Đề án môn học Nguyễn Văn Thanh KTQT40
Lời nói đầu
Một trong những sự kiện lớn nhất xảy ra trong những năm cuối cùng của
thế kỷ XX là cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ Châu á năm 1997. Cuộc
khủng hoảng này đã gây ra những tác hại nghiêm trọng tới nền kinh tế chính
trị của hàng loạt các nớc trong khu vực, nó cũng làm đảo lộn đời sống xã hội
của hàng trăm triệu ngời dân, hậu quả của cuộc khủng hoảng này đợc so sánh
với những cuộc chiến tàn khốc cho dù không có cảnh đổ nát nào.
Cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ bắt đầu ở Thái Lan, sau đó lan
sang các nớc Đông Nam á khác, khu vực Đông Bắc á và cuối cùng ảnh h-
ởng đến hầu hết các khu vực trên thế giới. Cuộc khủng hoảng khởi đầu từ
lĩnh vực tài chính tiền tệ, tiếp theo là toàn bộ nền kinh tế và ảnh hởng sâu
sắc tới các lĩnh vực chính trị xã hội mà hậu quả của nó cho tới nay ngời ta
vẫn nhận thấy rõ ràng.
Tuy cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ đã đi qua và nền kinh tế của
các nớc đang phục hồi nhanh chóng hơn sự mong đợi của các chuyên gia
kinh tế cũng nh của mọi ngời, nhờ sự nỗ lực của chính phủ các nớc trong
khu vực cũng nh các tổ chức quốc tế nhng việc xem xét lại cuộc khủng
hoảng này một cách tỷ mỷ và khách quan có thể giúp cho các nhà quản lý
nhiều bài học kinh nghiệm quý báu, đặc biệt là đối với các nớc có tốc độ
tăng trởng kinh tế nhanh hàng đầu thế giới nh các nớc Đông Nam á.Từ đó
thấy đợc tác động của nó đến nền kinh tế Việt Nam , đặc biệt đến FDI vào
Việt Nam .
Từ những điều đã nêu, dựa vào những tài liệu, em đã tổng hợp và phân
tích về cuộc khủng hoảng thành đề án cho môn học nhằm giúp cho mọi ng-
ời có các nhìn chính xác và sâu sắc hơn về cuộc khủng hoảng vốn không xa
lạ gì với ngời dân Châu á. Do còn thiếu nhiều tài liệu nghiên cứu cũng nh
khả năng tổng hợp, phân tích còn hạn hẹp nên đề án không thể tránh khỏi
những sai sót, em mong nhận đợc sự hớng dẫn, gợi ý từ các thầy cô.
Hà Nội, 12/2001
1
2
Đề án môn học Nguyễn Văn Thanh KTQT40
của nớc ngoài ở các nớc này chảy ra khỏi các nền kinh tế nh xe xuống dốc
không phanh.
Hàn quốc một quốc gia thuộc khu vực Đông Bắc á và có nền kinh tế
đứng thứ 11 trên thế giới. Cuộc khủng hoảng này làm cho nhiều tập đoàn
then chốt của Hàn quốc bị phá sản nh tập đoàn thép Hanbô phá sản với
khoản nợ 6tỉ USD, thị trờng cổ phiếu và đồng Won bị mất giá mạnh nền
kinh tế Hàn Quốc lâm vào tình trạng suy thoái nặng nề, kết thúc thời kỳ hơn
30 năm phát triển kỳ diệu của nền kinh tế sông Hàn.
Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ '' gõ cửa " nền kinh tế Hàn Quốc
cũng có nghĩa là phạm vi lan truyền và ảnh hởng của nó không còn nằm
trong khuôn khổ các nớc Đông Nam á mà đã lan sang các nớc Đông Bắc á
cũng nh toàn châu á và thế giới. Nhật Bản nớc có nền kinh tế đứng thứ hai
trên thế giới cũng gặp nhiều khó khăn trong hệ thống tài chính tiền tệ, đồng
Yên mất giá so với đong đô la Mỹ đã làm ảnh hởng không nhỏ tới đời sống
nhân dân. Tốc độ tăng trởng của châu á chỉ đạt 1,9% năm 98 thấp hơn nhiều
so với tốc độ tăng trởng trung bình hơn 7% của những năm đó.
