Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Thanh Vân
mở đầu
Trong xu hớng khu vực hoá, toàn cầu hoá, mỗi nớc đều chọn cho
mình một hớng đi thích hợp để cùng tiến tới một mục tiêu kinh tế là: ổn
định và phát triển lâu dài nền kinh tế. Một hớng đi mà nhiều nớc lựa
chọn là Công nghiệp hoá hớng về xuất khẩu. Xét về điều kiện kinh tế
Việt Nam hiện nay còn kém so với các nớc trong khu vực, do đó để
tránh nguy cơ tụt hậu thì Việt Nam cần phải hoàn thành công cuộc
CNH-HĐH đất nớc. Việt Nam là một nớc nông nghiệp, có tới hơn 80%
dân số làm việc trong ngành này, do đó hoạt động xuất khẩu của Việt
Nam ngoài dầu mỏ và than thì chủ yếu là hàng nông sản trong đó mặt
hàng gạo chiếm tỷ trọng lớn nhất của Việt Nam. Và năm 1997 Việt
Nam đã đứng thứ 2 trên thế giới về xuất khẩu gạo. Vì vậy, việc nghiên
cứu, tìm hiểu hoạt động xuất khẩu gạo Việt Nam để từ đó đề ra những
giải pháp thích hợp nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu gạo ở Việt
Nam trong thời gian tới là hết sức cần thiết.
Xuất phát từ thực tiễn đó tôi chọn đề tài Khoá Luận Tốt Nghiệp
của mình là: Một số vấn đề về xuất khẩu gạo của Việt Nam.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung khoá luận gồm 3 ch-
ơng:
Chơng 1: Lợi thế và điều kiện phát triển sản xuất và xuất khẩu
gạo ở Việt Nam.
Chơng 2: Thực trạng của xuất khẩu gạo của Việt Nam trong
những năm gần đây.
Chơng 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động xuất
khẩu gạo của Việt Nam.
Do trình độ và kinh nghiệm thực tế còn hạn chế nên Khoá luận tốt
nghiệp này không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong đợc sự quan
tâm và góp ý của các thầy giáo, cô giáo cùng các bạn.
Sinh viên: Phạm Thị Thanh Vân
Chơng 1
nghề trồng lúa ở Việt Nam. Số ngày ma lý tởng 120-140 ngày trong
một năm ở hai đồng bằng lớn, không chỉ cung cấp cho lúa nguồn nớc
trời phú quý giá mà còn bồi bổ cho lúa một nguồn đạm tự nhiên dễ hấp
thụ. Ngoài ra hệ thống thuỷ lợi nớc ta với 10% ngân sách nhà nớc đầu t
hằng năm đã đạt đợc những thành quả đáng mừng. Với trị giá tài sản
khoảng 25.800 tỷ đồng cơ sở vật chất kỹ thuật của hệ thống thuỷ lợi đã
tạo ra tổng năng lực tới cho 3 triệu hecta canh tác và năng lực tiêu cho
1,4 triệu hecta. Hơn nữa Việt Nam còn sở hữu một hệ thống sông, hồ,
kênh rạch phong phú phù hợp với cây lúa nớc, thuận lợi cho thu hoạch,
vận chuyển và thực hiện xuất khẩu gạo.
Sự u việt của tài nguyên nớc có ý nghĩa quyết định cho việc thâm
canh, tăng vụ thắng lợi và giảm giá thành sản phẩm nông sản. Lợi thế
của tài nguyên nớc còn có ý nghĩa đặc biệt cho tài nguyên đất phát huy
đợc đầy đủ trong quá trình sản xuất nông nghiệp và trồng lúa.
Thực tế gạo là một sản phẩm mà không phải nớc nàơ cũng có thể
sản xuất và cung cấp ra thị trờng thế giới. Ngoài lợi thế về đất đai và
nguồn nớc ra,Việt Nam còn có khí hậu nhiệt đới gió mùa rất phù hợp
cho hai vựa lúa của Việt Nam là ĐBSH và ĐBSCL có điều kiện lý tởng
trồng cây lúa nớc, cùng với sự kết hợp chặt chẽ các yếu tố khí hậu nh:
nhiệt độ, độ ẩm, lợng ma cũng nh nắng gió. Điều kiện khí hậu u đãi
hiếm có này còn là lợi thế tuyệt vời cho phép ở ĐBSCL và ĐBSH sản
xuất lúa quanh năm (3 vụ) trên diện rộng và thích nghi với nhiều giống
lúa cao sản, lúa đặc chủng có năng suất cao. Lợi thế này tạo cho Việt
Nam những bớc đột phá trong sản xuất và xuất khẩu gạo.
