kế hoạch hóa trong nền kinh tế thị trường định hướng xhcn ở nước ta - Pdf 10

KẾ HOẠCH HÓA
TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở NƯỚC TA
Vũ Văn Phúc *
1. Quan niệm về vai trò nhà nước, kế hoạch hóa trong nền kinh tế thị trường
định hướng XHCN.
Nghiên cứu lịch sử các học thuyết kinh tế thấy rằng: một trong những nội dung
quan trọng mà các nhà kinh tế bàn đến là vai trò của nhân tố thị trường và nhân
tố Nhà nước trong điều hành quản lý nền kinh tế. Bởi lẽ, vấn đề nhà nước và thị
trường là mối quan tâm hàng đầu của nhiều nhà nghiên cứu kinh tế trong nhiều
thập kỷ qua, không những ở nước ta mà ở cả nhiều nước trên thế giới, vì muốn
tìm tòi mô hình quản lý kinh tế vĩ mô thích hợp và có hiệu quả hơn.
Đối với một nền kinh tế đặc thù như nước ta: nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN thì giải quyết mối quan hệ giữa thị trường và nhà nước trong điều tiết,
quản lý nền kinh tế cũng còn nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn phải nghiên cứu.
Chẳng hạn như :
Thứ nhất, Sử dụng cơ chế thị trường đến đâu và như thế nào để phát huy được
mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của nó.
Thứ hai, Với chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước thì kế hoạch hóa được sử
dụng như là một trong những công cụ quản lý kinh tế vĩ mô như thế nào để đạt
được tăng trưởng lâu bền và đảm bảo được định hướng XHCN.
Ngày nay, kế hoạch hóa (KHH) được hiểu theo nghĩa rộng nhất bao gồm toàn bộ
các hành vi can thiệp một cách có chủ định của Nhà nước vào nền kinh tế để đạt
được những mục tiêu đã đề ra.
Bản chất, nội dung của KHH hoàn toàn phụ thuộc vào vai trò của Nhà nước
trong nền kinh tế thị trường (KTTT).
Quan niệm về Nhà nước trong nền KTTT định hướng XHCN khác hẳn trong nền
kinh tế tập trung - bao cấp: nếu trước đây Nhà nước là cho phép và quyết định
(theo cơ chế xin - cho), thì ngày nay là Nhà nước tạo khung khổ pháp luật để mọi
1
công dân tự do kinh doanh theo pháp luật và hỗ trợ giúp đỡ, đồng thời giám sát

2
thông qua cơ chế thị trường đối với các hoạt động trên thị trường cũng như đối
với các hoạt động kinh tế trong xã hội.
2. Đổi mới công tác kế hoạch trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở
nước ta.
Với cách đặt vấn đề như trên, cần thấy rằng: Kế hoạch hóa là một trong những
công cụ quản lý kinh tế vĩ mô quan trọng của Nhà nước nhằm đạt tăng trưởng lâu
bền và đảm bảo định hướng XHCN. Vì thế đổi mới công tác kế hoạch từ tư duy,
quan điểm định hướng, nội dung, quy trình lập và điều hành cho đến cơ cấu tổ
chức và cách thức chỉ đạo kế hoạch là một nội dung cơ bản của quá trình đổi mới
công tác kế hoạch. Bản chất, nội dung của kế hoạch hóa hoàn toàn phụ thuộc vào
vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường.
Trong cơ chế thị trường TBCN, sự can thiệp của Nhà nước luôn mang tính chất
tư sản và trong khuôn khổ của chế độ tư sản với mục đích nhằm bảo đảm môi
trường kinh tế - xã hội thuận lợi cho sự thống trị của giai cấp tư sản, cho sự bền
vững của chế độ bóc lột tư bản chủ nghĩa. Trong cơ chế thị trường có sự quản lý
của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thì sự can thiệp của Nhà nước
xã hội chủ nghĩa vào nền kinh tế lại nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của toàn
thể nhân dân lao động, thực hiện mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh.
Cơ chế vận hành nền KTTT định hướng XHCN là cơ chế thị trường có sự quản
lý của Nhà nước dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN. Cơ chế đó đảm bảo tính hướng
dẫn, điều khiển nền kinh tế nhiều thành phần hướng tới đích XHCN theo phương
châm: nhà nước điều tiết vĩ mô, thị trường hướng dẫn doanh nghiệp. Cơ chế đó
thể hiện ở các mặt cơ bản: Một là, nhà nước XHCN là nhân tố đóng vai trò "nhân
vật trung tâm" và điều tiết nền kinh tế vĩ mô. Hai là, cơ chế thị trường (CCTT) là
nhân tố trung tâm của nền kinh tế, đóng vai trò "trung gian" giữa nhà nước và
doanh nghiệp.
Trong nền KTTT vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước,
sự quản lý can thiệp vĩ mô của Nhà nước phải thích hợp với yêu cầu của các quy