Cuộc khủng hoảng không còn riêng trong lĩnh vực kinh tế mà đã lan
sang các lĩnh vực chính trị, xã hội khác. Inđônêxia những cuộc biểu tình do
sinh viên dẫn đầu đã buộc tổng thống Suhactô phải từ chức và tháng 5/98
làn sóng li khai bùng lên mạnh mẽ, điển hình là đảo Đông Ti Mo của
Inđonêxia, một số đảo của Philipin cũng diễn ra tình trạng tơng tự, đi theo
cuộc khủng hoảng là các tệ nạn xã hội vốn đã không ít ở các nớc đang phát
triển nh Đông Nam á nạn cớp dật, mại dâm trộm cắp tăng lên nhanh
chóng, số ngời tự tử không phải là ít. Tóm lại, cuộc khủng hoảng tài chính
tiền tệ châu á là một ttrong những sự kiện gây ra hậu quả tai hại nhất trong
những năm cuối cùng của thế kỷ XX. Theo ớc tính thì thiệt hại do cuộc
khủng hoảng là hơn 400 tỉ USD cho các nớc.
3
khó dự đoán và phát triển những mầm mống lây nhiễm rộng và sâu hơn, đe
4
Đề án môn học Nguyễn Văn Thanh KTQT40
doạ kéo theo những tổn thất lớn và đòi hỏi những phối hợp quốc tế mạnh mẽ,
rộng lớn hơn, đồng bộ hơn và dĩ nhiên là với chi phí lớn và khắc phục hậu quả
lâu so với các cuộc khủng hoảng thông thờng khác. Điều này cho thấy sự gia
tăng ngày càng cao về mức độ tơng tác lẫn nhau cũng nh ý nghĩa của các sự
kiện, các vấn đề kinh tế của mỗi nớc tuỳ thuộc vào vị thế của chúng trong bối
cảnh nền kinh tế đang vận động theo hớng tự do hoá và toàn cầu hoá.
5
Đề án môn học Nguyễn Văn Thanh KTQT40
Phần II
Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng
và một số giải pháp
I. nguyên nhân của cuộc khủng hoảng
Cho đến tháng 12/1998 cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở Châu á đã
lan tràn với qui mô ngày càng rộng lớn, mức động ngày càng phức tạp. Bối
cảnh kinh tế mỗi nớc bị khủng hoảng khác nhau, diễn biến khác nhau,
nguyên nhân dẫn đến cuộc khủng hoảng có nhiều điểm khác nhau giữa các
nớc. Trong phần trên khi trình bày về bối cảnh kinh tế mỗi nớc trớc cuộc
khủng hoảng đã phần nào đề cập đến các nguyên nhân gây ra khủng hoảng
tài chính tiền tệ. Trong phần này chúng ta sẽ phân tích từng nguyên nhân của
cuộc khủng hoảng từ bên trong nền kinh tế, sự tác động qua lại giữa các
nguyên nhân của cuộc khủng hoảng từ bên trong nền kinh tế, sự tác động qua
lại giữa các nhân nhân bên trong với nhau cũng nh mối quan hệ của chúng
với các yếu tố bên ngoài. Qua đó chúng ta sẽ tìm ra cơ chế dẫn tới sự phá giá
của mỗi nớc và cơ chế lan truyền khủng hoảng giữa các nớc.
A- Các nguyên nhân bên trong nền kinh tế.
Các nguyên nhân bên trong nền kinh tế rất đa dạng, phức tạp và khó
phân tích riêng biệt để xe mxét, giữa chúng có mối liên hệ qua lại chặt chẽ
tỷ giá hối đoái cố định, Chính phủ thực hiện chính sách ngoại hối tự do
Trong khi đó thị trờng chứng khoán và thị trờng ngoại hối ít đợc kiểm
soát và phát triển không đồng bộ. Chính sách này cho phép tự do chuyển
đổi đồng bản tệ sang ngoại tệ và ngợc lại. Nh vậy vốn quốc tế đợc tự do lu
chuyển ra vào các quốc gia này.
