lời nói đầu
Phân phối là điều kiện tiền đề cho bất kỳ một quốc gia nào tồn tại và
phát triển .Từ xa ông cha ta sống một cuộc sống bầy đàn
hang hốc ăn uống chung đụng , nhng cuộc sống nh vậy không thể
tồn tại lâu dài đợc.Dần dần có sự phân chia, đến thời kỳ giai cấp bắt đầu
xuất hiện thì cũng là lúc phân phối ra đời.
Phân phối lên chủ nghĩa xã hội là một vấn đề hết sức quan trọng tạo
động lực mạnh mẽ góp phần tích cực thúc đẩy sản xuất phát triển ổn định
tình hình kinh tế xã hội , nâng cao đời sống nhân dân thực hiện mục tiêu
dân giàu nớc mạnh công bằng văn minh .Công bằng xã hội là khát vọng của
nhân dân ta và cũng là mục tiêu của sự nghiệp cách mạng nhng không phải
mục tiêu ấy bao giờ cũng đợc xác định rõ ràng và chính xác.
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở VN chúng ta đã rất cố gắng
trong việc phân phối nhng tình trạng bất công bằng vẫn còn tồn tại , tuy vậy
so với trớc tình hình đổi mới chúng ta đã có những thay đổi.
Đợc thể hiện rõ nhất qua quan hệ phân phối thu nhập trong nền kinh tế
thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa ở nớc ta hiện nay.
Nội dung bao gồm 2 chơng chính:
Chơng 1 : Mội số vấn đề cơ bản về phân phối sản xuất thu nhập ở nớc
ta.
Chơng 2 :Thực trạng và giải pháp nâng cao tốc độ của quan hệ phân
phối thu nhập trong nền kinh tế thị trờng định hớng XHCN ở nớc ta hiện
nay.1
Nội dung
Chơng I:
Một số vấn đề cơ bản về quan hệ phân phối thu nhập trong nền
kinh tế thị trờng định hớng XHCN ở nớc ta hiện nay.
I. Bản chất quan hệ phân phối và các nguyên tắc phân phối ở nớc
cũng đợc chia thành:1 bộ phận cho tiêu dùng dự trữ, một bộ phận cho tiêu
dùng chung xã hội và tiêu dùng cá nhân.
Tính đồng nhất đó mỗi xã hội có một quan hệ phân phối riêng phù hợp
với tính chất của quan hệ sản xuất đó. Cũng nh quan hệ sản xuất quan hệ
phân phối có tính lịch sử.CACMAC đã viết: Mỗi một hình thái phân phối
đều biến đi cùng một lúc với phơng thức sản xuất nhất định tơng ứng với
hình thái phân phối ấy.Chỉ thay đổi quan hệ phân phối khi đã cách mạng đ-
ợc quan hệ sản xuất đẻ ra quan hệ phân phối ấy.
Do phân phối tác động đến sản xuất nên vấn đề đặt ra là nhà nớc cách
mạng phải làm sao để sử dụng phân phối nh là một công cụ xây dựng chế
độ mới để phát triển kinh tế theo hớng xã hội chủ nghĩa,con đờng đầy khó
khăn chúng ta đã chọn và nhất định sẽ tiến tới thành công trong tơng lai
không xa.
Với nứơc ta ngày nay , trình độ sản xuất còn thấp sản xuất không đáp
ứng kịp nhu cầu và nhiều mặt phát truiển cha cân đối nên phân phối còn có
vi trí quan trọng.Phân phối đúng đắn theo yêu cầu của quý luật khách quan
và phù hợp với tình hình thc tế của đất nớc sẽ là động lực mạnh mẽ góp
phần tích cực thúc đẩy sản xuất phát triển ổn định tình hình kinh tế xã hội
cải thiện đời sống nhân dân.
1.3. ý nghĩa của phân phối.
3
Nó ảnh hởng trực tiếp đến vấn đề sống còn của mỗi ngời dân công bằng
xã hội .Tuy vậy không thể nào mà có đợc quan hệ phân phối hoàn toàn
đồng đều trong xã hội.
Phân phối đúng sẽ tạo công bằng, không ngợc lại sẽ không đảm bảo đ-
ợc lợi ích kinh tế không công bằng chênh lệch quá đáng tác động tiêu cực
đến sản xuất kìm hãm thậm trí còn phá hoại sản xuất.