nhập, một mặt, đòi hỏi nhà nước phải có chính sách sao cho giảm bớt khoảng
cách chênh lệch giữa lớp người giàu và lớp người nghèo ; mặt khác, phải có
4
chính sách, biện pháp nâng cao thu nhập chính đáng của người giàu, người nghèo
và của toàn xã hội.
Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, do vậy nội dung kế hoạch không được
phép chỉ giới hạn trong phạm vi khu vực kinh tế nhà nước mà phải mang tính
tổng thể toàn nền kinh tế. Việc đổi mới này sẽ tác động một cách sâu sắc đến tính
dân chủ và công khai của kế hoạch. Ngay từ lúc dự thảo nội dung kế hoạch, các
mục tiêu và biện pháp không nên và không cần phải giữ bí mật. Nhà nước cần
tăng cường khung khổ pháp lý, hạn chế tối đa mọi can thiệp mang tính áp đặt,
trực tiếp và chuyển sang hình thức tác động gián tiếp và khuyến khích. Như vậy,
những công cụ thường được áp dụng trong nền kinh tế kế hoạch hóa trước kia
phải được thay bằng những công cụ, chính sách phù hợp với nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN. Liên quan chặt chẽ với những điểm trên là vấn đề
quy hoạch. Quy hoạch được coi là cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch. Nhưng ở
nước ta vấn đề quy hoạch cũng còn nhiều hạn chế, bất cập. Cần phải phân biệt rõ
2 loại quy hoạch: quy hoạch sử dụng không gian (bao gồm cả quy hoạch sử dụng
đất, quy hoạch đô thị) và quy hoạch phát triển ngành. Thời gian qua, quy hoạch
sử dụng không gian, đặc biệt là quy hoạch đô thị chưa được chú ý đúng mức, quy
hoạch sử dụng đất thì lại không ổn định. Điều này đã gây lãng phí cho cả Nhà
nước lẫn mọi người dân. Quy hoạch phát triển ngành lại được chú ý quá mức,
gần như ngành nào cũng có và hầu hết quy hoạch ngành lại được xác định trong
điều kiện "tĩnh" và "đóng cửa", không tính được đầy đủ những biến động trên thị
trường thế giới. Đó cũng là nguyên nhân dẫn đến nhiều doanh nghiệp, nhiều sản
phẩm được hình thành theo quy hoạch không thể có sức cạnh tranh trên thị
trường nếu không được Nhà nước bảo hộ. Tư duy về quy hoạch cần đổi mới theo
hướng tăng cường công tác quy hoạch đô thị, quy hoạch sử dụng đất, chỉ quy
hoạch những ngành mang tính hệ thống toàn vùng hoặc toàn quốc (đường giao
thông, điện, viễn thông ), những ngành mang tính kinh doanh chỉ nên dừng ở

