Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Lời mở đầu
Ngày 21 tháng 5 năm 1956, trờng Đại học kinh tế tài chính Trung ơng
ngày nay là trờng Đại học Kinh tế Quốc dân thuộc Đại học nhân dân Việt
Nam đợc thành lập. Từ cái nôi của Đại học nhân dân, trờng Đại học Kinh tế
Quốc dân đã phát triển nh con chim đầu đàn trong khối các trờng đại học
kinh tế và là trờng trọng điểm trong hệ thống các trờng đại học Việt Nam. Để
có đợc vị thế đó, trờng Đại học Kinh tế Quốc dân cần đến sự nỗ lực tuyệt vời
của đội ngũ cán bộ, giảng viên, nhân viên và sinh viên trong trờng. Trong đó,
chúng ta không thể phủ nhận vai trò đặc biệt quan trọng của đội ngũ giảng
viên những ngời trực tiếp tham gia vào quá trình đào tạo đại học và sau đại
học.
Cũng giống nh bất kỳ một tổ chức nào, trờng Đại học Kinh tế Quốc dân
luôn chú trọng đến tổ chức lao động khoa học nhằm nâng cao hiệu quả sử
dụng lao động. Một trong những nội dung chính của nó là công tác định mức
lao động mà ở trờng đại học là công tác định mức giờ chuẩn cho giảng viên
đại học. Tuy nhiên với đặc trng của một đơn vị hành chính sự nghiệp, mức giờ
chuẩn cho giảng viên không có điều kiện phát huy vai trò vốn có. Tuy nhiên
trớc yêu cầu đổi mới giáo dục đại học mà mốc quan trọng là sự ban hành Nghị
định 10/2002/NĐ-CP của Chính phủ về chế độ tự chủ về tài chính cho các đơn
vị sự nghiệp có thu thì công tác định mức giờ chuẩn cho giảng viên lại là cần
thiết cho việc quản lý đội ngũ giảng viên. Song thực tế là mức giờ chuẩn đã đ-
ợc quy định trong thời kỳ kế hoạch hoá tập trung không còn phù hợp với nền
kinh tế thị trờng hiện nay. Đòi hỏi phải đổi mới công tác định mức giờ chuẩn
cho giảng viên vì thế là một tất yếu. Với mong muốn tìm hiểu thực tế vấn đề
này tại trờng Đại học Kinh tế Quốc dân và mạnh dạn đề xuất một số giải pháp
nhằm cải thiện tình hình trên em đã quyết định chọn đề tài: Thực trạng và
Nguyễn Phúc Thọ QTNL 43A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
một số giải giải pháp cải thiện công tác định mức giờ chuẩn tại trờng Đại
học Kinh tế Quốc dân.
Nguyễn Phúc Thọ
Nguyễn Phúc Thọ QTNL 43A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nội dung
Chơng I Cơ sở lý luận nghiên cứu
một số vấn đề về định mức giờ chuẩn cho giảng
viên trờng Đại học Kinh tế Quốc dân
I. Tổng quan nghiên cứu về giảng viên đại học
1. Khái niệm và đặc điểm của giảng viên và đội ngũ giảng viên
Điều 2 của luật giáo dục có ghi: Mục tiêu của giáo dục đại học và sau đại
học là đào tạo ngời học có phẩm chất chính trị, đạo đức, có ý thức phục vụ
nhân dân, có kiến thức nghề nghiệp tơng xứng với trình độ đào tạo, có sức
khoẻ đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Với mỗi cấp đào tạo khác
nhau thì luật giáo dục cũng qui định mục tiêu đào tạo khác nhau. Đào tạo
trình độ đại học giúp sinh viên nắm vững chuyên môn và kỹ năng thực hành
về một ngành nghề, có khả năng phát hiện và giải quyết những vấn đề thông
thờng thuộc chuyên ngành đào tạo. Đào tạo Thạc sĩ giúp học viên nắm vững lý
thuyết, có trình độ cao về thực hành, có khả năng phát hiện và giải quyết
những vấn đề thuộc chuyên ngành đào tạo. Còn về đào tạo Tiến sĩ giúp nghiên
cứu sinh có trình độ cao về lý thuyết và thực hành, có khả năng nghiên cứu
độc lập, sáng tạo, giải quyết những vấn đề khoa học công nghệ và hớng dẫn
hoạt động chuyên môn.