Dới chế độ tỷ giá hối đoái cố định thì chức năng điều tiết nền kinh tế
vĩ mô của chính sách tiền tệ không còn tác dụng, đặc biết khi luồng ngoại
tệ đợc tự do lu chuyển. Thật vậy nh ở Thái Lan khi vốn nớc ngoài đổ vào
nhiều (do đầu t đợc khuyến khích quá mức) sẽ làm tăng cung ngoại tệ, đồng
nội tệ bị sức ép lên gia và chế độ tỷ giá hối đoái cố định có nguy cơ bị phá
võ. Để giữ tỷ giá hối đoái ở mức cũ, Chính phủ buộc phải áp dụng chính
sách tiền tệ thả lỏng (tăng cung đồng nội tệ). Điều này làm thổi phồng một
cách giả tạo nhu cầu trong nớc, thúc đẩy tiền lơng tăng lên, khuyến khích
7
Đề án môn học Nguyễn Văn Thanh KTQT40
đầu t trong nớc quá mức cần thiết dẫn tới tình trạng d thừa công sức ở nhiều
lĩnh vực,đầu t thiếu hiệu quả (đầu t vào bất động sản lớn, khu vực sản xuất
hàng điện tử tiêu dùng, hoá dầu ở Thái Lan d thừa).
Vậy khi thực hiện cùng một lúc chính sách tỷ giá hối đoái cố định, chính
sách quản lý ngoại hối tự do (tự do lu chuyển vốn quốc tế) và chính sách tiền
tệ độc lập đã là một tác nhân tổng hợp khiến nền kinh tế phát triển quá nóng
bỏng và rơi vào tình trạng mất cân đối bên trong cũng nh bên ngoài.
1.3. Hệ thống ngân hàng yếu kém.
Thực tế cho thấy nếu chỉ quan tâm đến tăng trởng nhanh mà không
chủ ý hoàn thiện hệ thống ngân hàng thì dẫn tới việc thâm hụt ngân sách
Nhà nớc, lạm phát tăng, nền kinh tế sớm muộn sẽ lâm vào tình trạng khủng
hoảng. Hệ thống ngân hàng rất nhạy cảm và chứa nhiều rủi ro, chỉ cần một
tổn thơng nhỏ cũng gây nên xáo động lớn trong quá trình điều tiết nền kinh
tế.
Bối cảnh của các nớc trong khu vực khủng hoảng cho thấy việc đầu t
tế. Các nguyên nhân này lại làm nẩy sinh hai nguyên nhân phụ mới là: Nợ
ngắn hạn nớc ngoài cao và thâm hụt tài khoản vãng lai lớn. Tất cả những
nguyên nhân này sẽ đợc phân tích kỹ hơn ở phần sau.
2. Nền kinh tế phát triển không cân đối.
Sự phát triển mất cân đối của nền kinh tế các nớc ở đây không phải
mất cân đối về cơ cấu kinh tế mà là mất cân đối bên trong và mất cân đối
bên ngoài. Trong một nền kinh tế mở cân đối bên trong và cân đối bên
ngoài là những điều kiện tiên quyết của sự cân bằng tổng thể và phát triển
ổn định của nền kinh tế.
Cân đối bên trong là đòi hỏi công ăn việc làm đầy đủ, giá cả ổn định.
Phơng trình điều kiện cân đối bên trong là:
Y = C + I + G + CA
Trong đó: Y là mức sản lợng tiềm năng
C là mức tiêu dùng
I là đầu t
G là chi tiêu của Chính phủ
CA thặng d tài khoản vãng lai
Phơng trình cho thấy những công cụ của chính sách tài chính tác động
đến tổng cầu và do đó tác động đến sản lợng trong ngắn hạn. Sự mở rộng về
tài chính (tăng G hoặc giảm thuế) sẽ kích thích tổng cầu làm tăng sản lợng.
Tơng tự sự phá giá đồng tiền nội tệ (tỷ giá tăng lên) sẽ làm cho cầu hàng
9
Đề án môn học Nguyễn Văn Thanh KTQT40
hoá dịch vụ trong nớc ẻ hơn so với hàng hoá dịch vụ nớc ngoài đồng thời
cũng làm tăng cầu về sản lợng. Vậy có thể duy trì cân đối bên trong thông
qua những thay đổi về chính sách tài khoá và tỷ giá hối đoái một cách
thích hợp.