tiêu. Việc xác định các mục tiêu phải đi kèm với xác định thứ tự ưu tiên giữa các
mục tiêu, nghĩa là phải có sự "trả giá", có khi phải hạ thấp yêu cầu mục tiêu này
cho việc đạt mục tiêu khác cao hơn.
Việt Nam đã gia nhập ASEAN, AFTA, ký kết Hiệp định Thương mại với Mỹ,
quá trình toàn cầu hóa đang ngày càng gia tăng trên toàn thế giới, sự liên kết giữa
thị trường trong nước và thị trường thế giới ngày càng gắn bó, nền kinh tế tri
6
thức và cuộc cách mạng khoa học công nghệ đã tạo ra sức ép ngày càng cao đối
với mọi quốc gia, mọi doanh nghiệp. Việc nhận thức đầy đủ những vấn đề này sẽ
buộc những nhà hoạch định chính sách phải đặt ra những mục tiêu kế hoạch
trong bối cảnh chung, trong môi trường "động" và "mở cửa". Không chấp nhận
những thách thức này, chắc chắn nền kinh tế sẽ không tránh khỏi nguy cơ tụt
hậu, dẫn đến bất ổn định trong xã hội.
Trên cơ sở đổi mới về xác định mục tiêu và công cụ, quá trình xây dựng nội dung
kế hoạch cần đổi mới theo hướng xác định các mục tiêu phải được làm cùng với
xác định biện pháp tương ứng, công cụ chính sách đầu tư ngày càng giảm và
công cụ chính sách khuyến khích ngày càng tăng nhằm phát huy hết tiềm năng
của cả xã hội (ví dụ: chính sách khuyến khích các hoạt động xã hội hóa ở các lĩnh
vực giáo dục, y tế, đã làm giảm đáng kể gánh nặng cho ngân sách nhà nước).
Việc xây dựng Chiến lược kinh tế - xã hội do Hội đồng Nghiên cứu chiến lược
thực hiện, dưới sự lãnh đạo của Đảng; chiến lược có thời hạn 10-15 năm nhưng
được điều chỉnh vào giữa kỳ; dự thảo chiến lược được công bố công khai và
được các tầng lớp xã hội, đặc biệt là các nhà trí thức và quản lý tham gia đóng
góp ý kiến. Mục tiêu chiến lược không được mang tính chủ quan, duy ý chí,
những mâu thuẫn giữa các mục tiêu cần được phân tích và xử lý thông qua việc
xác định thứ tự ưu tiên giữa các mục tiêu nhằm đưa ra những biện pháp cụ thể
cho từng thời kỳ. Nội dung chiến lược phải đảm bảo tính hệ thống, tính đồng bộ
giữa các ngành, các vùng trong phát triển kinh tế.
Xây dựng kế hoạch định hướng phát triển 5 năm. Kế hoạch 5 năm cụ thể hóa
chiến lược. Kế hoạch 5 năm xác định một số chỉ tiêu cơ bản định hướng cho sự

