chỉ có một dạng ưu thế.
Theo Korstian (1927), hiện tượng miên trạng của nhóm sồi đen liên quan đến hàm
lượng lipid cao trong hạt, quá trình ủ hạt cần thiết để làm biến đổi lipid thành dạng
carbohydrate thuận lợi hơn cho việc nảy mầm. Theo Vozzo và Young (1975) thì sự biến đổi
đó được thực hiện trong thời gian ủ hạt, nhưng lại không có sự kết nối tới trạng thái ngủ đã
hình thành.
Cũng có một số loài có hàm lượng giàu lipid (Catalpa bignonindes Walt) không
thể hiện trạng thái ngủ, trong khi đó một số loài có hàm lượng hydratecarbon cao như Celtis
laevigata Will và Juniperus virginiana L. lại luôn ở trạng thái ngủ. [13] [16]
Riêng về lĩnh vực cây tinh dầu thì đã có các công trình nghiên cứu về chất lượng hạt
giống và nhân tố chi phối nảy mầm trên bạc hà (Mentha arvensis), húng quế (Osi
mum
basilicum), hương lau (Vertiveria zizinoides), tràm trà (Melaleuca alternifolia), …và đề tài
nghiên cứu về khả năng nảy mầm của hạt hoàng lan (Cananga odorata) với các nghiệm
thức khác nhau. [2]
1.2. Nghiên cứu về ảnh hưởng của các nhân tố khoáng lên sinh trưởng cây con giai
đoạn vườn ươm
Sinh trưởng và phát triển là những đặc điểm quan trọng trong vòng đời của cây
chịu ảnh hưởng môi trường sống rất rõ rệt. Trong tự nhiên có rất nhiều nhân tố dinh dưỡng
khoáng thiết yếu cần cho sự sinh trưởng của cây, trong đó quan trọng nhất là N, P, K. Sinh
trưởng của cây phụ thuộc nhiều vào điều kiện khí hậu,
đất đai, giống, công tác bảo vệ thực
vật, kỹ thuật canh tác, …khi các điều kiện trên được đảm bảo thì sinh trưởng của cây phụ
thuộc đặc biệt vào phân bón. Phân bón có vai trò quan trọng trong sự sinh trưởng, phát triển
của cây con, và sự sinh trưởng đó có sự khác biệt rất lớn khi bón đơn độc, bón phối hợp các
yếu tố dinh dưỡng. Các nghiên cứu về ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng của cây con

xấu, cây mất sức rất nhanh sau khi ra hoa và khó phục hồi. Thừa lân thường dẫn đến thiếu
kẽm, sắt, manga
n.
Kali trong cây tồn tại dạng ion, liên kết không bền vững với chất nguyên sinh, một
phần dưới dạng acid hữu cơ. Nhờ có tính linh động cao nên kali hầu như được rút hoàn toàn
ra khỏi mô sống của cây bằng nước lạnh. Sự rửa trôi kali khỏi lá do mưa trong thời gian
mưa rào kéo dài đôi khi làm cây thiếu kali. Kali làm tăng độ chứa nước của chất nguyên
sinh, tăng khả năng giữ nước và tính thấm của chất nguyên sinh, ảnh hưởng tốt đến sự tổng
hợp các chất trùng hợp (tinh bột, protein, c
hất béo). Trong cây kali là chất đối kháng của
magie, nhưng lại giúp làm tăng quá trình hút và sử dụng phospho, đạm, sắt. Tác dụng sinh
lý của kali thường liên quan đến tính phóng xạ của nó, hoạt tính phóng xạ của kali thường
chiếm hơn một nửa tổng số phóng xạ tự nhiên trong cây. Kali trong cây được đồng hóa dễ
dàng từ các muối di động như clorua, sulfate, cacbonat, nitrat, …kali có vai trò cấu trúc nên
các coenzyme, thực hiện các phản ứng trao đổi chất và có vai trò trong điều hòa hoạt động
cơ thể thực vật. Thiếu kali cây ké
m phát triển, lá già vàng dần từ hai mép và chóp lá, sau lan
dần vào trong, lá đôi khi bị xoắn lại, cây mềm yếu dễ bị sâu bệnh tấn công, cây chậm ra hoa,
hoa nhỏ, màu sắc không tươi và dễ bị dập nát. Thừa kali thân, lá không mỡ màng, lá nhỏ,
đồng thời dẫn đến thiếu magie và canxi. [31] [32]