Tham gia trực tiếp vào quá trình đào tạo ấy là giảng viên, sinh viên , học
viên. Trong đó giảng viên là ngời truyền đạt và hớng dẫn, sinh viên là ngời
tiếp thu và chủ động rèn luyện để đạt đợc mục tiêu trên. Những mục tiêu đặt
ra không phải là thấp đó đòi hỏi ngời truyền đạt phải là ngời có đủ năng lực,
trình độ đáp ứng yêu cầu của công tác giảng dạy.
Trong tài liệu Trí thức giáo dục đại học Việt Nam trong thời kỳ đẩy
mạnh CNH/HĐH, của tác giả Nguyễn Văn Sơn, ông có hớng tiếp cận từ khái
Nguyễn Phúc Thọ QTNL 43A
Nguyễn Phúc Thọ QTNL 43A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
2.Vai trò nhiệm vụ của giảng viên đại học
2.1 Vai trò của giảng viên đại học
Đứng ở góc độ trờng đại học, giảng viên là bộ phận quan trọng của đội
ngũ cán bộ, giảng viên, nhân viên. Giảng viên là lực lợng trực tiếp tham gia
vào quá trình đào tạo. Chất lợng giảng dạy của giảng viên là một trong những
nhân tố quyết định đến chất lợng của sinh viên ra trờng.
ở tầm vĩ mô, vai trò của giảng viên trong các trờng đại học đợc thể hiện
nh sau:
- Giảng viên giáo dục đại học tham gia đào tạo nguồn lực con ngời, tạo
ra lực lợng lao động mới, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về chất lợng của
nguồn nhân lực. Trong lịch sử phát triển đi lên của xã hội, nguồn lực con ngời
luôn đóng vai trò quyết định. Nguồn nhân lực có chất lợng cao chắc chắn sẽ
xây dựng một xã hội phát triển.
- Vai trò của giảng viên đại học còn đợc thể hiện ở sự góp phần nâng
cao dân trí, tạo đỉnh cao trí tuệ, phát triển nhân tài cho đất nớc, tạo ra lớp
những trí thức tài năng thông qua việc truyền đạt những kiến thức tiên tiến
của văn minh nhân loại. Và rồi những trí thức này sẽ góp phần xây dựng đất n-
ớc, nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia trong quá trình hội nhập phát
triển.
- Giảng viên giáo dục đại học có vai trò nâng cao tiềm lực khoa học
công nghệ quốc gia thông qua hoạt động nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu triển
khai, ứng dụng tri thức giáo dục đại học góp phần nâng cao năng lực làm chủ
công nghệ tiên tiến, sáng tạo công nghệ mới. Đây cũng chính là một nội dung
quan trọng trong nhiệm vụ của giảng viên đại học. Thực tế đã minh chứng cho
đóng góp to lớn của đội ngũ giảng viên trong lĩnh vực này.
- Trong quá trình hội nhập với nền văn hoá các nớc trong khu vực và thế
giới, vai trò của giảng viên đại học là xây dựng, bảo tồn và phát triển văn hoá
Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá
học; hoàn thiện phơng pháp giảng dạy , phơng pháp thực hành, phơng pháp
nghiên cứu, cải tiến chơng trình và nội dung của môn học; biên soạn giáo
trình, tham gia thiết kế và xây dựng các phòng thí nghiệm
Nguyễn Phúc Thọ QTNL 43A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Nghiên cứu và thực nghiệm khoa học kỹ thuật. Hoạt động này phục vụ
cho nhu cầu nâng cao chất lợng đào tạo toàn diện, yêu cầu của sản xuất, đời
sống xã hội và quốc phòng, thực hiện phơng hớng kết hợp tốt giảng dạy học
tập với lao động sản xuất và nghiên cứu.