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội phân phối cùng với nó là lu
thông là một mặt trận đấu tranh rất phức tạp.Trong điều kiện nền kinh tế
nhiều thành phần lợi ích của cơ sở sản xuất kinh doanh của ngời sản xuất
thành viên trong xã hôị ,là mội ngời hành ngày ,hàng giờ trong cuộc sống
,tác động trực tiếp tới đời sống cá nhân,ngời sản xuất sẽ không hăng hái
làm việc hết sức mình để lao động sản xuất khi biết chắc cái họ đợc hởng.
Dói chế độ t bản chủ nghĩa mọi công dân bán sức lao động cho t bản
nh một món hàng , họ nhận đợc một số tiền công . Cái tiền công mà họ trả
cho công nhân là giá cả hàng hoá sức lao động nhng thể hiện bề ngoài nh
giá lao động Tiền công nhiều ít cần tuỳ thuộc vào thời gian dài hay ngắn,
sản phẩm làm ra nhiều hay ít.Cách phân phối ấy làm lu mờ sự bọc lột của
chủ nghĩa t bản, che lấp thời gian lao động ranh giới, thời gian lao động cần
thiết với thời gian lao động thặng d tựa hồ nh giai cấp công nhân và giai cấp
t sản hoàn toàn bình đẳng nhau , ngời có công , của thì tạo tiền đồ cho giai
cấp t sản công tạo tiền lơng cho giai cấp công nhân,không ai bóc lột ai.Cách
phân phối tạo sức hút nhất định với ngời ngời lao động, nên tác dụng nhất
định trong kích thích sản xuất , kích thích tăng năng xuất lao động , thúc
đẩy sản xuất nhng cái chính là bản chất quan hệ t bản là quan hệ ngời bóc
lột ngời , tính phân phối ấy đã hạn chế tính tích cực của cộng nhân .Thực
chất lơng công nhân đợc trả chỉ là cái phần nhỏ trong lợi ích mà họ tạo ra
,phần thặng d sản xuất của họ tạo ra lớn hơn nhiêu so vớ phần họ nhận đ-
5
ợc.Tiền lơng của họ đợc giới hạn ở giá trị sức lao động chỉ đủ sái sản xuất
sức lao động ở mức tối thiểu rốt cuộc họ vẫn tay trắng , Ngời công nhân
càng cải tiến kỹ thuật ,năng xuất lao động thì họ càng bóc lột nhiều hơn .
Đặc biệt t bản còn áp dụng phơng pháp tiền lơng theo kiểu hút máu tay-lo
vắt kiệt sức lao động ngời dânkhông phân biệt tình trạng sức khoẻ ,giới
tính , chủng tộc.Tình trạng thất nghiệp ,thuế khoá ,lạm phát giấy bạc tăng
làm giá trị lơng giảm xuống .Tất cả đã kìm hãm sức sản xuất của công dân.
Dới chế độ xã hội chủ nghĩa công hữu về t liệu sản xuất đợc xác lập,
sau bao năm làm việc cho bọn bóc lột ngày nay nhân dân lao động làm chủ
tập thể với t liệu sản xuất và sản phẩm tạo ra .Nguyên tắc cơ bản của phân
phối theo chế độ xã hội chủ nghĩa là phân phối theo lao động , chính
Trong XHCN sự thống trị của chế độ công hữu XHCN về t liệu sản xuất
, quyết đinh sự bình đẳng của các thành viên trong xã hội ,đối với t liệu sản
xuất thủ tiêu mọi cơ sở của chế độ ngời bóc lột ngời ,quyết định nghĩa vụ
lao động của công dân.
Phân phối theo lao động là gì? Đó là phân phối vật phẩm tiêu dùng cá
nhân cho lao động ,phần còn lại của vật phẩm tiêu dùng đợc phân phối bằng
phúc lợi xã hội .
Chế độ XHCN có trách nhiệm và điều kiện bố trí cho ngời lao động có
công việc phù hợp với khả năng lao động cho từng ngời .Xã hội buộc những
ngời có khả năng lao động theo năng lực của mình ngời lao động đòi hỏi xã
hội phải đảm bảo việc làm cho mình và có nghĩa vụ tham gia theo khả năng
của mình.