1.3. Nghiên cứu về sự ảnh hưởng của ánh sáng lê
n sinh trưởng cây con ở giai đoạn
vườn ươm
Ánh sáng đóng một vai trò quan trọng trong sự sinh trưởng và phát triển của thực vật,
nhất là quá trình quang hợp và hút khoáng ở thực vật. Những cây ưa sáng thì ánh sáng là
nhân tố rất quan trọng ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của cây. Tuy nhiên, trong
suốt vòng đời thì ở những giai đoạn khác nhau của cây nhu cầu ánh sáng cũng khác nhau.
Có rất nhiều công trình nghiên cứu về mối liên quan giữa quang hợp với cường độ,
thành phần quang phổ của ánh ánh sáng. Các nhà khoa học đã xác định đư

+
hơn là với NO
3
-
. Đối với cây lúa (Oryza sativa L.) khi tăng cường độ ánh
sáng, thấy sự hấp thụ NH
4
+
, SO
4
2-
tăng mạnh, trong khi đó sự hấp thụ Ca, Mg ít thay đổi.
Đã có nhiều nghiên cứu về ảnh hưởng của mức độ chiếu sáng đến sự hấp thụ K
+
, NH
4
+
,
NO
3
-
, PO
4
3-
, SO
4
2-
các anion halogen và các nguyên tố vi lượng Co, Cs, …ở nhiều giống cây
trồng khác. [33]
Nói chung, sự tác động của ánh sáng cũng có ảnh hưởng đến quá trình quang hợp,

(Thaman).
Ngoài tên địa phương đang được các nước sử dụng thì hoàng lan còn có nhiều tên gọi
theo tên khoa học nhưng không được sử dụng rộng rãi:
- Canangium fruticosum Craib
- Canangium odoratum (Lam.) Baill. ex King
- Canangium scortechinii King
- Uvaria odorata Lam. [36]
1.4.1. Trên thế giới
Trong quyển “Species Profiles for Pacific Island Agroforestry”, Harley I. Manner
and Craig R. Elevitch miêu tả về đặc điểm hình thái, phân bố của cây hoàng lan và công
dụng của cây hoàng lan. Về sinh trưởng thì cây sinh trưởng nhanh khi gặp điều kiện thuận
lợi, có thể đạt 2m chỉ trong 1 năm. Cây thường phân bố ở những vùng đất thấp hoặc những
rừng tái sinh có độ cao 800m – 1200m so với mực nước biển, những vùng này thường có
lượng mưa lớn bình quân 700 – 5000mm/năm và có nhiều ánh sáng. Độ pH thích hợp cho
cây là thường ở mức
trung tính hơi ngã sang acid yếu, không được trồng cây ở những nơi ô
nhiễm mặn với nồng độ muối cao. Cây có thể chịu đựng nhiệt độ thấp nhất 10 – 18
0
C, nhiệt
độ cao nhất là 28 – 35
0
C, nhiệt độ thích hợp trung bình là 18 – 28
0
C sẽ giúp cho cây sinh
trưởng phát triển tốt nhất. Đất trồng cây thường thích hợp nhất với đất cát, sét chứa nhiều
mùn hoặc sét, ngoài ra còn thấy rằng cây thích hợp với đất đỏ bazan có nguồn gốc từ nham
thạch núi lửa, đất cát màu mỡ có nhiều mùn. [36]
Về sản lượng thu hoạch, ở Madagasca, vùng Nosy Bé người ta trồng 500 ha thu được
800 tấn hoa và sau khi chưng cất thu được 20 tấn tinh dầu ylang-ylang. Còn ở quần đảo
Comoros, mỗi 1 ha người ta thu hái 900 – 1500 kg hoa và chưng cất được 18 – 30 kg tinh

