nghiên cứu sự sinh trưởng và khả năng ra hoa của cây hoàng lan (cananga odorata (lamk.) hook.f.& thomson) trồng ở huyện giồng trôm, tỉnh bến tre - Pdf 10

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH Trần Công Danh

NGHIÊN CỨU SỰ SINH TRƯỞNG VÀ KHẢ NĂNG RA HOA
CỦA CÂY HOÀNG LAN (CANANGA ODORATA (LAMK.)
HOOK.F.& THOMSON) TRỒNG Ở HUYỆN GIỒNG TRÔM,
TỈNH BẾN TRE

Chuyên ngành : Sinh Thái Học
Mã số : 60 42 60

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. PHẠM VĂN NGỌT
Thành phố Hồ Chí Minh - 2009
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất của mình để gửi đến
TS Phạm Văn Ngọt- một người Thầy đáng kính, đã hết lòng chỉ bảo, hướng dẫn và
truyền đạt những kiến thức về chuyên môn hết sức quý báu, những kinh nghiệm
trong nghiên cứu khoa học. Thầy đã luôn động viên, chia sẻ những khó khăn, luôn
bên cạnh giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận
văn này.
Xin chân thành cảm ơn :
• Quý Thầy Cô đã giảng dạy trong suốt 3 năm học, những người đã
truyền đạt kiến thức và luôn giúp đỡ tôi về chuyên môn cũng như
những tài liệu tham khảo
• Ban Chủ Nhiệm Khoa Sinh học trường Đại học Sư Phạm Thành phố
Hồ Chí Minh đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập,
nghiên cứu để hoàn thành luận văn này
• Quý Thầy Cô Phòng Khoa Học Công Nghệ - Sau Đại Học đã giúp đỡ
tôi về mọi mặt trong suốt quá trình học tập
• Quý Thầy Cô phòng thực hành phân tích Hóa – Lý đã tạo điều kiện
thuân lợi cho tôi trong quá trình nghiên cứu và học tập.
• Gia đình anh Phạm Nguyễn, ấp Phú Trị, xã Châu Hoà, huyện Giồng
Trôm, tỉnh Bến Tre đã giúp đỡ nhiệt tình và tạo điều kiện thuận lợi để
tôi thực hiện luận văn.
• Thầy Quách Văn Toàn Em, cùng các em sinh viên Trần Thụy Kim Hà,
Bùi Thanh Phong, Nguyễn Thị Như Ý đã giúp đỡ tôi trong quá trình
thu thập, ghi nhận các số liệu thực tiễn
• Gia đình, bạn bè đã động viên, giúp đỡ cho tôi trong quá trình học tập
và nghiên cứu để luận văn được hoàn thành
TRẦN CÔNG DANH


