lời nói đầu
Nhiều nớc trên thế giới đang cải cách hoặc đã đổi mới nền kinh tế của mình
theo mô hình kinh tế thị trờng có sự điều tiết của nhà nớc, nhng cũng còn có sự
khác nhau ở mức độ điều tiết. Sự khác nhau đó do chế độ chính trị, kinh tế xã
hội và đặc điểm của mỗi nớc quyết định. Nền kinh tế Việt Nam đang phát triển
theo hớng vừa coi trọng vai trò khách quan của các hoạt động kinh tế của mọi
thành phần kinh tế, vừa phát huy vai trò quan trọng của Chíng phủ. Nói cách
khác, là nền kinh tế nớc ta đang đợc xây đựng theo mô hình kinh tế thị trờng có
sự quản lý của Nhà nớc theo định hớng XHCN. Có thể khẳng định đây là mô
hình kinh tế tối u ở Việt Nam hiện nay vì nó đảm bảo cho dân giầu, nớc mạnh,
xã hội công bằng dân chủ văn minh, sự bền vững của môi trờng sinh thái
và an ninh quốc gia.
Cho đến nay, kinh tế Việt Nam sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, nông
nghiệp chiếm vị trí trọng yếu trong cơ cấu kinh tế quốc dân, thu hút hơn 80%
dân số và 70% lực lợng lao động. Nhng khu vực nông thôn nớc ta vẫn đứng trớc
thực trạng: thu nhập thấp sản xuất không phát triển sức mua của thị trờng
thấp - đầu t thấp. Chính vòng luẩn quẩn này ngày càng hạn chế quá trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông thôn nớc ta, ảnh hởng tới tăng trởng và phát triển kinh
tế trong khu vực nông thôn nói riêng, của cả nớc nói chung.Trong những điều
kiện mới của thời đại, cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu á đã có tác
động tiêu cực đến thị trờng Khu vực và trong nớc. Lĩnh vực nông nghiệp đợc coi
là một lĩnh vực ít chịu ảnh hởng của cuộc khủng hoảng nhất. Vì vậy, tích cực
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, đẩy mạnh phát triển kinh tế nông nghiệp
trong tình hình hiện nay có ý nghĩa vô cùng to lớn. Những năm gần đây, đặc biệt
sau hơn 10 năm đổi mới; cùng với sự đổi mới và phát triển của nền kinh tế nói
chung thì khu vực kinh tế nông nghiệp đã có những chuyển biến hết sức quan
trọng. Thành tựu nổi bật là sản xuất lơng thực: từ chỗ thiếu đói thờng xuyên hàng
năm phải nhập khẩu lơng thực, Việt Nam đã vơn lên không những tự túc đợc l-
ơng thực mà còn đứng thứ 2 trên thế giới về xuất khẩu gạo. Một điểm nữa là sau
khi Chỉ thị 100, Nghị Quyết 10 và Luật Đất Đai đợc ban hành thì Kinh tế Hộ
nông dân đã trở thành đơn vị tự chủ, đợc phát triển mạnh, giá trị sản lợng nông
Với chủ trơng chính sách của Đảng và Nhà nớc ta luôn luôn coi trọng, tạo
điều kiện cho các hình thức kinh tế mới phát triển, làm nền tảng cho sự phát triển
kinh tế xã hội và ổn định đời sống nhân dân. Sau hơn 10 năm đổi mới, với
việc thực thi hàng loạt chủ trơng, chính sách, cơ chế quản lý của Đảng và Nhà n-
ớc, nền kinh tế nớc ta đã đạt đợc những thành tựu đáng kể ở nhiều mặt: đất nớc
thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội, tạo tiền đề bớc vào giai đoạn phát
2
triển mới; đẩy mạnh Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá (CNH HĐH) đất nớc,
nâng cao vị thế của Việt nam trên trờng quốc tế.