có mối quan hệ gắn bó với kế hoạch của những Tổng công ty chủ chốt ở những
ngành này (ví dụ: Dầu khí, Điện lực, Bưu chính viễn thông ). Bên cạnh đó, hệ
thống ngân hàng thương mại của Việt Nam tiếp tục giữ một vai trò quan trọng
trong việc đảm bảo sự ổn định cho nền kinh tế trong thời gian tới và cũng sẽ có
tác động rất lớn đến việc tính toán trong xây dựng và điều hành kế hoạch. Do
vậy, các ngân hàng thương mại lớn và những Tổng công ty này cần phải định kỳ
báo cáo về kế hoạch và tình hình sản xuất kinh doanh của mình để Chính phủ có
những thông tin cần thiết phục vụ cho việc lập và điều hành kế hoạch. Điều hành
kế hoạch cần dựa trên cơ sở thông tin báo cáo và mô hình phân tích dự báo hàng
8
quý. Phối hợp kết quả này với ý kiến chuyên gia sẽ cho phép Nhà nước, các cấp
xác định thời điểm, mức độ, phạm vi và cách thức can thiệp một cách hợp lý vào
nền kinh tế.
Đổi mới công tác kế hoạch hóa ở địa phương và ở các ngành. Nội dung kế hoạch
của các địa phương cần phản ánh đúng sự phân cấp quản lý nhà nước về kinh tế.
Kế hoạch của các ngành, địa phương phải phù hợp với kế hoạch chung của cả
nước. Bên cạnh nhiệm vụ xây dựng quy hoạch phát triển của mình, các ngành,
các địa phương cần hỗ trợ cho việc lập và điều hành kế hoạch kinh tế quốc dân
bằng cách cung cấp các thông tin, dự báo và những kiến nghị cho việc xây dựng
các chính sách kinh tế.
Phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan tổng hợp và các ngành trong việc dự báo tình
hình thị trường trong nước và quốc tế cũng như phân tích, đánh giá thực trạng
trong nước, bao gồm tất cả các thành phần kinh tế, kể cả các doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài.
Đảm bảo các điều kiện và tiền đề cho việc đổi mới công tác kế hoạch hóa: Đổi
mới hệ thống thu thập, xử lý và sử dụng thông tin. Xác định các loại thông tin
báo cáo cần thiết, thống nhất biểu mẫu các loại thông tin báo cáo; xác định hệ
thống tổ chức bộ máy thu thập và xử lý thông tin; khắc phục tình trạng "thương
mại hóa" thông tin một cách vô nguyên tắc, xác định rõ trách nhiệm cung cấp các
loại thông tin đối với những cơ quan có liên quan; thiết kế cụ thể các nguồn

Tìm kiếm:
VỀ ĐƯỜNG LỐI VÀ CHIẾN LƯỢC
PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA ĐẢNG
TẠI ĐẠI HỘI IX
Nguyễn Tấn Dũng *
Trong quá trình đổi mới, Đảng ta luôn xác định nhiệm vụ trung tâm là phát triển
kinh tế, nhiệm vụ then chốt là xây dựng Đảng. Đó là quan điểm nhất quán của
Đảng và đã được thể hiện trong văn kiện của các kỳ đại hội. Báo cáo Chính trị tại
Đại hội IX lần này đã dành một phần riêng (phần IV) nói về Đường lối và Chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội nhằm xác định nội dung cơ bản của đường lối
kinh tế trong 20 năm đầu của thế kỷ XXI và một hệ thống các quan điểm chỉ đạo,
những định hướng lớn của Chiến lược 10 năm (2001 - 2010) và kế hoạch 5 năm
(2001 - 2005).
I. Đường lối phát triển kinh tế.
Xuất phát từ tình hình trong nước và quốc tế, Đảng ta xác định đường lối phát
triển kinh tế trong thời gian tới với những nội dung chủ yếu là :
1. Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH), xây dựng nền kinh tế
độc lập tự chủ, đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp. Có thể nói, đây là tư
tưởng chiến lược rất quan trọng, là mục tiêu cơ bản của sự nghiệp xây dựng và
phát triển đất nước trong giai đoạn hiện nay, bởi vì muốn tiến lên chủ nghĩa xã
hội (CNXH) từ một nước nông nghiệp, không kinh qua chế độ tư bản chủ nghĩa,
chúng ta phải tiến hành CNH để xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của CNXH.
Nhưng CNH ở nước ta lại đang được tiến hành trong bối cảnh thế giới đã có
nhiều thay đổi, đặc biệt là sự phát triển rất nhanh cả về quy mô và chất lượng của
lực lượng sản xuất trên nền tảng của một cuộc cách mạng mới về khoa học và
công nghệ ; một số nước phát triển trên thế giới đã đi qua giai đoạn phát triển đại
công nghiệp và bước sang phát triển kinh tế tri thức. Do đó, con đường CNH,
HĐH của nước ta đòi hỏi chúng ta phải lựa chọn những mô hình và bước đi thật
thích hợp, có bước tuần tự, có bước nhảy vọt, phát huy cao nhất những lợi thế
của đất nước, trước hết là nguồn lực con người, phát triển mạnh giáo dục và đào