1.2. Về lao động.
Trong điều kiện kinh tế Việt Nam, nông nghiệp và nông thôn là
khu vực tạo việc làm chủ yếu.Với dân số 78 triệu ngời, trong đó 75%
dân số sống ở nông thôn và 50% dân số ở trong độ tuổi lao động, Việt
Nam có nguồn lao động dồi dào, giá nhân công rẻ . Đây là một lợi thế
đối với việc sản xuất và xuất khẩu gạo ở nớc ta. Lực lợng lao động ở
thực tế chuyên chở gạo bằng đòng biển Việt Nam có nhiều lợi thế nổi
bật. Đòng biển nớc ta hình chữ S, dài trên 3000 km suốt từ Bắc
Trung - Nam, nớc ta có nhiều cảng thuận lợi nh: Cửa Ông, Hải phòng,
Đà Nẵng, Vũng Tàu, Sài Gòn Hệ thống hải cảng Việt Nam nói chung
đều nằm sát đờng hàng hải quốc tế và có thể hành trình theo tất cả các
tuyến đờng đi Đông Bắc á, Đông Nam á, Thái Bình Dơng, Trung Cận
Đông, Châu á, Châu Phi, Châu Mỹ. Vì vậy Việt Nam có cơ hội để đảm
4
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Thanh Vân
bảo thời gian và giá cớc phí vận chuyển gạo xuất khẩu tơng đơng so
với nớc khác.
1.4. Về thể chế, chính sách.
Xuất khẩu của Việt Nam nói chung và xuất khẩu gạo nói riêng
phát triển một cách mạnh mẽ đó là nhờ nền chính trị ổn định và chính
sách kinh tế hợp lí. Chính sách mở cửa nền kinh tế đã mở rộng quan hệ
kinh tế quốc tế giữa Việt Nam và thế giới, với mọi quốc gia và tổ chức
kinh tế quốc tế. Điều đó tạo cơ hội cho hoạt động xuất khẩu gạo của
Việt Nam có thêm những bạn hàng mới. Nhà nớc luôn có những chính
sách khuyến nông, chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất lơng thực và
xuất khẩu nh thởng kim ngạch xuất khẩu, hỗ trợ lãi suất vay ngân hàng,
thởng thành tích xuất khẩu, hỗ trợ xúc tiến thơng mại nhằm nâng cao
hơn nữa giá trị kim ngạch xuất khẩu, khối lợng gạo xuất khẩu ra thị tr-
ờng quốc tế, nhất là trong điều kiện hội nhập kinh tế khu vực và thế
giới.
Năm 2001-2002, thực hiện chính sách thởng kim ngạch xuất
khẩu, hỗ trợ lãi suất vay ngân hàng đã góp phần làm tăng số lợng gạo
xuất khẩu, giúp nông dân tiêu thụ đợc sản phẩm, giá gạo đã tăng khiến
cho ngời dân yên tâm hơn trong sản xuất. Bên cạnh đó nhờ các cơ chế,
chính sách khuyến khích xuất khẩu, các Doanh nghiệp xuất khẩu đã
giảm bớt khó khăn về tài chính. Trong năm 2001, Quỹ Hỗ trợ Xuất
thị trờng gạo hấp dẫn. Nhập khẩu gạo Châu á vào Châu Phi ngày một
tăng và tiếp tục tăng hơn nữa. Châu á là nơi sản xuất lợng gạo nhiều
nhất, chiếm 79% trong đó Trung Quốc chiếm 34%, ấn Độ chiếm gần
20%, Inđônêsia chiếm 8 9%.
Nhu cầu nhập khẩu gạo thực chất còn phụ thuộc vào khả năng
thanh toán hạn hẹp của bản thân những nớc nghèo ở Trung Đông và
Châu Phi, vì đây là những nớc nhập khẩu gạo với số lợng lớn. Tính đến
cuối năm 1999 có 52 triệu dân ở 35 nớc bị thiếu lơng thực nghiêm trọng
do ảnh hởng của thiên tai và do các thảm hoạ do con ngời gây ra.