- Học tập, bồi dỡng về chính trị, nghiệp vụ và chuên môn. Hoạt động
này nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ giảng dạy hoàn chỉnh và đồng bộ để
không ngừng đáp ứng đợc yêu cầu ngày càng cao về chất lợng đào tạo.
- Tham gia quản lý công tác đào tạo của nhà trờng. Việc này đợc thực
hiện thông qua hoạt động các tổ chức chuyên môn (bộ môn, khoa, hội đồng
khoa học ) và các đoàn thể trong nhà tr ờng, bao gồm: xây dựng và kiểm tra
việc thực hiện kế hoạch giảng dạy, học tập và nghiên cứu, đánh giá kết quả
học tập và chất lợng chính trị t tởng của học sinh, kiến nghị về những biện
pháp nhằm nâng cao chất lợng đào tạo. Một số cán bộ giảng dạy đợc phân
công làm các chức vụ quản lý: trởng khoa, phó khoa, chủ nhiệm và chủ nhiệm
bộ môn, phụ trách các cơ sở thí nghiệm và thực hành, trợ lý khoa, chủ nhiệm
lớp
- Thực hiện công tác chung của xã hội theo các chức trách của một cán
bộ Nhà nớc nh: làm nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ lao động, tham gia công tác
bảo vệ trị an ở địa phơng, chống thiên tai dịch bệnh
3. Đặc trng của công tác giảng dạy
Nh trên đã trình bày, ngoài các nhiệm vụ chung của một công chức Nhà
nớc, giảng viên còn có nhiệm vụ thờng xuyên, cơ bản là giảng dạy, NCKH.
Các hoạt động này có các đặc trng riêng, khác với các hoạt động bình thờng
của các công chức chuyên môn khác, đó là:
- Vừa kiểm soát đợc, vừa không thể kiểm soát đợc theo kiểu quản lý
giảng dạy về nghiệp vụ và chuyên môn, nghiên cứu thực nghiệm khoa học,
chủ trì các đề tài cấp Nhà nớc và cấp Bộ quản lý, biên soạn và chủ trì biên
soạn giáo trình, sách giáo khoa chất lợng tốt
Giảng viên chính và giảng viên: Đây là lực lợng chủ yếu trong các trờng
đại học, lực lợng tham gia giảng dạy chính trong nhà trờng. Họ là những cán
Nguyễn Phúc Thọ QTNL 43A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
bộ có kiến thức chuyên môn, kinh nghiệm giảng dạy và truyền đạt kiến thức.
Nhiệm vụ chủ yếu là giảng dạy ở bậc đại học( giảng dạy lý thuyết, phu đạo, h-
ớng dẫn thí nghiệm, thực hành, thực tập sản xuất, làm đồ án môn học, khoá
luận thiết kế, luận văn tốt nghiệp hớng dẫn sinh viên nghiên cứu khoa học),
ngoài ra họ còn tham gia nghiên cứu khoa học, đối với giảng viên lâu năm có
nhiều thành tích trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học thì có thể đợc phân
công nhiệm vụ bồi dỡng sau đại học, chủ trì việc biên soạn giáo trình và sách
giáo khoa.