hoàng lan trồng rãi rác ở công viên và nhà dân ở ven Hồ Tây, Hà Nội, trong đó thành phần
chính tạo ra mùi thơm của hoàng lan là methyl anthranilat. Tinh dầu hoàng lan có công
dụng trong ngành dược như chế tạo thuốc chữa bệnh về tim mạch, viêm loét, tiêu hóa, điều
trị xoa bóp, dưỡng da chống lão hóa, tăng khả năng kích dục. [26] [27]
Nhóm
tác giả Phan Minh Giang, Nguyễn Diệu Hương, Phan Tống Sơn (2001) cũng
đã phân tích thành phần hóa học của tinh dầu hoà
ng lan. [9]
Về nghiê
n cứu sự nảy mầm của hạt hoàng lan có công trình của Trương Mai Hồng
và cộng sự (2004) đã nghiên cứu sự phát triển và già chín của hạt hoàng lan (Cananga
odorata (Lam) Hook. F. et Thoms)” từ một cây hoàng lan 10 tuổi, cao 17m, đường kính
thân (D1,3) 8,8cm được trồng ở trường Đại học Nông Lâm TP.HCM và thu được một số kết
quả như sau:
- Ước lượng một cây hoàng lan cho hơn 30.
000 hạt
- Số hạt/quả khoảng 6 – 12 hạt
- Xác định thời điểm chín thu hoạch là 98 ngày sau hoa nở.
- Hạt hoàng lan là một loại hạt tỏ ra khó nảy mầm, hạt có miên trạng đáng kể. Nghiên
cứu sự nẩy mầm của hạt hoàng lan trên giấy thấm hút ẩm cho thấy: khi thu hoạch hạt từ
những quả già chín (84 ngày sau hoa nở) gieo ngay trên giấy thấm thì chỉ có 1% hạt nẩy
mầm; thu hạt từ quả chín nâu đen 98 ngày sau hoa nở (ẩm độ hạt 25%) gieo nga
y trên giấy
thấm thì hạt hoàng lan có tỉ lệ nảy mầm chỉ đạt 17%, còn khi rút độ ẩm hạt xuống. Khi rút
khô độ ẩm hạt còn 10%, 7,4% và 4,7% thì tỉ lệ nảy mầm của hạt tăng tương ứng là 26%,
31% và 51%. Khi phơi nắng hạt trong 3 ngày thì hạt có tỉ lệ nẩy mầm 27%. Kết quả nghiên
cứu sự nẩy mầm của hạt với các độ ẩm khác nhau cho thấy hạt hoàng lan không có bản chất
tồn trữ phản tính (ưa ẩm) mà có thể có bản chất tồn trữ chính thống (ưa khô) [8]. Nguyễn
Thị Minh Nguyệt (2002) về “Khảo sát quá trình phát triển và già chín của hạt trên 4 loài
cây: móng bò tím (Bauhinia purpurea), lim xẹt (Peltophorum pterocarpum (DC) K.