Năm 2000 nớc nhập khẩu gạo lớn nhất vẫn là Inđônêsia- khoảng
2 triệu tấn- mặc dù giảm còn một nửa so với năm trớc. Nhập khẩu gạo
của Philippin cũng giảm so với mức 1 triệu tấn năm 1999. Bănglađét là
nớc nhập khẩu gạo lớn. Năm 1998 nớc này đã nhập 2,5 triệu tấn sau khi
bị lũ lụt nặng nề. Iran là nớc 2 năm liên tiếp bị hạn hán đã phải nhập
khẩu gạo với khối lợng khá lớn- 1 triệu tấn.
Trong năm 2000, sản lợng tăng mạnh sau cải cách thị trờng nội
địa đã làm cho Việt Nam trở thành một trong số các nớc xuất khẩu gạo
lớn nhất thế giới.
6
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Thanh Vân
Sang năm 2001, theo số liệu thống kê nhu cầu nhập khẩu gạo thế
giới chỉ đạt 23,3 triệu tấn, thấp hơn chút ít so với năm 2000. Nhập khẩu
tăng mạnh ở Trung Đông, Châu Phi và vài nớc Châu á do thời tiết xấu,
điều này giúp cho giá gạo xuất khẩu ở các nớc Châu á đợc lợi. Những
nớc nhập khẩu lớn năm 2002 là Iran, Ni-giê- ria, ả-Rập-XêUt, Irắc,
Philippin, Nhật Bản. Bảy nớc này nhập khẩu tới 6,42 triệu tấn, chiếm
27,5% lợng gạo giao dịch thế giới. Điều khá ngạc nhiên là giá gạo tăng
trong khi nguồn cung lại khá dồi dào. Các nhà kinh doanh giải thích
rằng giá gạo đợc nâng đỡ bởi các thơng nhân đang tranh giành mua gạo
để thanh toán các hợp đồng đã ký trớc đó. Năm 2001 Việt Nam trúng
đổi dầu lấy lơng thực, Irắc sẽ nhập 900 nghìn tấn gạo, chủ yếu mua của
4 nớc: Thái Lan, Việt Nam, Ai Cập và Pakixtan. Trong đó riêng Việt
Nam chiếm tới 500 nghìn tấn.
Hiện nay trên thế giới, gạo xuất khẩu của Việt Nam chiếm 15 -
18% thị phần thế giới. Với xu thế phát triển của nền nông nghiệp, Việt
Nam sẽ đáp ứng đợc nhu cầu nhập khẩu gạo của các nớc trên thế giới.
Tuy nhiên trong bối cảnh cạnh tranh bám đuổi mạnh mẽ giữa các nớc
thì việc tăng thêm thị phần trong thời kỳ tới là một thách thức lớn đối
với Việt Nam.Ch
Ch
ơng 2
ơng 2Thực trạng xuất khẩu gạo của
Thực trạng xuất khẩu gạo của
Việt Nam trong những năm gần đây
Việt Nam trong những năm gần đây
2.1. Sản lợng và kim ngạch xuất khẩu gạo.
Lúa là cây lơng thực chính của Việt Nam, từ khi đổi mới (1986)
đến nay (2002) sản xuất lúa tăng trởng liên tục cả diện tích, năng suất
và sản lợng. Năm 1986, diện tích gieo trồng lúa chỉ có 5688,6 nghìn ha,
năng suất bình quân 28,1 tạ/ha/vụ và sản lợng là 16,9 triệu tấn thì đến
năm 2002 con số tơng ứng là: 7463 nghìn ha, 45,1ta/ha và 35,9 triệu
tấn. Xu hớng này còn tiếp tục tăng trong những năm tới vì tiềm năng
tăng năng suất vẫn còn. Tốc độ tăng sản lợng lơng thực luôn luôn cao
hơn tốc độ tăng dân số, nên lơng thực bình quân đầu ngời của Việt Nam
Do sản xuất tăng nhanh và ổn định, mức sản xuất lúa gạo liên tục
tăng nên trong 14 năm xuất khẩu gạo, sản lợng và kim ngạch xuất khẩu
gạo của Việt Nam ngày càng tăng nhanh hơn. Điều đó đợc thể hiện
trong bảng sau:
9
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Thanh Vân
Bảng 2: Sản lợng và kim ngạch xuất khẩu gạo của Việt Nam từ 1989-
2002.
Năm Sản lợng xuất khẩu Kim ngạch xuất khẩu
Sản lợng
( triệu tấn)
Thay đổi so
với năm tr-
ớc( %) .