Cân đối bên ngoài là mức thặng d hay thâm hụt tài khoản vãng lai ở
mức tối u. Tức là thặng d không quá nhiều mà nớc đó không còn nợ đợc vì
thâm hụt không quá cao mà nớc đó không có khả năng trả nợ. Các chuyên
hoạt động đầucơ là một mồi lửa đổ vào một vết dầu loang. Khi nhìn thấy
nguy cơ khủng hoảng, những dấu hiệu suy thoái của hệ thống ngân hàng -
tài chính ở khu vực, nhiều nhà đầu cơ ở nớc ngoài đã tăng cờng hoạt động
đầu cơ tiền tệ. Trong số 8.300 quĩ tín dụng t nhân ở Mỹ (với tổng số tài
khoản vào khoảng 100 tỷ USD) đã có nhiều quĩ đợc sử dụng để phục vụ các
hoạt động đầu cơ ở khu vực. Các nhà đầucơ thực hiện chu trình đầucơ bằng
cách vay đồng tiền nội địa và bán chúng trên thị trờng tiền tệ nhằm kiếm lời
ở vòng quay sau của đồng tiền. Để giữ cho tỷ giá hối đoái ổn định, các ngân
hàng trung ơng buộc phải mua đồng nội trệ và cung cấp các tài sản ngoại tệ
mà nhà đầu cơ muốn mua. Đồng tiền đợc chuyển đổi tự do, mức độ liên kết
cao giữa các thị trờng tài chính tiền tệ trên thế giới cũng nh tốc độ và khối l-
ợng buôn bán ngoại tệ khổng lồ trên các thị trờng đã làm cho dự trữ ngoại
tệ của các ngân hàng trung ơng nhanh chóng cạn kiệt và cuối cùng họ buộc
phải phá giá (hoặc thả nổi đồng tiền).
3. Hiệu ứng lan truyền.
Thật dễ dàng giải thích về sự khủng hoảng của các nớc khi các nguyên
nhân bên trong đã chín muồi và 2 nguyên nhân bên ngoài nêu trên tác động
mạnh mẽ. Thế nhng với những nớc mà không có các nguyên nhân trên hoặc
có nhng yếu thì sự khủng hoảng đợc giải thích nh thế nào?
Điều đó đợc giải thích bằng hiệu ứng lan truyền. Trong bối cảnh toàn
cầu hoá kinh tế. Nền kinh tế các nớc trong khu vực nằm vào xu thế mở cửa,
phụ thuộc rất lớn vào bên ngoài thì khủng hoảng tại một nớc hay một khu
vực sẽ có ảnh hởng đến nền kinh tế thế giới nói chung, cũng nh đến từng
nền kinh tế riêng biệt. Mức độ ảnh hởng đối với mỗi nền kinh tế sẽ phụ
thuộc vào mối quan hệ thơng mại, đầu t và tiền tệ đối với khu vực xảy ra và
khủng hoảng.
Khi đồng tiền của một nớc bị phá giá thì hàng hoá của nớc đó sẽ đợc
tăng tính cạnh tranh, xuất khẩu thuận lợi song nhập khẩu lại gặp khó khăn.
11
Đề án môn học Nguyễn Văn Thanh KTQT40
khủng hoảng tuy rằng mà các điều kiện mà IMF đặt ra cho các nớc này cực
kỳ ngặt ngèo. Chơng trình của IMF áp đặt đã dẫn tới tình trạng trì trệ kinh
12
Đề án môn học Nguyễn Văn Thanh KTQT40
tế, nhiều công ty bị xô đến tình trạng phá sản bất ổn chính trị ở Indonesia
khi ông Shuarto phải từ chức.