lẫn chính trị : giúp xoá đói giảm nghèo, nâng cao đời sống kinh tế-văn hoá, cải tạo
và phục hồi hệ sinh thái bảo vệ môi trường sống…. thông qua việc sử dụng lao
động nhàn rỗi, tận dụng nguồn đất trống đồi trọc ở một số vùng nhất là nông thôn
và đồi núi.
Nước ta có khoảng 657 loài thực vật có chứa tinh dầu, thuộc 357 chi và 114 họ
(chiếm 6,3% tổng số loài, 15,8% tổng số chi và 37% tổng số họ) [14]. Tuy nhiên
mới chỉ khai thác trong tự nhiên hoặc đưa vào gây trồng khoảng 20 loài (chiếm 3%
số cây tinh dầu đã biết). Những cây được trồng và khai thác chủ yếu hiện nay là sả
(Cymbopogon sp.), bạc hà ( Mentha arvensis), hương nhu (Ocimum gratissimum),
húng quế ( Osimum basilicum), hồi ( Illicium verum), quế (Cinnamomum cassia),
màng tang (Litsea cubeba), tràm (Melaleuca cajuputi ), … [15]. Việc tìm kiếm
những cây tinh dầu có giá trị kinh tế cao đưa vào sản xuất nhằm đa dạng hoá tinh
dầu xuất khẩu, xây dựng một vùng nguyên liệu và chế biến tinh dầu – hương liệu có
ý nghĩa chiến lược về kinh tế, chính trị và xã hội . Bên cạnh đó cần có những
nghiên cứu chuyên sâu về các điều kiện sinh thái, môi trường sống, giống, kỹ thuật
trồng và chăm sóc để nâng cao sản lượng tinh dầu.
Hoàng lan (Cananga odorata (Lamk.) Hook.f.& Thomson) còn gọi là ngọc lan
tây, ylang-ylang thuộc họ Na (Annonaceae) đã được trồng tập trung quy mô sản
xuất hàng hóa ở nhiều nước như Philippines, quần đảo Camoros, Réunion,
Indonesia, tỉnh Quảng Đông - Trung Quốc, đảo Madagascar Indonesia là nước
trồng nhiều hoàng lan, diện tích lên đến 160.000 ha với sản lượng tinh dầu hàng
năm khoảng 120 tấn. Hoàng lan là loài cây ưa sáng , thích hợp vùng nhiệt đới . Hoa
hoàng lan chứa tinh dầu (ylang -ylang oil) có mùi thơm hấp dẫn, được ưa chuộng
trong công nghiệp hương liệu và tinh dầu này từ lâu đã được điều chế nước hoa nổi
tiếng Chanel N
o
5 và là nguyên liệu chính để sản xuất ra hầu hết các loại nước hoa

• Về sinh trưởng: nghiên cứu các chỉ tiêu sinh trưởng về chiều cao, đường kính
thân cây, cành sơ cấp, sự tỉa cành, đường kính tán và sinh khối .
• Về khả năng ra hoa: nghiên cứu q trình ra hoa và sự phát triển của hoa
hồng lan.
• Bước đầu tìm hiểu về hàm lượng tinh dầu và năng suất hoa hồng lan.
4- Phạm vi nghiên cứu
Do điều kiện hạn hẹp về thời gian đề tài chỉ nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh
trưởng và khả năng ra hoa của cây hồng lan trong giai đoạn 2 năm sau khi trồng .
5- Ý nghĩa của đề tài
5.1- Ý nghĩa khoa học
Đề tài cung cấp những dẫn liệu về sinh trưởng và khả năng ra hoa của hồng
lan làm cơ sở cho những nghiên cứu tiếp theo về khả năng thích ứng, về năng suất
của cây hồng lan trồng ở huyện giồng Trơm, tỉnh Bến Tre.
5.2- Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học cho việc đẩy mạnh trồng đại trà cây
hoàng lan, góp phần thay đổi cơ cấu cây trồng, tăng thu nhập, nâng cao đời sống
cho người dân ở huyện Giồng Trơm, tỉnh Bến Tre. Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1-Nghiên cứu ảnh hưởng của một số nhân tố sinh thái đến sinh trưởng của
thực vật
1.1.1- Ảnh hưởng của ánh sáng
Ánh sáng là nhân tố quan trọng đối với sự sinh trưởng và phát triển của thực
vật. Những cây được chiếu sáng đều thì mọc thẳng, chiếu sáng không đều thì mọc
lệch về hướng có ánh sáng. Nguyên nhân do phía chiếu sáng sẽ tích điện dương,
phía còn lại tích điện âm và các chất di chuyển đến nơi tích điện tích âm làm cho
nơi đó sinh trưởng mạnh hơn dẫn đến cây bị uốn cong. Những cây mọc trong tối
thường dài, thân mảnh và có màu nhạt do trong tối protein được tổng hợp ít còn
glucid được tổng hợp nhiều. Mặt khác, chu kỳ phân chia của tế bào giảm trong khi