Kim ngạch
(triệu USD)
Thay đổi so
vối năm tr-
ớc(%),
1989 1,420 __ 290,0 __
1996 3,003 +51,05 868,4 +63,82
1999 4,550 +19,74 1.012,0 - 1,84
2000 3,500 - 23,08 668,0 - 33,99
2001 3,729 +6,54 624,4 - 6,48
2002 3,24 - 13,11 725,5 +16,12
( Nguồn: Tổng cục thống kê - Bộ Thơng mại)
Năm 1989, Việt Nam chính thức tham gia vào thị trờng lúa gạo
thế giới với số lợng khá lớn là 1,4 triệu tấn, thu về 290 triệu USD, giá
bình quân 204 USD/tấn. Tuy sản lợng gạo xuất khẩu cha nhiều, giá còn
trớc đến nay, nhng xét về kim ngạch lại giảm 2%, xảy ra điều này là do
trong năm 1999 các nớc nhập khẩu gạo truyền thống hạn chế khối lợng
nhập khẩu, do đó làm cho giá gạo xuất khẩu trên thị trờng thế giới giảm
xuống thấp. Chính điều đó đã làm cho giá trị xuất khẩu gạo của Việt
Nam giảm.
Sang năm 2000, thời tiết diễn biến phức tạp, thiên tai lũ lụt xảy ra
ở nhiều nơi trên phạm vi cả nớc, đặc biệt là ĐBSCL nhng nhờ có sự chỉ
đạo và điều hành sát sao của Chính Phủ, của các cấp, các ngành cùng
với sự nỗ lực của nhân dân các địa phơng nên nhìn chung sản xuất nông
nghiệp nói chung và sản xuất lơng thực nói riêng nhanh chóng đợc khôi
phục và đạt kết quả khá, đời sống nhân dân sớm đi vào ổn định. Theo
đánh giá của Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn, tổng sản lợng
lúa cả nớc năm 2000 vẫn đạt 32,6 triệu tấn, tăng gần 1,2 triệu tấn so với
11
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Thanh Vân
năm 1999, điều này đa nguồn cung gạo cho xuất khẩu vẫn duy trì ở
mức cao 3,5 triệu tấn. Hơn nữa cuộc khủng hoảng tài chính trong khu
vực và cuộc khủng hoảng dầu lửa trong năm 2000 đã ảnh hởng phần
nào đến nhịp độ buôn bán các mặt hầng nguyên liệu thô trong đó có
gạo. Các tác động này đã làm giá gạo trên thị trờng thế giới bắt đầu
giảm xuống từ đầu năm, cho đến cuối năm xuất khẩu gạo của Việt Nam
so với năm 1999 đã bị giảm đi 16% về giá, hạ kim ngạch xuất khẩu gạo
2000 xuống còn 668 triệu USD (giảm 34% so với năm 1999). Tuy
nhiên cũng cần phải kể đến một nguyên nhân nữa làm giảm giá gạo trên
thế giới đó chính là ngành gạo của các nớc nhập khẩu gạo lớn nh:
Inđônêsia, Philippin, Trung Quốc đang dần dần phục hồi sau 2 năm
mất mùa vì biến động thời tiết, các nớc này đều tuyên bố có khả năng
tự cung cấp tự cấp gạo.
Năm 2001 xuất khẩu gạo đạt trên 3,7 triệu tấn, trợ giá hơn 600
triệu USD, măc dù tăng khoảng 7% về lợng song cũng là thành công vì
Việt Nam :
Bảng 3: Kim ngạch xuất khẩu gạo trong tổng kim ngạch xuất khẩu.
Năm
Năm
KNXK
KNXK
(triệu USD)
(triệu USD)
KNXK Gạo (triệu
KNXK Gạo (triệu
USD)
USD)
Tỷ trọng (%)
Tỷ trọng (%)
1990
2.404
2.404
304,6
304,6
13
13
1997
1997
9.185
9.185
900,0
900,0
9,8
9,8
4,2
4,2
2002
2002
16.530
16.530
725,5
725,5
4,4
4,4(
(
n
n
guồn:
guồn:
b
b
ộ Th
ộ Th
ơng mại )
ơng mại )
Từ bảng 3 cho thấy, trong những năm 90 kim ngạch xuất khẩu
gạo luôn chiếm một tỷ trọng tơng đối (khoảng 8-12%) trong tổng kim
ngạch xuất khẩu của cả nớc. Có đợc kết quả đó là do Việt Nam đã xuất
khẩu gạo với số lợng tơng đối lớn cùng với giá cả khá cao. Nhng qua
bảng trên ta thấy rằng tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu gạo từ năm 2000
13
1995 1,988 21,000 9,4
1998 3,800 25,600 14,8
1999 4,550 25,100 18,2
2000 3,500 22,300 15,7
2001 3,729 24,453 15,2
2002 3,240 24,949 13,0
(Nguồn: Tổng cục thống kê)
Ngay từ những năm đầu xuất khẩu gạo, Việt Nam đã chiếm một
thị phần khá trong tổng lợng gạo mậu dịch thế giới, thị phần gạo xuất
khẩu của Việt Nam cũng tăng dần theo nhu cầu thế giới qua các năm.