Đội ngũ trợ lý giảng dạy cũng là lực lợng tơng đối lớn trong nhà trờng,
có nhiệm vụ thực hiện một số khâu trong công tác giảng dạy đại học. Đội ngũ
này thờng là những giảng viên còn trẻ, mới ra trờng, cha có nhiều kinh nghiệm
và đang trong thời kỳ tích luỹ kiến thức mọi mặt cho công tác giảng dạy sau
này. Trong trờng hợp cơ cấu đội ngũ cán bộ giảng dạy trong bộ môn tơng đối
đồng bộ và hoàn chỉnh thì trợ lý giảng dạy tham gia giảng từng phần của môn
học, nhng trên thực tế ở những trờng mới thành lập số lợng trợ lý khá đông, số
lợng giảng viên không đủ so với nhu cầu, nhà trờng sẽ xét khả năng thực tế
của từng ngời mà giao thêm một số nhiệm vụ cụ thể cao hơn mức đề ra trong
quy định, nhng cũng phải trên cơ sở bảo đảm đợc yêu cầu về chất lợng nếu
không thì vẫn phải mời thêm cán bộ ở các cơ sở khác đến giảng dạy.
Cán bộ giảng dạy đang trong thời kỳ tập sự có nhiệm vụ tiếp tục hoàn
chỉnh quá trình đào tạo ở nhà trờng theo hai bớc ghi trong Thông t 01/TT
LB ngày 1/2/1976 của Bộ lao động - Đại học và THCN. Nhiệm vụ chủ yếu
của họ là học tập, bồi dỡng về chính trị, chuyên môn và nghiệp vụ, rèn luyện
Ngoài hai cách phân loại trên ngời ta còn phân giảng viên theo học vị:
cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ. Giảng viên xếp vào các vị trí này sau khi đã trải qua
các khoá học đại học, cao học, nghiên cứu sinh và đạt đợc các chứng chỉ tơng
ứng.
Phân loại giảng viên theo học hàm ta có hai chức danh: giáo s và phó
giáo s. Đây là lực lợng nòng cốt trong đội ngũ cán bộ giảng dạy và giữ vai trò
chủ đạo trong công tác chuyên môn, đảm nhiệm các công việc đòi hỏi có trình
độ chuyên môn nghiệp vụ cao, chủ trì các hoạt động khoa học tiêu biểu. Giảng
Nguyễn Phúc Thọ QTNL 43A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
viên đạt đợc các chức danh này sau khi đã hoàn thành các thủ tục xét duyệt
phong hàm giáo s, phó giáo s với các tiêu chí đã đợc qui định.
II. mức và công tác định mức lao động, định mức giờ
chuẩn cho giảng viên
1. Mức và định mức lao động nói chung
Trớc khi đi vào tìm hiểu về định mức giờ chuẩn cho giảng viên ta tìm
hiểu những nét chung nhất về mức và định mức lao động bởi hoạt động giảng
dạy cũng là một bộ phận của hoạt động lao động nói chung.
Mức lao động là lợng lao động hao phí đợc quy định để hoàn thành một
đơn vị sản phẩm (hoặc một khối lợng công việc) đúng tiêu chuẩn chất lợng,
trong những điều kịên tổ chức kỹ thuật nhất định.
Trong thực tế mức lao động đợc biểu hiện dới các dạng mức thời gian,
mức sản lợng, mức phục vụ và mức biên chế.
Mức thời gian là lợng thời gian hao phí đợc quy định cho một hay một
nhóm ngời lao động có trình độ nghiệp vụ thích hợp để hoàn thành một đơn vị
sản phẩm (hoặc một khối lợng công việc) đúng tiêu chuẩn chất lợng trong
những điều kiện về tổ chức kỹ thuật nhất định.
Đơn vị đo mức thời gian là giây, phút, giờ trên một đơn vị sản phẩm. Ng-
ời lao động làm quá lợng thời gian đã quy định này là không hoàn thành mức
lao động.
xét duyệt, ban hành áp dụng, quản lý thực hiện và sửa đổi các mức lao động
trên cơ sở dự tính và áp dụng vào sản xuất những biện pháp có năng suất cao.