2
chỉ là 0,6 - 1,0 mg CO
2
, trong khi đó lá ở ngoài sáng tăng lên
nhiều: 0,9 - 2,0mg CO
2
.
1.1.2 Ảnh hưởng của thực vật khác lên sự sinh trưởng của cây
Các loài thực vật trong điều kiện được trồng chung với nhau sẽ có tác động
qua lại với nhau. Rễ sẽ cạnh tranh về nguồn chất dinh dưỡng và nước dẫn đến hiện
tượng loài này sẽ bóp nghẹt rễ của loài kia làm loài kia sinh trưởng chậm .
Tán lá các loài cũng sẽ cạnh tranh về điều ki ện ánh sáng, loài nào sinh trưởng
mạnh thì loài đó sẽ chiếm ưu thế về nhu cầu ánh sáng.[10]
1.1.3. Hiện tượng ưu thế ngọn
Ưu thế ngọn là hiện tượng phổ biến đối với thực vật. Đó là sự ức chế của chồi
ngọn lên sự sinh trưởng của chồi bên, rễ chính lên rễ phụ. Nếu cắt bỏ chồi ngọn tức
là loại bỏ ưu thế ngọn thì các chồi bên được giải phóng khỏi trạng thái ức chế tương
quan của chồi ngọn và lập tức sinh trưởng mạnh. Có nhiều trường hợp cần loại bỏ
ưu thế ngọn để tăng phân cành, phân nhánh như với cây ăn quả, cây cảnh, cây công
nghiệp.Nguyên nhân là do sự cạnh tranh dinh dưỡng của chồi ngọn lên chồi bên: mô phân sinh chồi ngọn là trung tâm lôi cuốn dòng chất dinh dưỡng ưu tiên nên
chồi bên nghèo dinh dưỡng, không sinh trưởng được.
Auxin có vai trò quan trọng trong hiện tượng ưu thế ngọn. Tuy nhiên các
phytohoocmon khác cũng có vai trò qu an trọng trong điều chỉnh hiện tượng này,
đặc biệt là xytokinin. Xytokinin được rễ cây tổng hợp rồi vận chuyển lên ngọn làm
yếu ưu thế ngọn. Tỉ lệ auxin/xytokinin càng cao thì ưu thế ngọn càng mạnh mẽ, còn
tỉ càng thấp thì sự phân cành càng chiếm ưu thế. [24]
1.2

Hình 1.1- Hoàng lan l được trồng xen
trong chuối, dừa ở Samoan
Hình 1.2. Hoàng lan được trồng ở
Madagascar
Trong tài liệu “Species Profiles for Pacific Island Agroforestry”, Harley I.
Manner and Craig R. Elevitch (2006) đã mô tả về đặc điểm hình thái, phấn bố của
hoàng lan và công dụng của hoàng lan. Về sinh trưởng thì cây sinh trưởng nhanh
khi gặp điều kiện thuận lợi, có thể đạt 2m chỉ trong 1năm. Cây thường phân bố ở
những vùng đất thấp hoặc những rừng tái sinh có độ cao 800 – 1200m so với mực
nước biển, những vùng này thường là những vùng có lượng mưa lớn bình quân 700
– 5000mm/năm và có nhiều ánh sáng. Độ pH thích hợp cho cây là thường trung tính
Trồng hoàng lan ở Madagascar hơi ngã sang acid yếu, không được trồng cây những nơi nhiễm mặn với nồng độ
muối cao. Đây là loài cây được dùng để phục hồi rừng, để phủ xanh các vùng đất
trống ở Guam. Cây có thể chịu đựng được nhiệt độ thấp nhất từ 10 – 18
0
C, nhiệt độ
cao nhất là 28 – 35
0
C, nhiệt độ thích hợp trung bình là 18 – 28
0
C sẽ giúp cho cây
sinh trưởng phát triển tốt nhất. Đất trồng cây thường thích hợp nhất với đất cát, sét
chứa nhiều mùn hoặc đất sét, ngoài ra còn thấy rằng cây thích hợp với đất đỏ bazan
có nguồn gốc từ nham thạch núi lửa, đất cát màu mỡ có nhiều mùn. Cây 1,5 – 2