Vai trò
Nông nghiệp và nông thôn vẫn tiếp tục đóng vai trò là nền tảng cho sự phát
triển kinh tế xã hội của Việt Nam cả trớc mắt cũng nh lâu dài, nơi mà kinh tế
nông nghiệp nông thôn đóng góp khoảng 40% GDP, gần 40% kim ngạch xuất
khẩu, tạo việc làm và thu nhập cho khoảng 80% dân số và hơn 70% lao động
hiện đang sống ở nông thôn. Mặt khác, phát triển nông nghiệp tuy sinh lời ít nh-
ng cực kỳ quan trọng chiến lợc đối sự phát triển ổn định lâu dài và bền vững của
đất nớc. Có phát triển nông nghiệp toàn diện mới đảm bảo an ninh lơng thực
quốc gia, đáp ứng nhu cầu nguyên vật liệu cho công nghiệp chế biến ngày càng
có nhiều sản phẩm xuất khẩu, sử dụng tơng đối có hiệu quả các nguồn lực nhàn
rỗi nh vốn và lao động trong nông nghiệp.
Từ đó có thể khẳng định vị trí của nông nghiệp và kinh tế nông thôn trong
chính sách phát triển kinh tế xã hội là rất quan trọng; nhằm đảm bảo an ninh,
lơng thực góp phần ổn định kinh tế xã hội, giải quyết việc làm và tăng thu
nhập cho ngời lao động, phát huy tiềm năng đất đai trong nông nghiệp ngày càng
hiệu quả hơn.
Bên cạnh đó, phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn chúng ta sẽ giảm
đợc sức ép của 2 vấn đề ngày càng gay gắt ở nông thôn hiện nay là thiếu vệc làm
và sự chênh lệch giầu nghèo giữa nông thôn và thành thị. Do vậy, đầu t phát triển
nông nghiệp nông thôn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc bảo đảm công
bằng, dân chủ trong xã hội và an ninh quốc gia.
Vào thế kỷ thứ XVIII, sau Đại cách mạng t sản năm 1789 ở Pháp bắt đầu
xuất hiện những chủ trại (Fermier) trong nông nghiệp. Họ thực sự là những nhà
kinh doanh tiên tiến trong nông nghiệp theo lối kinh doanh kinh tế nông trại,
chủ trại lớn chứ không kinh doanh kiểu khép kín phát canh thu tô nh địa chủ
trớc đó. Nhà nớc Pháp thời đó cũng đã có những chính sách ủng hộ họ và khuyến
khích họ phát triển cụ thể nh:
- Cho phép chủ trại đợc tự do lựa chọn ngành kinh doanh, lựa chọn vật nuôi,
cây trồng và có u tiên về phân bón.
- Khuyến khích họ xuất khẩu nông sản đã tái chế, không nên xuất khẩu
nghuyên liệu thô.
- Có chính sách đầu t giúp cho việc vận chuyển, lu thông hàng hoá nông sản
đợc dễ dàng.
Sau nhiều năm tồn tại và điều chỉnh kinh tế trang trại là nguồn cung cấp
nông sản hàng hoá chủ yếu cho nền kinh tế Pháp phát triển.
Sang thế kỷ thứ XIX, khi nghiên cứu Kinh tế chính trị học Anh; C.Mác
đã dự báo trong nông nghiệp nông thôn Anh rồi cũng sẽ phát triển theo hớng sản
xuát hành hoá tập trung nh công nghiệp. Mác viết: ở Anh đã hình thành nên
một giai cấp những Fermier t bản chủ nghĩa hình thức lãnh canh đã nhanh
chóng biến mất, nhờng chỗ cho những Fermier chính cống .
Vào đầu thế kỷ thứ XX, khi nghiên cứu chủ nghĩa t bản ở Nga, Lênin đã
phân tích đời sống kinh tế xã hội chính trị của tầng lớp c dân ở Nga đơng
thời và ông dự đoán: Tính thuần nhất của kinh tế tự nhiên khuôn theo nếp cũ
1
. Nguyễn Sinh Cúc: Khảo sát kinh tế trang trại. Tạp chí NCKT: Viện kinh tế học TT KHXH và Nhân Văn
Quốc Gia. Số 1- 1999, trang 18
4
đã nhờng chỗ cho tính muôn màu, muôn vẻ của những hình thức nông nghiệp th-
ơng phẩm.
Đó chính là những hình thức kinh tế trang trại trong nông nghiệp nớc Pháp,
Anh và Nga đơng thời đợc dựa trên một nền nông nghiệp có sự hỗ trợ đắc lực
hữu, trái với định hớng XHCN mà nớc ta đang xây dựng.