Nhu cầu gạo trên thế giới ngày càng tăng do chịu ảnh hởng chính tác
14
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Thanh Vân
động của yếu tố thời tiết, các điều kiện kinh tế và tốc độ tăng dân
số.Thị phần của Việt Nam tăng từ 8,1% năm 1991 tới 18% năm 1999
và năm 2002 là 13%. Trong thời gian đầu do gạo Việt Nam vẫn còn xa
lạ so với thị trờng quốc tế vì vậy thị phần cha cao. Những năm gần đây,
gạo Việt Nam đã tạo đợc tên tuổi bằng cách giữ vững vị trí nớc xuất
khẩu thứ 2 trên thị trờng thế giới, do đó thị phần tăng lên đáng kể. Đặc
biệt năm 1999 do hậu quả của hiện tợng El nino mà lợng gạo mậu dịch
trên thế giới đạt mức kỷ lục là 25 triệu tấn trong đó thị phần của Việt
Nam đạt mức cao nhất là 18%. Hiện nay lợng gạo giao dịch trên thế
giới vẫn duy trì ở mức cao (23 24 triệu tấn), trong đó thị phần của
Việt Nam vẫn chiếm một tỷ trọng khá, và ổn định qua các năm.
Thị trờng xuất khẩu gạo lớn nhất của Việt Nam vẫn là khu vực
Châu á, kế đến là Châu Phi và Châu Mỹ. Cơ cấu thị trờng gạo Việt
Nam đợc thể hiện qua bảng sau:
Bảng 5: Cơ cấu giá trị kim ngạch phân theo thị trờng.
( Đơn vị tính %)
Khu vực 1990 1995 1998 1999 2000 2001 2002
khó tính nhng lại đầy tiềm năng nh Nhật Bản.
Năm 1998 là năm thị trờng lúa gạo quốc tế biến động lớn do 2
nguyên nhân: Hiện tợng El nino và khủng hoảng tiền tệ Châu á. Trong
năm 1998 cũng một phần từ ảnh hởng của El nino làm cho nhu cầu
nhập khẩu gạo thế giới tăng, Việt Nam lần đầu tiên đã đạt kim ngạch
xuất khẩu gạo vợt ngỡng 1 tỉ USD. Sang năm 1999, thị trờng xuất khẩu
gạo của ta tiếp tục đợc mở rộng so với năm 1998, trong đó có thể kể
đến các thị trờng trớc đây và trong năm 1998 không nhập khẩu hoặc
nhập khẩu ít nh: BaLan, các Tiểu Vơng Quốc ả Rập thống nhất, Tây
Ban Nha, Thổ Nhĩ Kỳ, Inđônêsia vẫn là thị trờng xuất khẩu chủ yếu cho
gạo Việt Nam, với lợng gạo xuất khẩu vào thị trờng này đạt gần 1,15
triệu tấn trong năm 1999, chiếm 42,5% lợng gạo nhập khẩu của nớc
này và một trong những nớc nhập khẩu gạo nhiều nhất thế giới. Cũng
trong năm này nớc ta xuất khẩu gạo vào Iran và Irắc khoảng 2,6%, vào
thị trờng Châu Phi chiếm 23,67% tổng lợng gạo nhập khẩu.
Trong năm 2000, cơ cấu thị trờng xuất khẩu gạo của Việt Nam
vẫn ổn định, các thị trờng lớn vẫn nhập khẩu gạo đó là: Philippin,
Inđônêsia, Malaysia và Hồng Kông. Trong đó thị trờng nhập khẩu gạo
lớn nhất là Irắc, riêng tháng 11 năm 2000 ta xuất sang Irắc 57,5 nghìn
tấn gạo. Cũng trong tháng này, thị trờng mới xuất khẩu gạo là Thổ Nhĩ
Kỳ (22 tấn).