xanh

Hoa
xanh
Hoa nửa xanh,
nửa vàng

Hoa
vàng

1 p-cresyl methyl ether - 1,70 3,40 -
2 Linalool - - - 0,03
3 Methyl benzoate 0,01 0,22 1,19 -
4 Benzyl acetate - - 0,05 -
5 Methyl chavicol - 0,01 0,05 -
6 Geraniol 0,21 1,20 2,45 0,52
7 α-copaene - 0,04 0,06 0,04
8 Geranyl acetate 2,37 4,69 7,28 2,58
9 β-elemene 0,32 0,22 0,23 0,70
10 β-caryophyllen 47,95 37,06 26,46 31,33
11 α-humulene 11,68 9,28 6,64 8,35
12 γ-muurolene 13,96 13,94 20,94 13,28
13 α-farnesene 9,86 10,68 8,09 9,21
14 γ-cadinene 0,26 0,23 0,34 0,40
15 β-cadinene 2,70 2,05 2,26 1,90
16 δ-cadinene - - - 0,04
17 δ-cadinol 0,77 0,84 0,90 0,68
18 Farnesol 2,34 3,99 4,52 6,23
19 Benzyl benzoate 3,56 5,07 9,26 13,33
20 Farnesyl acetate 0,36 0,58 0,79 2,48

loài tại châu Á và châu Đại Dương. Tất cả các giống trồng khai thác hoa lấy tinh
dầu hoặc trồng làm cảnh thuộc loài Cananga odorata được xếp vào 2 nhóm:
 Nhóm Cananga (Cananga odorata forma macrophylla Steenis) có các cành
mọc ngang gần như vuông góc với thân cây, lá có kích thước lớn (10 x 20 cm). Các
giống thuộc nhóm này được trồng tại đảo Java, đảo Fiji và Samoa. Tinh dầu từ hoa
có chất lượng thấp và được gọi là “cananga oil”.
 Nhóm Ylang Ylang (Cananga odorata forma genuina Steenis) có các cành
rủ xuống, lá nhỏ, có nguồn gốc từ Philippines. Hiện chúng được trồng rộng rãi tại
khắp các khu vực thuộc vùng nhiệt đới. Tinh dầu từ hoa (ylang ylang oil) có chất
lượng cao. [17][18]
Các tác giả cũng cho biết ở khu vực thấp, hoàng lan bắt đầu ra hoa 2 năm
tuổi, khi đó cây cao độ 2m. Nhưng khi trồng trên các khu vực đồi núi có độ cao
khoảng 500 m so với mặt biển thì phải sau 7 năm tuổi cây mới bắt đầu ra hoa. Ở nước ta, cây ra hoa tháng 5 – 7, có quả tháng 8 – 10. Ở điều kiện khí hậu nhiệt đới
cũng như trong trồng trọt, cây có thể ra hoa, kết quả hầu như quanh năm.[17][18]
- Công trình của Trương Mai Hồng và cộng sự vào năm 2002 đã nghiên cứu
sự phát triển và già chín của hạt hoàng lan (Cananga odorata (Lam) Hook. F. et
Thoms)” từ một cây hoàng lan 10 tuổi, cao 17m, đường kính thân (D
1,3
) 8,8cm được
trồng ở trường Đại học Nông Lâm TP.HCM và thu được một số kết quả như sau:
+ Ước lượng một cây hoàng lan cho hơn 30.000 hạt
+ Số hạt/quả khoảng 6 – 12 hạt
+ Xác định thời điểm chín thu hoạch là 98 ngày sau hoa nở.
- Phạm Phương Bình (2007) đã nghiên cứu về ảnh hưởng của phân bón lên
sự nảy mầm của Hoàng lan và theo dõi sự sinh trưởng của chúng trong giai đoạn
vườn ươm. Tác giả đã xác định:
+Tỉ lệ hạt nẩy mầm trung bình là 93,17%