Định mức lao động là một môn khoa học kinh tế có tầm quan trọng hàng
đầu trong việc quản lý lao động, đồng thời là một công tác khá phức tạp đòi
hỏi ngời cán bộ định mức phải có nghiệp vụ vững. Mặt khác công tác định
mức lao động có quan hệ trực tiếp đến quyền lợi của ngời lao động nhất là lực
lợng lao động trực tiếp.
2. Mức giờ chuẩn và định mức giờ chuẩn cho giảng viên đại học
2.1 Các khái niệm
Để làm cơ sở cho nghiên cứu giờ chuẩn và định mức giờ chuẩn cho
giảng viên Đại học Kinh tế Quốc dân thì việc làm rõ các khái niệm này là cần
Nguyễn Phúc Thọ QTNL 43A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
thiết. Tuy nhiên, những khái niệm này vẫn cha đợc đề cập nhiều. Vì vậy,
những khái niệm đợc trình bày dới đây có thể cha phải là phổ biến song cũng
đã chỉ ra đợc bản chất của vấn đề.
Giờ chuẩn: giờ chuẩn là đơn vị tính nhiệm vụ theo chế độ công tác của
giảng viên đợc quy đổi thành đơn vị thống nhất. Đơn vị này chính là một tiết
giảng ở trên lớp - 45 phút.
Khái niệm này đã chỉ ra nội dung cơ bản:
+Là đơn vị đã đợc qui đổi (cách thức quy đổi sẽ đợc đề cập sau).
+Là một tiết giảng ở trên lớp 45 phút, khác với một giờ công tác
thông thờng 60 phút.
Mức giờ chuẩn cho giảng viên (hay còn gọi là giờ định mức) là giờ
chuẩn mà giảng viên phải có nghĩa vụ hoàn thành trong năm học.
Đơn vị đo là: Giờ/ năm
Khái niệm này gần gũi với khái niệm về mức lao động mức thời
gian, mức sản lợng. Do sản phẩm của hoạt động đào tạo khó định lợng cụ thể
nên ngời ta dùng đơn vị một năm học cũng tơng đơng với một khối lợng công
việc giảng dạy đợc hoàn thành- ta có mức thời gian. Hoặc cũng có thể hiểu
góp, cống hiến theo đúng khả năng của mình. Đây là ý nghĩa quan trọng nhất,
thể hiện đợc nguyên tắc của công tác định mức giờ chuẩn cho giảng viên. Một
quy định mức cụ thể, hợp lý cho từng chức danh, quản lý tốt sự thực hiện mức
sẽ đảm bảo đợc ý nghĩa này.
- Định mức giờ chuẩn cho giảng viên là cơ sở để lập kế hoạch tuyển
dụng lao động cho nhu cầu giảng dạy thực tế. Hàng năm nhà trờng dựa trên
thực tế thực hiện khối lợng giảng dạy và khối lợng giảng dạy kế hoạch để xác
định mức chênh lệch tuyệt đối. Khi khối lợng giảng dạy lớn hơn khối lợng
thực hiện khá nhiều thì trờng sẽ cókế hoạch tuyển dụng thêm. Lợng giảng viên
tuyển dụng thêm đợc xác định dựa trên tơng quan giữa khối lợng giảng dạy
thiếu và mức giờ chuẩn cho vị trí thiếu đó. Việc tuyển dụng thêm giảng viên
hợp đồng không phải là vấn đề đơn giản lại tốn kém và liên quan trực tiếp đến
quỹ lơng mà nhà trờng phải chi trả nên mức giờ chuẩn ở đây phải thật hợp lý.
- Định mức giờ chuẩn có khả năng quán triệt nguyên tắc phân phối theo
lao động. Việc áp dụng mức giờ chuẩn cho giảng viên ngoài hai ý nghĩa trên
Nguyễn Phúc Thọ QTNL 43A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
còn có ý nghĩa rất quan trọng này. Lơng trả cho giảng viên ngoài phần lơng do
Nhà nớc chi trả còn có phần lơng II do nhà trờng chi trả. Phần lơng này khi đ-
ợc trả theo nguyên tắc vợt giờ định mức sẽ đảm bảo cho giảng viên hởng
quyền lợi theo kết quả công tác mình đã đạt đợc. Điều này có tác động tích
cực đến động lực giảng dạy, nghiên cứu của giảng viên.