Năm 2001, công việc tìm hiểu và mở rộng thị trờng đợc thực hiện
khá thành công, nhiều đoàn công tác cấp Chính Phủ, cấp Bộ đã đợc cử
đi các thị trờng Đông Nam á, Châu Phi, Trung Đông, Châu Mỹ Kết
quả là nhiều thoả thuận Chính phủ về xuất khẩu gạo đã đợc ký, các hiệp
định thơng mại đợc ký với một số nớc nhập khẩu gạo lớn ở Châu Phi.
Đây cũng chính là cơ sở pháp lý, tạo điều kiện thuận lợi cho các Doanh
nghiệp xuất khẩu của ta thâm nhập vào các thị trờng tiềm năng này, qua
đó đẩy mạnh việc xuất khẩu trực tiếp tới các nhà nhập khẩu của họ.
16
thế giới .
2.3.1. Về chất lợng.
Mặc dù gạo xuất khẩu của Việt Nam đợc xếp vào hàng Top
ten một số mặt hàng nông sản nhng đó chỉ là về phơng diện sản lợng.
Thực tế giá trị xuất khẩu của mặt hàng gạo so với sản phẩm cùng loại
17
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Thanh Vân
của nhiều nớc khác thì vẫn ở mức thấp. Có thể thấy rằng thách thức lớn
nhất đối với gạo xuất khẩu của Việt nam là chất lợng và công nghệ chế
biến. Chất lợng gạo đợc đánh giá theo tỷ lệ tấm trong gạo và kỹ thuật
đánh bóng. Hiện tại trong cơ cấu sản xuất gạo chất lợng cao của ta còn
ít chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong sản lợng, do đó mới chỉ đáp ứng đ-
ợc nhu cầu xuất khẩu. Trong cùng thời gian Thái Lan xuất khẩu gạo
phẩm cấp cao thờng chiếm tới 60 62% còn Việt Nam chỉ ở 40
45% tổng lợng gạo xuất khẩu. Chính vì hạn chế này mà gạo Việt Nam
cha vào đợc các thị trờng cao cấp mà gạo Mỹ, Thái Lan đang chiếm
lĩnh.
Bảng 6: Phân loại chất lợng gạo xuất khẩu của Việt Nam.(%)
Loại gạo
Năm
Phẩm cấp cao
(5-10% tấm)
Phẩm cấp
trung bình
(15-20% tấm)
Phẩm cấp
thấp
(>25% tấm)
Tổng
số
và Châu á, nơi có nhu cầu gạo phẩm cấp thấp, còn gạo phẩm cấp cao là
thể hiện sự nhạy bén của Việt Nam theo nhu cầu thế giới. Từ những con
số trong bảng ta có thể thấy đợc những tiến bộ của ngành sản xuất lúa
gạo nói chung, lĩnh vực xuất khẩu gạo nói riêng, điều đó đợc chứng
minh qua chất lợng gạo xuất khẩu của Việt Nam ngày càng đợc cải
thiện tốt hơn.
Chúng ta đều biết chất lợng gạo có liên quan đến hàng loạt các
yếu tố từ khâu sản xuất đến khâu bảo quản, vận chuyển và chế biến thì
ở Việt Nam đa số nông dân có tập quán phơi mớ và kéo dài thời gian
thu hoặch khiến hạt lúa dễ hút ẩm vào ban đêm, làm cho phân tử nớc
hấp thu mặt ngoài của tinh thể bột sẽ chịu một lực cản không đều, dẫn
đến hiện tợng nứt hạt gạo.
Ngoài ra trong quá trình tuốt lúa, lực va chạm của hạt gạo quá
khô vào khung máy tuốt cũng tạo điều kiện cho hiện tợng nứt hạt gạo
xảy ra ở tần suất lớn; tỷ lệ thóc thất thoát do không đợc làm khô và bảo
quản kịp thời vào khoảng 10 - 15% thậm chí tới 15 - 20% khi thu hoặch
vào vụ ma.