Sự hỗ trợ quốc tế còn đợc thể hiện ở những thoả thuận của các con nợ
và nhà cho vay trong việc hoãn nợ, đảo nợ, bảo đảm nợ nhằm cải thiện tình
trạng nợ nần của các nớc đang đắm chìm trong khủng hoảng. Sự hỗ trợ
quốc tế còn là lời kêu gọi các thị trờng rộng lớn nh Mỹ, EU mở rộng cửa
hơn nữa cho hàng xuất khẩu của các nớc khu vực khủng hoảng nhầm làm
tăng kim ngạch xuất khẩu, cải thiện cán cân xuất - nhập khẩu và thu nhập
ngoại hối của họ.
2. ở cấp độ khu vực
" Tự cứu mình trớc khi trời cứu " là phơng châm xử thế của các nớc
trong khu vực. Ngay từ những tháng đầu xảy ra cuộc khủng hoảng, các nớc
đã đề xuất những ý tỏng phối hợp các cố gắng với nhau để tạo thành sức
mạnh tổng hợp vợt qua khủng hoảng. Đã xuất hiện nhiều ý tởng nhằm thành
lập những thể chế tài chính tiền tệ cho khu vực nh : Quỹ tiền tệ châu á quy
mô 100 tỉ USD, ngân hàng thanh toán bù trừ đa biên ASEAN " hay thoả
thuận giữa các bộ ttrởng tài chính ASEAN về khuyến khích sử dụng đồng
bản tệ ttrong thanh toán các giao dịch thơng mại nội bộ ASEAN trên cơ sở
thoả thuận song phơng và vẫn lấy đồng USD để tham khảo tỉ giá chuyển đổi
giữa các đồng tiền với nhau. Đặc biệt, Trung Quốc cam kết không phá giá
đồng Nhân dân tệ , bởi nếu đồng Nhân dân tệ bị phá giá thì một làn sóng phá
giá tiếp theo trong khu vực là không thể tránh khỏi. Ông Chu Dung Cơ thủ t-
ớng Trung Quốc nhiều lần khẳng định bằng mọi cách sẽ giữ giá đồng Nhân
dân tệ, một cách để giúp các nớc bị khủng hoảng.
3. ở cấp độ quốc gia
Do " uống thuốc " của IMF và những thúc bách chính bản thân mình,
Chỉ số của các
thị tròng chứng khoán
Ngày
14-12 1999
% thay đổi so
với một năm
trớc đó
Ngày
14-12 1999
% thay đổi so với
ngày 31-12-1998
( tính bằng USD )
Trung Quốc 8,28 0 1512,2 + 24
Hồng Công 7,77 - 0,23 16282,7 + 61,5
Indonesia 7205 + 7,5 648,4 + 79,7
Malaisia 3,8 + 0 769,9 + 34,1
Philipin 40,7 - 1,5 2011,3 - 2,3
Singapo 1,68 - 1,7 2369,3 + 67,1
Hàn Quốc 1134 + 6,6 1002,6 + 89,1
Đài loan 31,6 + 2,1 7850,1 + 24,7
Thái Lan 38,6 - 3,7 438,2 + 15,9
Nhật Bản 104 + 11 18165,6 + 42,8
Tốc tăng trởng Tỷ lệ lạm phát
1998 1999 1998 1999
Trung Quốc 7,8 7,5 -1,1 -1,2
Hồng Công - 5,1 2,0 0,9 -3,9
Indonesia - 13,2 0,1 73,1 18,7
Malaisia - 7,5 4,5 9,1 3,5
Philipin - 0,5 3,1 10,8 6,9
Singapo 0,3 5,7 - 0,4 1,3
đề án chỉ phân tích 3 tác động chủ yếu sau:
- Tác động đến môi trờng đầu t tại Việt Nam
- Tác động tới khả năng đầu t của đối tác đầu t nớc ngoài.
- Tác động tới sản phẩm đầu ra của đầu t nớc ngoài trực tiếp.
1. Tác động tới môi trờng đầu t tại Việt Nam.
Việt Nam là một nớc thuộc khu vực xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính
tiền tệ và chịu nhiều ảnh hởng cuả xu hớng chung trong khu vực. Thế nhng
trong cuộc khủng hoảng này, Việt Nam lại là nớc ít chịu ảnh nởng bởi các
tác động đến nền kinh tế do: đồng tiền Việt Nam cha đợc chuyển đổi
(không có khả năng thanh toán bù trừ) trong khu vực; vốn nớc ngoài vào
Việt Nam không tăng giảm một cách đột ngột vì cho đến thời điểm này
Việt Nam cha có thị trờng chứng khoáng. Chính vì lẽ đó ta có thể nhìn tác
động của cuộc khủng hoảng tới môi trờng đầu t tại Việt Nam với hai cách
khác nhau.