Nguyễn Phúc Thọ QTNL 43A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Chơng II :
Phân tích thực trạng công tác định mức giờ
chuẩn cho giảng viên trờng Đại học Kinh tế
Quốc dân
I Những đặc điểm ảnh hởng đến công tác định mức giờ
chuẩn cho giảng viên trờng Đại học Kinh tế Quốc dân
viên của trờng đã nỗ lực xây dựng đợc nền tảng ban đầu trên mọi mặt cho sự
phát triển lớn mạnh sau này.
Với những thành tích của giáo viên, cán bộ và sinh viên, trờng đợc
Chính phủ tặng Huân chơng Lao động Hạng Ba (1/1961).
Tháng 1/1965, trờng đợc phép đổi tên thành trờng Đại học Kinh tế - Kế
hoạch trực thuộc Bộ Đại học và THCN.
2- Đại học kinh tế kế hoạch với sự nghiệp thống nhất đất nớc và xây dựng
Chủ nghĩa xã hội (1965 - 1985).
Trong giai đoạn này, quy mô của trờng Đại học Kinh tế Kế hoạch đã
phát triển rất nhanh. Năm học 1964 - 1965, trờng đã có 8 Khoa (Khoa công
nghiệp, Khoa Nông nghiệp, Khoa Thơng nghiệp, Khoa Tài chính, Kế toán,
Ngân hàng, Khoa kế hoạch, Khoa Thống kê, Khoa kinh tế lao động, và Khoa
Tại chức) với 12 chuyên ngành, 23 Tổ Bộ môn, 478 cán bộ CNV (trong đó có
208 giáo viên). Số sinh viên trong năm học 1964 - 1965 đã lên tới 4.114 ngời.
Trong thời kỳ chiến tranh. Trờng phải sơ tán, hoạt động của trờng vì thế
gắp rất nhiều khó khăn. Tuy nhiên, đợc sự giúp đỡ tận tình của cán bộ và nhân
dân địa phơng cùng với sự quyết tâm, nỗ lực phấn đấu của cán bộ. CNV, giáo
viên, sinh viên, các hoạt động giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học của tr-
ờng vẫn tiếp tục đợc triển khai, quy mô đào tạo của Trờng vẫn mở rộng.
Năm học 1966-1967, có 2.417 sinh viên đợc tuyển, tổng số sinh viên
các khoá, các hệ lên tới 5.424 ngời. Hệ đào tạo tại chức phát triển mạnh trong
những năm đầu của thời kỳ chiến tranh.
Nguyễn Phúc Thọ QTNL 43A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Trong thời gian này, mọi hoạt động của nhà trờng đều có bớc phát triển,
nhiều nhân tố mới về cải tiến giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học đã xuất
hiện.
Tháng 4/1972, một lần nữa Trờng phải rời khỏi Hà Nội do cuộc chiến
tranh phá hoại lần thứ hai.
Ngày 27/1/1973. Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở
học kinh tế quốc dân.
1.3- Đại học kinh tế quốc dân - đơn vị anh hùng lao động trong thời kỳ đổi
mới (1986 - 2005)
Thực hiện đờng lối đổi mới của Đảng (Nghị quyết đại hội VI tháng
12/1986) Bộ Đại học và TH chuyên nghiệp đã triển khai 3 chơng trình hành
động trong 3 năm 1987 - 1990, nhằm tạo bớc khởi đầu cho sự nghiệp đổi mới
toàn diện, cơ bản nền giáo dục Đại học và chuyên nghiệp.