Thiết bị và công nghệ chế biến gạo thì phần lớn là lạc hậu, ít đầu
t cải tiến, chi phí sản xuất cao, chất lợng thành phẩm thấp; ở các tỉnh
phía Bắc hiện có 278 cơ sở xay xát gạo quốc doanh, trong đó có 4 nhà
máy công suất 60 tấn/ca, 46 nhà máy công suất 15 - 30 tấn/ca và 13000
cơ sở xay xát ngoài quốc doanh qui mô 3 - 5 tấn/ca. Còn ở các tỉnh phía
Nam hiện có khoảng 348 cơ sở xay xát gạo quốc doanh và trên 30.000
cơ sở t nhân. Trong khi đó, gạo xuất khẩu cần phải có các cơ sở xay xát
19
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Thanh Vân
lớn nhất (các cơ sở này có khả năng làm từ khâu đầu đến khâu cuối gạo
xuất khẩu, tức là từ xay xát đến làm bóng) thì số lợng lại thật khiêm
tốn. Còn lại là các cơ sở nhỏ chỉ làm công việc xay xát lại chiếm đa
số.Có thể khẳng định, hiện nay, công nghệ thiết bị chế biến gạo của nớc
gạo, sự biến động về giá cũng khác nhau, giá cả biến động còn phụ
20
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Thanh Vân
thuộc vào thời vụ. Giá gạo của thế giới trong những năm qua thờng
xuyên biến động, do đó giá gạo Việt Nam cũng có xu hớng dao động
theo giá cả của thị trờng thế giới. Mặc dù chúng ta đạt kết quả cao trong
xuất khẩu gạo nhng hiệu quả cha cao. Giá gạo của Việt Nam thờng thấp
hơn so với giá gạo xuất khẩu bình quân trên thế giới (FOB - Thái Lan).
Trong 5 năm qua giá gạo bình quân của Việt Nam là 262,6 USD/tấn,
còn của Thái Lan bán cùng kỳ là 295 USD/tấn. Nh vậy giá gạo của Thái
Lan luôn cao hơn giá gạo của Việt Nam 10 13%, nhng không phải
do Việt Nam tự động hạ giá mà buộc phải chấp nhận mức giá thấp,
cách biệt khá xa so với mặt hàng gạo quốc tế vì cha đáp ứng đợc các
tiêu chuẩn nghiêm ngặt của thị trờng nh: chất lợng sản phẩm còn thấp
và không đồng đều, cơ sở hạ tầng phụcvụ xuất khẩu gạo vừa thiếu vừa
kém, năng lực bốc xếp thấp, chi phí cao, thiếu ổn định trong việc cung
ứng hàng. Bảng dới đây cho thấy sự thua thiệt về gía gạo xuất khẩu của
Việt Nam so với Thái Lan.
Bảng7: Giá gạo của Việt Nam và Thái Lan trên thị trờng thế giới.
(Đơn vị: USD/tấn).
Năm Giá FOB Thái
Lan- loại 5%
tấm
Giá FOB Việt
Nam- loại 5%
tấm
Chênh lệch
1989 311 236 - 75
1997 265 245 - 20
1998 285 270 -15
gạo xuất khẩu của Việt Nam thấp hơn các nớc láng giềng.
Một trong những nguyên nhân chính của sự chênh lệch giữa giá
gạo Thái Lan và giá gạoViệt Nam vẫn là yếu tố chất lợng. Giá gạo Việt
Nam cũng tăng dần cùng xu hớng tăng của chất lợng gạo và quan hệ
cung cầu với thị trờng lúa gạo thế giới. Khoảng cách giữa giá gạo Việt
Nam với giá gạo Thái Lan đã giảm dần: từ 40 - 55 USD/tấn những năm
1989 - 1994 xuống còn 20 - 25 USD/tấn những năm 1995 - 2000. Năm
1998 do đồng Batt Thái Lan mất giá, nên giá gạo Việt Nam đã tiếp cận
giá gạo Thái Lan. Do nhu cầu giảm so với cùng kỳ năm 1998 giá thị tr-
ờng thế giới năm 1999 luôn ở mức thấp, vì vậy nên giá gạo xuất khẩu
của Việt Nam không cao, giá xuất khẩu cả năm trung bình chỉ ở mức
xấp xỉ 221 USD/tấn. Đây là mức giá thấp nhất so với giá trung bình từ
năm 1995 trở lại đây.