phân bố địa lý khác nhau và cả kỹ thuật chưng cất tách chiết tinh dầu…Về công
dụng của tinh dầu hoa hoàng lan, ông cho biết tinh dầu hoàng lan được ưa chuộng
trong công nghiệp hương liệu, công nghiệp chế biến thực phẩm, và cũng được dùng
làm thuốc chữa bệnh về tim mạch, viêm loét, tiêu hoá, điều trị trong xoa bóp, dưỡng
da chống lão hoá, tăng khả năng kích dục. [13][14]
- Thành phần tinh dầu hoa hoàng lan (trồng rải rác ở công viên và nhà dân ở ven
Hồ Tây, Hà Nội) ở 2 giai đoạn hoa xanh và hoa vàng như ở bảng 1.2.

Bảng 1.2. Hàm lượng các chất (%) trong tinh dầu
ở hai giai đoạn phát triển của hoa hoàng lan
STT Hợp chất
Hàm lượng (%) trong tinh dầu ở
hai giai đoạn phát triển của hoa
Hoa xanh Hoa vàng
1 Linalool 29.6 28.1
2 Benzyl acetate 5.0 7.1
3 Geraniol 0.4 0.4
4 Geranyl acetate 1.3 1.1
5 cis-caryophyllen 10.2 13.1
6 α-humulene 3.1 3.7
7 Germacren 13.3 17.6
8 α-farnesene 6.8 10.8
9 Benzyl benzoate 10.7 3.7
Các kết quả trong bảng trên đã cho thấy các thành phần hoá học chính trong


Chương 2. ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1- Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là cây hoàng lan
2.1.1- Về tên gọi
+ Ở mỗi địa phương, cây hoàng lan có những
tên gọi khác nhau như:
Cananga odorant (French)
Ilang ilang-ilang ilang, alang alang-ilang (Guam, CNMI)
Moso‘oi (Samoa)
Sa‘o (Solomon Islands: Kwara‘ae)
Ylang ylang, perfume tree, cananga (English)
Apurvachampaka, chettu sampangi, karumugai (India)
Ilang-ilang, alang-ilang (Philippineses)
Kadatngan, kadatnyan (Myanmar)
Kernanga (Indonesia)
Kenanga, chenanga, ylang-ylang (Malaysia) [25]
+ Ở Việt Nam cây hoàng lan cũng được gọi với nhiều tên khác nhau như
ngọc lan ta, công chúa, ngọc lan tây, ylang-ylang. Một số nhà khoa học giải thích
rằng tên gọi ylang-ylang là xuất phát từ tiếng Tagalog đọc từ chữ ilang -ilang có
nghĩa là hoa của các loài hoa, nguyên do là hoa hoàng lan có mùi thơm đặc biệt
gồm mùi của rất nhiều loài hoa khác hợp lại mà thành, nó vừa có mùi của hoa nhài
và tinh dầu cam đắng (Citrus aurantium), vừa có mùi của hoa hồng, vừa có mùi dịu
dàng của hoa thủy tiên và dạ lan hương. [4][34] + Ngoài ra, hoàng lan cũng còn có những tên gọi khác theo khoa học như:
Canangium fruticosum Craib; Canangium odoratum (Lam.) Baill. ex King;
Canangium scortechinii King, Uvaria odorata Lam.Nhưng tên khoa học được sử

+ Quả còn non màu xanh, hình trứng ngược hơi dài, nhẵn không có lông, kích
cỡ 1,5 – 2,5cm x 0,8 – 1,0cm, vỏ quả dày khoảng 2mm, khi chín vỏ màu xám tro
nhạt dần chuyển sang nâu đen, thịt vỏ màu vàng nhạt. Có 7 – 9 quả rời đính trên
cuống ngắn, mỗi quả chứa 3 – 12 hạt. Hạt dẹp, lúc non nhỏ mềm màu trắng đến khi
chín hạt cứng, màu nâu dài khoảng 0,5 – 0,7cm.