phòng, an ninh độc lập tự chủ vững chắc, giữ vững định hướng XHCN, mà còn
là cơ sở bảo đảm cho sự phát triển bền vững lâu dài của đất nước, làm cho việc
mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế thật sự có hiệu quả.
12
2. Ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất
phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Từ Đại hội VI, Đảng ta đã rút ra bài
học quan trọng là lực lượng sản xuất bị kìm hãm không chỉ trong trường hợp
quan hệ sản xuất lạc hậu, mà cả khi quan hệ sản xuất phát triển không đồng bộ,
có những yếu tố vượt quá xa so với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Theo quy luật khách quan, bất kỳ sự thay đổi nào của quan hệ sản xuất, nhất là
quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất, cũng đều là kết quả tất yếu của sự phát triển
lực lượng sản xuất, do lực lượng sản xuất quy định. Do đó, ưu tiên phát triển lực
lượng sản xuất là sự lựa chọn đúng quy luật, lựa chọn đúng mắt xích quan trọng
nhất của tiến trình đưa đất nước thoát khỏi tình trạng kém phát triển. Muốn vậy,
điều hết sức quan trọng là phải tìm cách khơi dậy mọi tiềm năng, mọi nguồn lực
để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh, nhưng đồng thời phải từng bước và kịp
thời điều chỉnh, cải biến các yếu tố của quan hệ sản xuất cho phù hợp. Ở đây cần
lưu ý : Một mặt, tiêu chuẩn căn bản để xem xét một hình thức cụ thể nào đó của
quan hệ sản xuất có phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất hay
không là việc nó có tác dụng đến đâu trong việc thúc đẩy lực lượng sản xuất phát
triển. Mặt khác, trong nền kinh tế thị trường của nước ta, việc xây dựng và hoàn
thiện quan hệ sản xuất phải bảo đảm được định hướng XHCN, nghĩa là, cùng với
việc thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, nó cũng phải góp phần đắc lực vào
việc cải thiện đời sống nhân dân, thực hiện công bằng xã hội, tạo cơ hội đồng đều
cho mọi người lao động và các tầng lớp dân cư, các cộng đồng dân tộc trong việc
thụ hưởng các thành quả của sự phát triển, cũng như tham gia đóng góp vào công
cuộc phát triển của đất nước.
Về mặt lý luận, rõ ràng khi lực lượng sản xuất đạt tới trình độ xã hội hóa cao và
hiện đại thì đòi hỏi tất yếu phải xác lập chế độ sở hữu công cộng về những tư liệu
sản xuất chủ yếu, chế độ công hữu này sẽ chiếm ưu thế tuyệt đối. Nhưng để đạt

tố quyết định là con người, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và năng lực quản lý.
Nhiều nước do năng lực hấp thụ ở mức thấp, lại thêm nạn tham nhũng làm thất
thoát, lãng phí , nên kết cục là càng vay nhiều càng nghèo thêm, gánh nặng nợ
nần ngày một chồng chất.
Ngay từ những năm đầu của chính quyền cách mạng, mặc dù lúc đó viện trợ và
vốn vay bên ngoài chủ yếu từ các nước trong phe XHCN, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã căn dặn : sự giúp đỡ từ bên ngoài chỉ như thêm vốn cho ta. Ta phải khéo dùng
14
cái vốn ấy để bồi bổ lực lượng của ta, phát triển khả năng của ta. Song nhân dân
và cán bộ ta tuyệt đối chớ vì bạn ta giúp nhiều mà đâm ra ỷ lại (2). Hiểu một
cách thấu đáo là có phát huy cao độ nội lực mới sử dụng hiệu quả ngoại lực, kết
hợp nội lực với ngoại lực thành nguồn lực tổng hợp để phát triển đất nước nhanh
và bền vững.15


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status