Với cách nhìn "đánh đồng" có nghĩa là coi môi trờng đầu t của Việt
Nam sẽ bị kém hấp dẫn đi vì các chủ đầu t xem Việt Nam nh một địa chỉ
đầu t giống các nớc khác trong khu vực. Thật vậy khu vực Đông Nam á
trong vòng một thập kỷ qua nổi lên thành một nơi thu hút đầu t nớc ngoài
trực tiếp có tính hấp dẫn cao do kinh tế tăng trởng nhanh và ổn định trong
một thời gian dài; các chính sách thu hút vốn đầu t nớc ngoài, chính sách
công nghiệp hoá hớng về xuất khẩu tơng đối giống nhau. Hơn nữa các quốc
gia trong khu vực đều có lợi thế trong thu hút đầu t nớc ngoài trực tiếp nh
thị trờng tiêu thụ lớn, giá nhân công rẻ, nguyên vật liệu phong phú. Việc
thực hiện khu vực mậu dịch tự do AFTA, tiến tới thực hiện khu vực đầu t
AIA dần biến khu vực Đông Nam á nh một thể thống nhất tơng đối về th-
ơng mại và đầu t. Đặc biệt quan hệ thơng mại của Việt Nam đối với
17
Đề án môn học Nguyễn Văn Thanh KTQT40
ASEAN chiếm khoảng 30% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam,
các nớc ASEAN chiếm khoảng 25% tổng lợng vốn đầu t nớc ngoài trực tiếp
Đề án môn học Nguyễn Văn Thanh KTQT40
các nhà đầu t, với cách nghĩ rằng việc vay vốn không đạt hiệu quả sẽ làm
tăng thêm độ rủi ro cho các khoản cho vay của ngân hàng.
Trong khi đó cuộc khủng hoảng đã làm lãi suất cho vay tăng cao ở các
nớc. Dù có đợc ngân hàng chấp nhận cho vay thì các nhà đầu t cũng phải
tính toán kỹ hơn giữa chi phí bỏ ra và lợi nhuận thu về do ảnh hởng của việc
tăng lãi suất khi vay vốn.
Các dự án đầu t tại Việt Nam ngoài nguồn vốn vay ngân hàng thì vốn
của các công ty chiếm khoảng 40%, còn lại là vốn vay của các tổ chức tài
chính quốc tế khác. Thế nhng với tình hình lúc bấy giờ ngay cả nguồn vốn
của công ty cũng gặp trở ngại . Chính phủ các quốc gia bị khủng hoảng yêu
cầu các tập đoàn lớn của họ tập trung nguồn lực để cứu nguy cho nền kinh
tế đất nớc, điều này sẽ làm giảm các nhà đầu t của các nhà t bản lớn vào
Việt Nam. Bên cạnh những điều kiện ngặt nghèo của IMF đa ra về việc
chuyển vốn ra nớc ngoài đã gây khó khăn cho việc giúp đỡ các tập đoàn lớn
đối với các công ty con.
Đến đây ta có thể thấy rằng mọi nguồn lực cấu thành khả năng đầu t
của các công ty trong khu vực hầu nh giảm sút do ảnh honửg của cuộc
khủng hoảng. Điều này đồng nghĩa với khoảng 70% luồng vốn đầu t nớc
ngoài trực tiếp vào Việt Nam bị giảm. Tuy nhiên sau cuộc khủng hoảng tài
chính tiền tệ ở khu vực, với sự cố gắng vực dậy nền kinh tế đất nớc, với
chính sách mở cửa, đặc biệt là mối quan hệ ngoại giao với Mỹ ngày càng có
xu hớng tốt đẹp hơn, tạo thuận lợi cho các tập đoàn kinh doanh lớn của Mỹ
và EU đầu t vào Việt Nam.