Hình 2.1- Cây Hoàng lan trồng trước nhà dân ở huyện Giồng Trôm
0
5. Nhiều tác giả có những nhận xét như sau: hương thơm ngào ngạt, sang
trọng hơi giống hương thơm của hoa thủy tiên và dạ lan hương. [15]
• Về công dụng tinh dầu: có tác dụng khuấy động cảm xúc con người, giúp cân
bằng rối loạn cơ thể, mang đến cảm giác thoải mái, tâm trí thanh thản, bình yên và
được coi như một loại thuốc tốt làm dịu đi sự mệt mỏi của cơ thể, rất tốt cho những
người hay lo âu và căng thẳng. Ngoài ra, tinh dầu hoàng lan còn rất hiệu quả trong
điều trị và chăm sóc da, giúp làm dịu viêm sưng da, điều tiết các chất bã nhờn, làm
giảm huyết áp cao, làm giảm sự căng cơ, được dùng chữa bệnh sốt rét, bệnh đường
ruột, viêm gan…[5] [35]
2.2- Địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.2.1- Địa điểm nghiên cứu

Địa điểm nghiên cứu - xã Châu Hoà, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.
2.2.1.2- Đặc điểm tự nhiên của vùng nghiên cứu
+ Tỉnh Bến Tre- có tọa độ từ 9
o
48’ đến 10
o
20’ vĩ độ Bắc và từ 106
o
48’ đến
105
o
57’ kinh độ Đông; có 7 huyện và 1 thị xã, là một trong những tỉnh thuộc khu
vực đồng bằng sông Cửu Long, được hình thành bởi ba cù lao: An Hòa, Bảo và
Minh, do phù sa của 4 nhánh sông Cửu Long (sông Tiền, sông Ba Lai, sông Hàm
+ Bến Tre có địa hình tương đối bằng phẳng rải rác có xu thế thấp dần từ Tây
sang Đông, nghiêng dần ra biển, có nhiều giồng cát hình vòng cung quay lưng ra
biển là kết quả của quá trình lấn biển. Sự chênh lệch tuyệt đối giữa vùng đất cao
nhất và thấp nhất không quá 3,5m. Những giồng cát xen kẽ với ruộng vườn, không
có rừng cây lớn, chỉ có những dải rừng ngập mặn ven biển và ở các cửa sông. Bốn
bề đều có sông nước bao bọc với một hệ thống đường thuỷ và một hệ thống kênh
rạch chằng chịt đan vào nhau như những mạch máu chảy khắp ba dải cù lao.
+ Độ cao tuyệt đối có nơi đạt trên 5 m, đa số từ 3 đến 3,5 m. Còn một phần
đất cao nằm theo các bờ biển cổ với những gờ bờ biển gọi là giồng với độ cao tuyệt
đối từ 2 đến 5 m. Đa số địa danh cao đều mang thêm từ "Giồng" ở phía trước như
Giồng Trôm, Giồng Tre
Cuối cùng là đất trũng thấp luôn luôn ngập dưới mực triều trung bình, gồm
có đất đầm mặn và bãi thuỷ triều. Loại này không vượt quá 0,5m.[31]
+ Huyện Giồng Trôm
Huyện Giồng Trôm có diện tích tự nhiên 31.142 ha, nằm khoảng giữa cù lao
Bảo. Đất canh tác nông nghiệp đạt xấp xỉ 25.000 ha. Nền đất được cấu tạo từ phù sa
của hai con sông lớn Ba Lai và Hàm Luông, cùng với mạng lưới sông rạch chằng
chịt, Giồng Trôm có thế mạnh của một nền kinh tế nông nghiệp đa dạng.
2.2.1.3- Đặc điểm khí hậu của vùng nghiên cứu
+ Bến Tre nằm trong miền khí hậu nhiệt đới cận xích đạo nhưng lại nằm
ngoài ảnh hưởng của gió mùa cực đới, nên nhiệt độ cao, ít biến đổi trong năm, nhiệt
độ trung bình hàng năm từ 26-27
o
C; không có tháng nào nhiệt độ trung bình dưới
20
o
C. Lượng bức xạ khá dồi dào, trung bình đạt tới 160 kcal/m
2


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status