Năm học 1987 - 1988 là năm đầu tiên thực hiện ba chơng trình hành
động của Bộ Giáo dục và Đào taọ, trờng đã chọn đổi mới nội dung đào tạo
làm khâu đột phá.
Từ năm học 1992 - 1993, trờng bắt tay vào hoàn thiện chơng trình đào
tạo cao học của các chuyên ngành đào tạo, đẩy mạnh đào tạo Thạc sĩ và PTS,
thực hiện hình thức đào tạo bằng Đại học thứ 2, đồng thời triển khai phơng
thức đào tạo từ xa. Các lớp bồi dỡng ngắn hạn đợc tổ chức rộng khắp nhằm
đáp ứng nhu cầu của xã hội về quản lý kinh tế, quản trị kinh doanh và quản lý
dân số.
Trong giai đoạn này có sự thay đổi về cơ cấu tổ chức của nhà trờng.
Nhiều trung tâm, khoa, phòng ban, Bộ môn mới ra đời.
Quy mô đào tạo đại học tăng nhanh. Thời kỳ 1986 - 1990, hàng năm tr-
ờng tuyển từ 300 - 350 sinh viên hệ chính quy. Đến năm học 2000 - 2001, số
sinh viên hệ chính quy đợc tuyển lên tới 3200 sinh viên.
Với hệ tại chức dài hạn, thời kỳ 1981 - 1991 tuyển đợc 7201 sinh viên,
nhng đến thời kỳ 1991 - 2001 đã tuyển lên tới 28.579 sinh viên.
Tính đến năm 2005, Đại học Kinh tế Quốc dân có tổng số1082 giáo
viên, cán bộ công nhân viên cơ hữu, bao gồm 620 giáo viên (có 26 GS, 76
PGS, 209 TS và TSKH, 255 Th.s).
Nguyễn Phúc Thọ QTNL 43A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy, học tập, NCKH và nghỉ ngơi cũng đ-
ợc tăng cờng mạnh mẽ.
Khoa quản lý tại chức
Các đơn vị đào tạo có chuyên ngành
Khoa quản lý kinh doanh
Khoa kế hoạch và phát triển
Khoa kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn
Khoa kế toán
Khoa Ngân hàng và Tài chính
Khoa du lịch và khách sạn
Khoa kinh tế lao động và dân số
Khoa thơng mại
Khoa thống kê
Khoa khoa học quản lý
Khoa kinh tế và kinh doanh quốc tế
Khoa Mác Lê nin
Khoa toán kinh tế
Khoa tin học kinh tế
Khoa kinh tế môi trờng và đô thị
TT đào tạo địa chính và kinh doanh bất động sản
Bộ môn kinh tế bảo hiểm
Bộ môn kinh tế đầu t
Bộ môn luật kinh tế
Các đơn vị đào tạo không có đào tạo chuyên ngành
Việ quản trị kinh doanh
Khoa kinh tế học
Kho Mác Lênin
Kho a giáo dục quốc phòng
Bộ môn Anh Nga
Bộ môn Pháp -Trung
Bộ môn giáo dục thể chất
Bộ môn xã hội học
và khách sạn, quản trị chất lợng, quản trị kinh doanh công nghiệp và
xây dựng, thống kê kinh doanh (dự kiến sẽ đào tạo).
3) Ngành tài chính ngân hàng: ngân hàng,tài chính doanh nghiệp, thị
trờng chứng khoán, tài chính công.
4) Ngành kế toán: kế toán tổng hợp, kiểm toán.
5) Ngành hệ thống thông tin kinh tế: tin học kinh tế
6) Ngành luật học: chuyên ngành luật kinh doanh.