Nên dùng nước ấm hoặc nóng. Tinh dầu được đưa vào cơ thể qua hai con đường chính là:
qua hô hấp và qua da. Qua hô hấp, dùng đèn xông hương tạo ẩm: n
hỏ 3 – 4 giọt tinh dầu
nguyên chất vào đèn xông hương tạo ẩm, tinh dầu khuếch tán vào không khí cùng với hơi
nước. Phương pháp xông hơi: nhỏ 3 – 4 giọt tinh dầu vào 1/4 lít nước sôi, dùng hơi nóng để
xông mặt và hít thở đều 10 – 15 phút. Tác dụng se lỗ chân lông, giảm độ nhờn và kích thích
tuần hoàn máu (dùng trong các phòng xông hơi, sauna, …). Qua da, trộn 1 – 2 giọt tinh dầu
và dầu massage (dầu thực vật) hoặc pha với các loại tinh dầu khác, thoa nhẹ toàn thân,
chống mệt mỏi, giảm căng thẳng. Dùng để tắm bằng cách pha vào bồn nước ấm từ 15 – 30
giọt tinh dầu, ngâm mình trong nước khoảng 15 – 30 phút để thư giãn hoàn toàn và có một
làn da mịn màng. Có thể sử dụng như một loại dầu xả hoàn hảo: cho từ 1 – 2 giọt vào nước
ấm, thoa đều lên tóc sau khi gội đầu. [47]
Nhìn chung, ở Việt Nam chưa có công trình nào nghiên cứu hay đề cập đến sự ảnh
hưởng của hỗn hợp phân bón N, P
, K 3 yếu tố lên cây hoàng lan trong giai đoạn vườn ươm. Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là cây hoàng lan (còn gọi là ngọc lan tây,
cây công chúa, ylang-ylang, …) (Cananga odorata (Lamk.) Hook. f. & Thomson)
thuộc họ Na (Annonaceae).
- Vị trí của cây hoàng lan trong hệ thống phân loại:
+ Giới: Plantae
+ Ngành: Magnoliophyta
+ Lớp: Magnoliopsida
+ Bộ: Magnoliales
+ Họ: Annonaceae

trứng ngược hới dài, kích cỡ 15 – 25mm x 8 – 10mm, nhẵn không có lông, vỏ quả
dày khoảng 2m
m, khi chín vỏ màu xám tro nhạt dần chuyển sang nâu đen, thịt vỏ
màu vàng nhạt, mỗi quả chứa 3 – 12 hạt. Hạt dẹp, lúc non nhỏ mềm, màu trắng đến
khi chín hạt cứng, màu nâu, dài khoảng 0,5 – 0,7cm.
- Đặc điểm sinh thái: Cây ưa sáng mọc nhanh, thích đất thoát nước, thường
được trồng quanh nhà, trong công viên, không thấy mọc tự nhiên.
- Đặc điểm phân bố: Cây có nguồn gốc Đông Nam Á đã được nhập trồng ở
Ấn Độ, Trung Quốc, Comoros, một số nước châu Phi và châu Mỹ. [6] [9]

- Giá trị: Gỗ nhẹ, màu vàng nhạt, thớ mịn dùng tiện khắc, làm văn phòng
phẩm, dễ gia công, chế biến nhưng kém chịu đựng, dễ nứt nẻ, mối mọt, chủ yếu làm
củi. Hoa rất thơm cho tinh dầu có giá trị kinh tế cao (ylang – ylang oil). Tinh dầu
hoàng lan được dùng rộng rãi trong công nghiệp sản xuất nước hoa theo phong cách
phương Đông, là thành phần chính để sản xuất nước hoa Chanel N
0
5. Mùi hoàng
lan pha trộn khá tốt với mùi cây cỏ, hoa quả và gỗ. Tinh dầu hoàng lan tạo cho cơ
thể một cảm giác thoải mái, tâm trí thanh thản và được coi như một loại thuốc tốt
làm dịu đi sự mệt mỏi của cơ thể. Tinh dầu hoàng lan còn giúp điều tiết các chất bã
nhờn đối với các vấn đề về da, làm giảm huyết áp cao, làm giảm sự căng cơ và tác
dụng kích thích hưng phấn tình dục, được dùng chữa chứng nhịp tim nhanh, bệnh
sốt rét, bệnh đường ruột, viêm gan, [6] [17]


2.2.2. Đặc điểm khí hậu vùng nghiên cứu
Các số liệu về nhiệt độ không khí, độ ẩm, lượng bốc hơi, số giờ nắng, lượng
mưa của tỉnh Bến Tre được trình bày ở bảng 2.1.
Bến Tre nằm trong miền khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, nhưng lại
nằm ngoài ảnh hưởng của gi
ó mùa cực đới, nên nhiệt độ cao, ít biến đổi trong năm,
chia thành hai mùa rõ rệt. Mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào tháng
11 dương lịch, mùa khô bắt đầu từ tháng 12 và kéo dài đến tháng 4 năm sau. Lượng
mưa phân bố không đều, tập trung chủ yếu vào các tháng mùa mưa, vào các tháng