3. Tác động tới sản phẩm đầu ra của đầu t nớc ngoài trực tiếp vào
Việt Nam.
Một nguyên nhân quan trọng tạo ra quá trình chuyển dịch các yếu tố
sản xuất dới hình thức đầu t chính là thị trờng tiêu thụ hàng hoá, là khả
năng tiêu thụ các sản phẩm đầu ra của qui trình đầu t. Chia theo hình thức
tiêu thụ thì có 2 loại sản phẩm đầu ra của đầu t nớc ngoài trực tiếp.
án đầu t nớc ngoài trực tiếp vào Việt Nam nếu sử dụng các yếu tố đầuvào là
nhập ngoại sẽ đợc khuyến khích dới tác động của cuộc khủng hoảng trong
ngắn hạn. Tuy nhiên để đánh giá các nhà đầu t có lợi hay không ta phải
phân tích tác động của cuộc khủng hoảng tới yêú tố đầu ra đặt trong sự kết
hợp với kết quả tác động tới giá thành đầu vào đã biết.
20
Đề án môn học Nguyễn Văn Thanh KTQT40
3.1. Tác động tới đầu t nớc ngoài trực tiếp vào sản xuất sản phẩm
thay thế hàng nhập khẩu.
Các dự án đầu t nớc ngoài trực tiếp sản xuất sản phẩm thay thế hàng
nhập khẩu có nghĩa là sản xuất ra hàng hoá dịch vụ tiêu thụ trên thị trờng
Việt Nam. Đối với nớc ta trong thời kỳ đầu của công cuộc đổi mới kinh tế
cũng là thực hiện công nghiệp hoá thay thế hàng nhập khẩu. Vốn đầu t nớc
ngoài trực tiếp là một nguồn vốn quan trọng thực hiện mục tiêu này. Do đó
trong những năm đầu các dự án đầu t nớc ngoài chủ yếu sản xuất sản phẩm
tiêu thụ dùng trong nớc rồi sau đó mới chuyển sang xuất khẩu. Tỷ lệ sản
phẩm tiêu thụ trong nớc của khu vực có vốn đầu t nớc ngoài trực tiếp năm
1995 là 69%, năm 1996 là 56%. Đối với phía chủ đầu t nớc ngoài thì đầu t
là một hình thức chiếm lĩnh thị trờng thay thế cho thơng mại. Khi thay thế
thơng mại bằng đầu t trực tiếp chủ đầu t không những tránh đợc các hàng
rào thơng mại khi đa hàng vào Việt Nam mà còn tận dụng một số lợi thế so
sánh về giá nhân công, nguyên liệu đểgiảm chi phí sản xuất. Ngoài ra đầu t
cũng tích cực tạo ra nhu cầu mới cho thị trờng nội địa thông qua việc tạo ra
các sản phẩm mới, góp phần tăng thu nhập để kích cầu tiêu dùng trong nớc.
Sức mua của một thị trờng với gần 80 triệu dân là không đổi khi thu
nhập không tăng. Thế nhng cuộc khủng hoảng đã làm hàng nhập khẩu nói
chung và Việt Nam tăng lên mà giá lại giảm đi. Nhập khẩu tăng sẽ chèn ép
thị trờng đầu ra của sản xuất trong nớc trong đó có sản phẩm thay thế hàng
nhập khẩu của khu vực có vốn đầu t nớc ngoài trực tiếp
Nh vậy dới tác động của cuộc khủng hoảng nhìn chung luồng vốn đầu
hạn các nớc bên ngoài ASEAN định xâm chiếm thị trờng ASEAN qu con đ-
ờng đầu t vaò Việt Nam rồi bán hàng qua các nớc ASEAN khác.
Tóm lại cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ xảy ra ở khu vực Châu á
vừa qua đã làmcho khả năng thu hút đầu t nớc ngoài trực tiếp vào Việt Nam
giảm do môi trờng đầu t giảm tính hấp dẫn, nhà đầu t giảm khả năng về
vốn, sản phẩm đầu ra khó tiêu thụ.