Sang năm 2000 tổng lợng xuất khẩu đạt 3,5 triệu tấn, tổng kim
ngạch đạt 668 triệu USD, so với năm 1999 thì lợng giảm 1,17 triệu tấn
và giá trị giảm 360 triệu USD. Với kết quả xuất khẩu nh trên, tính toán
cho thấy giá xuất khẩu bình quân năm 2000 đạt 188 USD/tấn, thấp hơn
22
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Thanh Vân
mức giá bình quân năm 1999 là 3USD/tấn và năm 1998 tới trên
87 USD/tấn. Nguyên nhân là do lợng gạo giao dịch trên thị trờng thế
giới giảm liên tục từ 25 triệu tấn năm 1999, xuống còn 22,3 triệu tấn
năm 2000. Sự sút giảm liên tục nh vậy đã làm cho giá thị trờng gạo thế
giới giảm mạnh và cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn.
Cuối năm 2000 và đầu năm 2001 giá gạo thế giới liên tục giảm,
nhng bắt đầu tăng từ tháng 6 đến tháng 11 năm 2001. Cụ thể giá gạo
FOB tại Việt Nam vào tháng 5/2001, loại 5% tấm là 158 USD/tấn, loại
25% tấm là 137 USD/tấn. Song từ tháng 8/2001giá gạo Việt Nam đột
ngột tăng, lần đầu tiên kể từ nhiều năm nay giá gạo Việt Nam đắt hơn
giá gạo Thái Lan trên thị trờng quốc tế, giá gạo 5% tấm của Việt Nam
Trong những năm đầu của công cuộc đổi mới đất nớc, Việt Nam
còn gặp nhiều khó khăn và thử thách vì vậy chơng trình xuất khẩu gạo
của ta chủ yếu là đổi hàng và trả nợ, còn bán theo phơng thức thanh
toán L/C chỉ ở mức độ nhỏ, do đó khả năng cạnh tranh trên thị trờng thế
giới của Việt Nam thời gian này rất kém.
Qua nhiều năm xuất khẩu gạo phơng thức thanh toán có nhiều
tiến bộ, phơng thức L/C dần chiếm tỷ trọng cao hơn và đã trở thành ph-
ơng thức thanh toán chủ yếu. Điều đó đã từng bớc nâng cao khả năng
cạnh tranh của gạo Việt Nam trên trờng quốc tế.
Do khó khăn về thị trờng, bạn hàng và giá cả nên trong những
năm đầu Việt Nam quay lại thị trờng xuất khẩu thì phơng thức đổi hàng
vẫn còn chiếm tỷ trọng không nhỏ. Tuy nhiên trong nhiều trờng hợp
hiện tợng này lại có tác dụng quan trọng đôí với Doanh nghiệp để có
chỗ đứng trên thị trờng gạo thế giới. Đến năm 1994 - 1995 thì hai ph-
ơng thức thanh toán trực tiếp và đổi hàng không còn nữa mà thay vào
đó là hình thức thanh toán qua L/C, gần nh chiếm tỷ trọng tuyệt đối.
Hiện nay trong phạm vi quy định chung của Nhà nớc, phơng thức
kinh doanh và thanh toán đợc vận dụng linh hoạt ở tầm Doanh nghiệp,
đảm bảo nguyên tác thu hồi vốn và kinh doanh có hiệu quả. Hiệp Hội
Xuất khẩu lơng thực Việt Nam cảnh báo, các Doanh nghiệp tham gia
vào thị trờng gạo thế giới muốn làm ăn có lãi và tránh thua thiệt thì cần
phải có phơng thức kinh doanh và thanh toán linh hoạt, đa dạng.
Phơng thức thanh toán của hoạt động xuất khẩu gạo Việt Nam
hiện nay khá đa dạng và linh hoạt cụ thể là: bán trả chậm, đại lý, gửi
bán, đổi hàng, tham gia đấu thầu bán lẻ cho các siêu thị, hợp tác liên
doanh với ngời tiêu thụ. Kết quả đó đã có tác động tích cực đến hoạt
động xuất khẩu gạo của nớc ta.
Trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt nh hiện nay trên thị trờng gạo
quốc tế, các Doanh nghiệp xuất khẩu gạo của Việt Nam đã luôn linh
24
gạo đợc linh hoạt hơn.
Nhiều năm qua đầu mối xuất khẩu gạo là một điểm nóng trong
hoạt động xuất khẩu gạo. Thời gian đầu, nhiều Doanh nghiệp nhà nớc
tìm mọi cách để đợc trực tiếp xuất khẩu gạo. Nhiều hoạt động tranh
mua tranh bán trong nớc thơng nhân nớc ngoài lợi dụng để ép giá, ép
cấp gây tổn hại lợi ích quốc gia trong xuất khẩu gạo. Nhằm khắc phục
25