+ Theo chiều hớng ngợc lại: nhiều ý kiến cho rằng phát triển kinh tế trang
trại sẽ tạo điều kiện cho nông nghiệp sớm đi lên sản xuất lớn, qua tích tụ tập
trung ruộng đất mà sử dụng ruộng đất và lao động có hiệu quả cao, tạo ra nhiều
sản phẩm hàng hoá, đó là con đờng cơ bản để xoá đói giảm nghèo, làm giầu ở
2
. Trần Trác: Tìm hiểu về kinh tế trang trại . Tạp chí NCKT: Viện kinh tế học TT KHXH và Nhân Văn Quốc
Gia. Số 11- 1999, trang 41
5
nông thôn và là cơ sở cho công nghiệp chế biến phát triển, tăng cờng xuất khẩu
Hơn nữa nó còn làm cơ cấu nền kinh tế và phân bố lại lao động theo hớng
CNH HĐH; phải chăng, đó là một đột phát của buớc phát triển mới cả về lực
lợng sản xuất và quan hệ sản xuất, thể hiện đúng định hớng XHCN.
Có lẽ chính từ tình hình còn những ý kiến khác nhau đó mà gần đây có
sự dè dặt nào đó trong việc trao đổi ý kiến về vấn đề này. Nhng thực tiễn đã cho
thấy quy mô của các trang trại gia đình đều tăng, cơ cấu trang trại với quy mô
kết hợp lớn - vừa và nhỏ vẫn tồn tại lâu dài. Điều đó phù hợp với quy luật của thị
trờng cạnh tranh chống độc quyền vì lý do có sự tác động qua lại giữa các loại
trang trại có quy mô khác nhau; vừa cạnh tranh nhau vừa hợp tác với nhau, bổ
sung cho nhau và thúc đẩy nhau cùng phát triển, bảo đảm sự tồn tại của kinh tế
trang trại gia đình. Từ đó có thể nhận xét rằng: do có nhiều thế mạnh so với các
tổ chức sản xuất nông nghiệp khác nên loại hình kinh tế này trớc mắt vẫn tồn tại
và phát triển lâu dài trên thế giới và cả ở nớc ta.
2.3. Kinh tế trang trại (gia đình)
Có thể thấy trang trại gia đình đợc hình thành, phát triển từ các hộ tiểu
nông. Một khi đã hội tụ đủ các điều kiện nh vốn, lao động, kỹ thuật, thị trờng, thì
tiểu nông phá vỡ cái vỏ tự cấp - tự túc của mình để dần dần đi vào quỹ đạo của
sản xuất hàng hoá. Sản xuất hàng hoá chính là đặc điểm cơ bản đánh dấu sự khác
biệt giữa trang trại với tiểu nông. Từ đây vấn đề đợc đặt ra là: giữa kinh tế trang
trại và kinh tế hộ nông dân có gì giống và khác nhau ?. Để giải quyết vấn đề này
cho đến nay kinh tế hộ cũng bắt đầu bộc lộ những hạn chế:
- Trớc hết là sự phân hoá giầu nghèo trong nông dân, một số hộ bán đất,
một số hộ không có đất trở thành lao động làm thuê, một số hộ có cơ hội tích tụ
ruộng đất dẫn đến xuất hiện những hộ nghèo đói, hộ trung bình và hộ giầu mà
phần lớn là hộ nghèo khó.
- Sản xuất kém hiệu quả do thiếu vốn và các điều kiện phát triển trong cơ
chế thị trờng đa đến sản phẩm kém khả năng cạnh tranh.
- Sản xuất mang tính chất sản xuất nhỏ.
- Sự kiểm tra, kiểm soát và định hớng Xã hội chủ nghĩa (XHCN) của nhà n-
ớc trong cơ chế thị trờng khó thực hiện.
Từ đây, vấn đề đặt ra là cần phải có một mô hình kinh tế mới có thể khắc
phục đợc những hạn chế trên đồng thời không làm giảm vị trí và vai trò của kinh
tế nông nghiệp - nông thôn trong nền kinh tế quôc dân.