Lấy số lợng và chất lợng lao động làm chỉ tiêu đánh giá mức độ cống
hiến và hởng thụ của họ.Nói lợng lao động là nói đến lợng tiêu hao sức lao
động của con ngời vào sản xuất .Số lợng lao động đo bằng thời gian lao
7
đông nhng thời gian lao động bỏ ra để sản xuất vẫn cha phản ánh đủ số l-
ợng lao động mà phản ánh cả cờng độ lao động .Trong một đơn vị thời gian
nếu cờng độ lao động khác nhau thì long lao động hao phí khác nhau.do đó
thời gian khác nhau ,cờng dộ khác nhau độ hởng thụ cũng khác nhau.Nói
chất lợng lao động là độ phức tạp của lao động,trong cùng đơn vị thời gian
lao động phức tạp sáng tạo ra giá trị nhiều hơn là giá trị giản đơn.Do vậy
ngời có trình độ lành nghề phải đợc hởng thụ nhiều hơn.
Nó chẳng qua là ngời sản xuất đứng về cá nhân bị mất đi thì đứng về
thành viên của xã hội ngời ấy nhận trực tiếp hay gián tiếp.
Nội dung phân phối theo lao động là quy luật kinh tế khách quan của
chủ nghĩa xã hội .Dới CNXH chế độ ngời bóc lột ngời không còn tồn tại
,ngời dân làm chủ ,vì thế phân phối sản phẩm làm ra lợi ích của ngời lao
động nhằm đảm bảo thoả mãn nhu cầu vật chất văn hoá thờng xuyên và
dảm bảo cho cho việc phát triển tự do toàn diện của tất cả mọi thành viên
quan trọng nó góp phần tích cực lao động cộng đồng của mọi thành viên xã
hội nâng cao mức sống toàn dân ,đặc biệt là ngời có thu nhập thấp,Giáo dục
ý thức cộng đồng,xây dựng chế độ xã hội mới .
Quỹ phúc lợi xã hội không thể thiếu trong quá trình phân phối thu nhập
cá nhân trong cộng đồng song quỹ đó chỉ có ý nghĩa tích cực khi quỹ đó sự
dụng hợp lý.
CNXH phát triển mới có điều kiện để thực hiện một bớc cơ bản công
bằng xã hội trong phân phối thu nhập.
Trong thời kì quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN từ một nền kinh
tế nông nghiệp nghèo nàn lạc hậu,Đảng và nhà nớc ta đã thực hiện chủ tr-
ơng chính sách phát triển nền kinh tế theo hớng xã hội chủ nghĩa thì vẫn
còn tồn tại nhng bất hợp lí,bất bình đẳng về phân phối thu nhập sự nghiệp
9
xây dựng CNXH đòi hỏi phải tạo ra tiền đề biện pháp từng bớc thu hẹp và
xoá bỏ sự bất bình đẳng tiến tới chế độ không còn ngời bóc lột ngời.
Để đạt đợc mục đích nay cần phải :
+Phát triển mạnh mẽ lực lợng sản xuất
+Tiếp tục hoàn thiện chính sách tiền công ,tiền lơng
+Điều kiện thu nhập dân c hạn chế quá đáng về mặt thu nhập .Trong
thời kỳ quá độ lên CNXH ở nớc ta một mặt phải thừa nhận sự chênh lệch về
mức thu nhập là khách quan .Nhà nớc cần hạn chế sự chênh lệch thu nhập
quá mức dẫn đến sự phân hoá giữa các nơi trong xã hội.
+Khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xoá đói giảm nghèo .Mục
tiêu phấn đấu của nhân dân ta là dân giàu nớc mạnh xã hội công bằng văn
minh .Vì vậy cần phải phân đấu phát huy nỗ lực làm giàu cho mọi công
dân.
+Khuyến khích mọi thành phần kinh tế mọi công dân ,nhà đầu t mở mang
nghành nghề ,phân bố dân c lao động trên địa bàn cả nớc .mở rộng kinh tế
đối ngoại đẩy mạnh xuất khẩu lao động tạođiều kiện cho mọi ngời lao dộng
tự tìm kiếm việc làm.
Cùng với sự phát triển nền kinh tế từ cơ chế tập chung quan liêu bao cấp
sang nền kinh tế hàng hoá với cơ cấu kinh tế nhiều thành phần tất yếu phải
đổi mới các chính sách kinh tế xã hội cũ trớc đây phù hợp với cơ chế mới
của nền kinh tế.