mùa khô thì lượng mưa rất thấp và hầu như không mưa. Lượng mưa thấp nhất là
vào tháng 01, 02 năm 2009, chỉ rải rác vài nơi và không đáng kể. Lượng mưa cao
nhất trong các tháng tiến hành thí nghiệm là tháng 11 năm 2008 đạt 286,6
mm/tháng. Lượng mưa thay đổi sẽ dẫn đến những nhân tố môi trường còn lại như
nhiệt độ, độ ẩm,…cũng thay đổi theo.
Bảng 2.1: Nhiệt độ không khí, độ ẩm không khí, lượng mưa, lượng bốc hơi, số
giờ nắng
ở Bến Tre
Nhiệt độ (
0
C)
Tháng
Trung
bình
Thấp
nhất
Cao
nhất
Độ ẩm
trung

C. Tháng ít nóng nhất là 12 và tháng 01, trung bình khoảng 24 –
25
0
C. Chênh lệch giữa tháng ít nóng nhất và tháng nóng nhất là khoảng 4
0
C. Nhiệt độ trung bình nhỏ nhất của các tháng tiến hành thí nghiệm là 23,3
0
C, nhiệt độ trung
bình cao nhất qua các tháng tiến hành nghiên cứu là 32,5
0
C. Nhiệt độ tối thấp tuyệt
đối trong các tháng tiến hành thí nghiệm là 19,6
0
C xảy ra vào tháng 01, nhiệt độ tối
cao tuyệt đối trong các tháng tiến hành nghiên cứu là 34,2
0
C, có khi lên đến 36
0
C
xảy ra vào tháng 4. Biên độ dao động nhiệt ngày đêm giữa các tháng mùa mưa
khoảng 8
0
C và mùa khô lên đến 12
0
C.
Về độ ẩm không khí và lượng nước bốc hơi, độ ẩm không khí tương đối cao,
nhất là khoảng tháng 8 – 10/2008 (từ 86% đến 89%) do các tháng này lượng bốc

là 9 – 13 cm. Sau đó bóc vỏ quả và thu lấy những hạt chắc, đem phơi ngoài nắng 3
ngày. Hình 2.3: Các cây hoàng lan trồng ở huyện Giồng Trôm
được thu hái quả
. 2.3.2. Phương pháp nghiên cứu sự sinh trưởng của cây với các chế độ bón
phân khác nhau
2.3.2.1. Bố trí thí nghiệm

(meq/100g)
5,8 – 6,5 14,45 0,90 0,30 0,73 24,91 44,69

Chuẩn bị túi bầu nilông có kích thước 15x30 cm, cũng tiến hành đục lỗ như
chuẩn bị túi gieo ươm, cho vào túi bầu đất lấy ở tại địa phương rồi trộn phân N, P,
K vào theo tỉ lệ của các nghiệm thức khác nhau sao cho đất trộn, đất tribat (túi bầu
cũ) và phân là 1000g. Sau đó chuyển cây con cùng với đất tribat sang túi bầu có đất
đã trộn phân. Đất trước khi trộn phân là đất lấy ở vùng bờ kênh – ruộng tại xã Mỹ
Chá
nh, huyện Ba Tri và đem phân tích tại phòng thí nghiệm Hóa – Lý và Sinh học
đất – bộ môn Khoa học đất và quản lý đất đai – khoa Nông nghiệp và sinh học ứng
dụng – trường đại học Cần Thơ về một số chỉ tiêu: pH, lượng chất hữu cơ (mùn), N
tổng số, P tổng số, K tổng số, NH
4
+
, NO
3
-
, P dễ tiêu, K dễ tiêu. Kết quả phân tích
mẫu đất cho vào túi bầu để ươm cây hoàng lan được trình bày ở bảng 2.3.
Bảng 2.3: Thành phần hóa học của đất vùng bờ kênh – ruộng
pH
H2O

(1:2,5)
Mùn
(%C)
Nts
(%N)
Pts

trọng lượng túi bầu có đất và phân, 10g ure/1000g túi bầu, 15g ure /1000g túi bầu).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status