7) Ngành khoa học máy tính
Khi nghiên cứu tổ chức bộ máy của trờng theo chiều dọc, có phân cấp
quản lý thì đứng đầu bộ máy quản lý là Ban giám hiệu gồm một hiệu trởng,
năm hiệu phó, điều hành quản lý theo nguyên tắc một thủ trởng. Ngoài ra tr-
ờng còn có hội đồng nghiên cứu khoa học và giáo dục, hội đồng giáo s t vấn
cho hiệu trởng về các hoạt động đào tạo và NCKH cuả trờng.
+Trờng có tất cả 15 khoa đào tạo chuyên ngành là: khoa quản trị kinh
doanh, khoa kế hoạch và phát triển, khoa kinh tế nông nghiệp và phát triển
nông thôn, khoa kế toán, khoa ngân hàng và tài chính, khoa du lịch và khách
Nguyễn Phúc Thọ QTNL 43A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
sạn, khoa Kinh tế lao động và dân số, khoa thơng mại, khoa thống kê, khoa
khoa học quản lý, khoa kinh tế và kinh doanh quốc tế, khoa marketing, khoa
toán kinh tế, khoa tin học kinh tế, khoa kinh tế môi trờng và đô thị, khoa luật
kinh tế.
+2 khoa quản lý đào tạo là: khoa quản lý SĐH và khoa quản lý tại chức
+2 đơn vị có đào tạo chuyên ngành là bộ môn kinh tế bảo hiểm và kinh tế đầu t.
+2 viện và một số trung tâm trực thuộc trờng: Viện quản trị kinh doanh,
viện nghiên cứu kinh tế và phát triển, trung tâm dân số, trung tâm đào tạo liên
tục
Ngoài ra còn có một số trung tâm trực thuộc khoa khác.
+9 phòng ban chức năng: phòng HC TH, phòng hợp tác quốc tế,
phòng TCCB, phòng quản lý đào tạo, phòng CTCT và QLSV, phòng QLKH,
CB,NV 423 39.2 442 41.39 462 42.7
GV 656 60.8 626 58.61 620 57.3
Nguồn: Phòng TCCB
Qua biểu thống kê trên ta thấy phần trăm giảng viên trong tổng số cán
bộ, giảng viên, nhân viên trong trờng trong 3 năm gần đây có xu hớng giảm.
tuy tốc độ giảm không mạnh nhng xu hớng này nhìn chung là không tốt. Theo
tài liệu thống kê trên thì nguyên nhân chủ yếu là do số lợng cán bộ, nhân viên
tăng mạnh. Năm 2004 tăng so với năm 2003 là19 ngời tơng ứng với 4.49%,
năm 2005 tăng so với năm 2004 là 20 ngời tơng ứng với 40.5% đều là khá
cao. Đây là kết quả của việc đội ngũ lao động phục vụ trong trờng tăng trong
mấy năm gần đây. Bên cạnh đó thì đội ngũ giảng viên giảm mạnh nhất là
trong năm 2003 đến 2004 giảm đến 30 ngời cũng ảnh hởng đến kết quả trên.
Số lợng cán bộ quản lý thì dờng nh không biến động nhiều do chịu chi phối
của tổ chức bộ máy.
Để có thể đánh giá đúng hơn về chỉ tiêu này, ta xét riêng cho năm 2005.
Năm 2005, giảng viên của trờng Đại học Kinh tế Quốc dân chiếm 57.3% so
với tổng số cán bộ, giảng viên, nhân viên. Nh vậy là cứ 100 lao động trong tr-
ờng thì có khoảng 58 giảng viên. Tỷ lệ này quy định chung cho khối các trờng
kinh tế tài chính pháp lý là 65-70%. So với tỷ lệ chung này con số 57.3
cha đạt đợc mức chung nhng cũng không phải là quá thấp. Ngoài ra thì số l-
ợng cán bộ, nhân viên nên có tốc độ tăng tơng ứng với tốc độ tăng tơng ứng
với tốc độ tăng của giảng viên. Thực tế theo số liệu thống kê trên thì trong khi
Nguyễn Phúc Thọ QTNL 43A