Tiền lơng và công lao động là đặc biệt quan trọng vì nó thể hiện quan
điểm của đảng và Nhà nớc trong nền kinh tế thị trờng nớc ta . Phân tích
chính sách tiền lơng , tiền công hiện nay trên cơ sở đó đa ra các các phơng
hớng giải pháp cơ bản để tiếp tục giải quyết vấn đề tiền lơng của nớc ta
trong thời gian tới .Nếu thực hiện mạnh việc sàng lọc ,sa thải ,thực hiện
11
tuyển dụng lại theo cơ chế mới với phơng trâm tinh giảm bộ máy đến mức
tối u
2.2.1 Tình trạng phân phối theo lao động trong nền kinh tế thị tr-
ờng định hớng xã hội chủ nghĩa ở việt nam.
Xuất phát từ nguyện vọng chân thành chính đáng song nóng vội ta đã
máy móc vận dụng nguyên tắc phân phối theo lao động của các nứơc xã hội
chủ nghĩa và hoàn cảnh cha chín muồi trong nền kinh tế tập chung của nớc
ta .Nguyên nhân này nằm trong nhận thức nhầm lẫn của chúng ta đem đồng
nhất sở hữu xã hội vào sở hữu toàn dân ,không đặt sở hữu này với mối tơng
quan biện chứng với lực lợng sản xuất thấp kém của nớc ta .Do đó hành
động của chúng ta là nhanh chóng cải tạo các thành phần kinh tế của
CNXH làm cơ sở cho phân phối lao động .Mặt khác trong lĩnh vực trao đổi
chúng ta lại thực hành phân phối bằng hiện vật một cách rộng khắp từ sản
xuất đến tiêu dùng khiến quan hệ hành tiền bị thủ tiêu ,thớc đo lao động
bằng giá trị bị phủ định .Kết quả là trong phân phối ta không thực hiện đợc
phân phối đúng cho lao động ,đảm bảo công bằng lao động mà lại đa đến sự
bình quân xã hội. Điều đó tạo kẽ hở làm triệt tiêu nhân tố tích cực dám hi
sinh vì nghĩa lớn ,biết quên hết mình cho lao động .Đồng thời tạo ra chỗ
dựa cho thói lời nhác ,ỷ lại ,dựa dẫm ,ăn bám khắp mọi nơi ,mọi ngời .Đây
cũng là một trong những nguyên nhân đẩy xã hội vào tình trạng trì trệ
doanh ngời bỏ vốn phải chấp nhận khả năng thua lỗ nhng nhiều ngời hy
vọng vẫn có lãi nên vẫn sẵng sàng chấp nhận bỏ vốn ra để kinh doanh điều
đó rấtt phù hợp với lợi ích của xã hội.
Nguyên tắc phân phối theo mức đóng góp chung chính là viêc để
khuyến khích mọi ngời đóng góp vốn nếu có. Lực lợng sản xuất càng phát
triển thì giá trị của t liệu sản xuất phụ thuộc vào ngời dân ngày càng nhiều
13
do vậy nhà nớc càng có ít nhu cầu trong việc thu hút đóng góp của ngới
dân.
Chủ trơng thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động , vừa thao mức
đóng góp vốn là sự đổi mới quan trọng trong sự nghiệp của đảng ta về sự
phân phối nói riêng . Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội mới kết thúc và
chủ nghĩa xã hội mới trở thành hiện thực , nhng khi mà thời kỳ quá độ cha
kết thúc thì chúng ta cha thực hiến điều này đợc .Nguyên tắc phân phối
theo cống hiến thực chất là phân phối theo lao động vừa theo mức độ đóng
góp của cá nhân trong xã hội vì theo đóng góp của cá nhân trong xã hội thì
suy cho cùng cũng có 2 loại cống hiến đó là cống hiến theo sức lao động
và cống hiến theo vốn góp . Khi quan niệm vậy khái niệm công bằng xã hội
mang một nội dung mới trớc đây ta quan niệm không làm thì không đợc h-
ởng đó là công bằng còn không làm mà đợc hởng là bất công bằng đó là
quan niệm dân ta đến nhận thức chủ trơng thực hiện phân phối theo lao
động mà không thực hiện theo phân phối vừa theo lao động vừa theo vốn
đóng góp nếu theo quan niệm cũ thì ta cha thực hiện đợc công bằng xã hội
nhng với quan niệm mới này thì viêc thực hiện sẽ nằm trong tơng lai không
xa.