Thực tế cho thấy:
- Số dự án tiếp nhận 6 tháng cuối năm là 1997 là 134 dự án, giảm
20,24% so với 6 tháng đầu năm. Tổng dự án năm 1997 là 302, giảm 10% so
với năm 1996. Trong quí I năm 1998 số dự án tiếp nhận là 45 (giảm 47% ó
với quí 1 năm 1996).
22
Đề án môn học Nguyễn Văn Thanh KTQT40
- Số dự án cấp mới 6 tháng cuối năm 1997 là 161 giảm 8% so với 6
tháng đầu năm.
- Số dự án cấp mới quí I năm 1998 là 56, giảm 6% cùng kỳ năm trớc.
- Số dự án bổ sung 6 tháng cuối năm 1997 là 46, giảm 52,58% so với 6
tháng đầu năm.
- Quí I năm 1998 có 12 dự án xin bổ sung vốn với số vốn tăng thêm là
20 triệu USD, lợng dự án bổ sung vốn chỉ bằng 50% và vốn tăng thêm chỉ
bằng 26% so với cùng kỳ năm 1997.
II- ảnh hởng của cuộc khủng hoảng tới việc triển khai
các dự án sau cấp phép và hoạt động của các dự án đang
kinh doanh.
1. Tác động tới việc triển khai các dự án sau cấp phép.
Cũng giống nh việc thu hút vốn đầu t nớc ngoài trực tiếp, việc triển
khai các dự án đầu t nớc ngoài sau cấp phép gặp phải những khó khăn do
cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực gây ra, mà trớc hết là vấn đề
môi trờng đầu t.
Mặt khác do khả năng tài chính của công ty nớc ngoài giảm nên tiến
Thứ nhất, họ lo ngại về triển vọng kinh tế Việt Nam, về những biến
động tỷ giá hối đoái của đồng tiền Việt Nam, họ cho rằng những diễn biết
phức tạp của hệ thống tài chính trong khu vực sẽ gây ảnh hởng không
nhỏđêns Việt Nam, mặc dù dự án đang hoạt động song bằng mọi cách họ sẽ
ngừng việc cung cấp vốn theo cam kết.
Thứ hai, các dự án sản xuất hàng xuất khẩu phải sản xuất cầm chừng,
vì phần lớn hàng hoá sản xuất chủ yếu xuất khẩu sang các nớc Nh Hàn
Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Hồng Kông. Mà lúc này thị trờng các nớc đó
đang bị thu hẹp lại do tác động của cuộc khủng hoảng. Nếu xuất khẩu sang
các thị trờng khác không nằm trong khu vực thì khả năng cạnh tranh trên
thị trờng này không đợc cao. Các dự án sản xuất hàng thay thế nhập khẩu
24
Đề án môn học Nguyễn Văn Thanh KTQT40
gặp khó khăn do sức mua của nó trong nớc giảm, hàng hoá nhập khẩu cùng
loại tràn vào với số lợng lớn và giá rẻ gây sức cạnh tranh và tạo sức ép buộc
giảm giá . Khu vực kinh doanh du lịch, khách sạn gặp phải sự cạnh tranh từ
các nớc láng giềng do họ giảm giá; lợng khách du lịch đến Việt Nam giảm
nhanh.
Thứ ba, trong khi sức ép giảm giá xảy ra đối với sản phẩm đầu ra của
hầu hết các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài thì họ gặp phải khó khăn
do chí phí đầu vào tăng.
Thứ t, do các Công ty mẹ bị phá sản vỡ nợ, hoặc bị ràng buộc các điều
kiện để chuyển vốn về các công ty con tại Việt Nam dẫn đến tình trạng
không chuyển vốn về Việt Nam đợc và cuối cùng là các công ty đầu t nớc
ngoài gặp khó khăn do nợ ngân hàng quá nhiều.
Với những lý do phân tích nêu trên đã làm cho tình hình sản xuất kinh
doanh của các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài trực tiếp vào Việt Nam
thực sự khó khăn, nhiều chỉ tiêu kinh doanh của khu vực này bị suy giảm.
Cuộc khủng hoảng tài chính buộc nhiều doanh nghiệp có vốn đầu t nớc
ngoài phải thu hẹp qui mô sản xuất, hoạt động cầm chừng khoảng 50-60%