2.2.2Thực trạng phân phối trong doanh nghiệp ở Việt nam .
Nền kinh tế việt nam là nền kinh tế quá độ sang kinh tế thị trờng , định
hớng xã hội chủ nghĩa ở việt nam gồm 2 khu vực kinh tế và 3 loại hình
doanh nghiệp đó là doanh ngiệp nhà nớc , doanh nghiệp dân doanh doanh
nghiệp công t hợp doanh đặc trng khu vực kinh tế t nhân. ơ cấu kinh tế thu
rộng rãi các xí nghiệp quốc doanh , chắc chắn các thành phần kinh tế quốc
doanh tập thể phải tự vợt lên để chiến thắng áp lực để cạnh tranh.
15
Ta cần thành phần kinh tế quốc doanh mạnh làm cơ sở cho kinh tế xã
hội để thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động , tiếp theo làm cơ sở
tạo lập một cơ sở hạ tầng cho định hớng xã hội chủ nghĩa.
Phân phôí theo lao động là động lực to lớn thu hút lôi cuốn hàng triệu quần
chúng vào công cuộc kiến tạo xã hội mới .Những vấp váp sai lầm thất bại
không thủ tiêu con đờng thử nghiệm khai phá là điều kiện dĩ nhiên những
bài học từ trong thất bại cũng quý giá không kém phần những bài học
thành công.
Tuy có rất nghiều cố gắng nhng vẫn còn tồn tại một số hạn chế trong
phân phối ở nớc ta hiện nay.Nền kinh tế mang đậm tính chất nông nghịêp
lạc hậu công nghiệp nhỏ bé kết cấu cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật
thấp kém tích luỹ từ nội bộ kinh tế và đầu t phát triển công thấp đồng thời
ta phải đón đầu để hình thành những mũi nhọn phát triển theo trình độ tiên
tiến của khoa học thế giới tạo nền tảng cho sự tăng trởng nhanh hiệu quả
cao và lâu bền của toàn bộ kinh tế.
liên hệ
Malaixia:
nhà t bản ngời hoa và các tổ chức hành chính chính trị ngời mã lai là
những ngời hởng thụ phần lớn thành quả lao độngcủa sự phát tiển kinh tế
nhanh ở những năm 60 . Hậu quả là quan hệ xã hội trở nên hết sức căng
thẳng nhiều phơng pháp chống lại nghèo khổ nhng đem lại cho nhng ngời
nghèo khổ rất ít . Ngời mã lai có rất ít tài nguyên kinh tế ruộng đất không
thu đợc lợi nhuận mặc dù đã cố găng rất nhiều.Bài học khác dù mặc dù
chính sách nghèo khổ đó chính thức đợc quan tâm , nhng sau gần 2 thập kỷ
thực hiện chính sách kinh tế mới không thể đánh giá hiệu quả của chính
sách chống nghèo khổ và cứ tiếp tục áp dụng. Điều này đã dẫn đến những
lo ngại chính sách trên dợc duy trì làm dễ dàng cho việc bảo trợ của Đảng
quan hệ sản xuất của nớc ta. Thực hiện nó có tác dụng thúc đẩy sự phát
triển nhanh của xã hôi đến một giai đoạn cao hơn, văn minh hơn.Đồng thời,
vai trò của nhà nớc ngày càng trở nên quan trọng trong nền kinh tế thị trờng
nhằm định hớng đúng cho sự đi lên của xã hội.
18
19
Danh sách tài liệu tham khảo
-giáo dục với tăng trởng kinh tế và công bằng xã hôi ở Đông á và đông
Nam á
- kinh tế học mác-lenin quyển 3
- mô hình tăng trởng kinh tế và công bằng xã hội, nhà xuất bản đại học
quốc gia Hà Nội-2002
- tạp chí công sản số 24/1997
- tạp chí kinh tế phát triển(số3-tháng 6- 2003)
- tạp chí kinh tế phát triển số 5 tháng 7 2003
- triết học số 8(135)tháng 8-2002
- triết học số 10(141)tháng 10-2000
20