2.3.2. Nhận diện kinh tế trang trại (gia đình)
Từ việc thực hiện công cuộc đổi mới nền kinh tế, ruộng đất đợc giao cho hộ
gia đình nhất là diện tích đồi rừng, thị trờng ngày càng mở rộng, các tiến bộ kỹ
thuật và lợng máy móc xâm nhập vào khu vực nông thôn tình hình đó làm xuất
hiện và phát triển quy mô sản xuất của các hộ gia đình, khối lợng sản phẩm kinh
hàng hoá lớn. Điều đó có nghĩa là kinh tế trang trại trớc đây đã có ở nớc ta và
trong công cuộc đổi mới hiện nay kinh tế trang trại lại xuất hiện và phát triển
ngày càng nhiều. Song đó là sự phát triển có tính chất tự nhiên, phù hợp với xu
hớng tất yếu của Thế giới. Tất nhiên (không thể phủ nhận) là có phần quan trọng
của các chính sách đổi mới, sự phát triển đó là hợp quy luật, là sự tiến bộ, văn
minh, tích cực của nền kinh tế - xã hội. Đành rằng có những mặt cần quan tâm
cả về nhận thức và thực tiễn.
Quả đúng nh vậy, cho đến nay chúng ta mới bắt đầu đề cập một cách thực
sự tới mô hình kinh tế có nhiều u việt này. Do đó, thực tế ở nớc ta hiện nay cha
7
có tiêu chí thống nhất để cho việc xếp loại hình kinh tế hộ nh thế nào thì đợc gọi
là kinh tế trang trại. Song để đánh giá kinh tế trang trại ở nớc ta hiện nay thì
năm và mức tiêu dùng của gia đình; mặt khác họ mới chỉ bán cái mà mình có
chứ cha bán cái mà thị trờng cần . Nh vậy, kinh tế hộ nông dân chủ yếu là sản
xuất tự cung - tự cấp, trình độ phát triển cao nhất chỉ dừng lại ở sản xuất hàng
hoá nhỏ. Ngợc lại, mục tiêu của kinh tế trang trại là sản xuất hàng hoá lớn nhằm
đáp ứng nhu cầu của thị trờng về các loại nông - lâm - thuỷ sản. Có nghĩa là sản
phẩm sản xuất ra là để bán, đáp ứng đợc một phần của quy luật thị trờng: bán
cái thị trờng cần chứ không bán cái mình có .
3
. Đào Đăng Kiên: Các giải pháp phát triển hình thức kinh tế trang trại trong nông nghiệp, nông thôn hiện nay
. Tạp chí PTKT. Trờng Đại Học KTQD, Số 100 1999, trang 25
8
Về điểm này C.Mác đã nhấn mạnh chủ trang trại bán toàn bộ sản phẩm
mình sản xuất ra còn hộ nông dân tiêu dùng trực tiếp đại bộ phận sản phẩm đợc
sản xuất ra, mua và bán càng ít càng tốt .
- Với điểm khác biệt về quy mô nh đã trình bầy ở phần đặc trng trên thì ở
đây chúng ta cần chú ý hơn là không chỉ lớn hơn về quy mô sản xuất mà còn
phải lớn hơn cả về quy mô giá trị hàng hoá so với kinh tế hộ. Nhng việc định lợ
ng quy mô giá trị sản lợng hàng hoá là bao nhiêu thì còn phải tuỳ thuộc vào quy
định của ở từng thời kỳ nhng cũng không nên ở một mức quá cao nhất là đối với
nớc ta khi kinh tế trang trại mới bắt đầu phát triển.
Từ phân tích trên chúng ta thấy việc xác định vị trí của từng tiêu thức và
mối quan hệ của từng tiêu thức để nhận dạng kinh tế trang trại là cần thiết; đặc
biệt kinh tế trang trại nớc ta mới chỉ là bớc đầu cần phải đi sâu nghiên cứu, có
nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của nó trong tổng thể mối quan hệ biện
chứng, hữu cơ giữa các thành phần kinh tế khác (kinh tế hộ, kinh tế hợp tác, kinh
tế quốc doanh ) nhằm kịp thời có chính sách và giải pháp để tạo môi trờng
pháp lý, tâm lý xã hội để thúc đẩy phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn n-
ớc ta trong thời kỳ CNH - HĐH hiện nay.
Kết luận:
Kinh tế trang trại là một loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh trong nông
móc, thiết bị, t liệu sản xuất ).
Những điều kiện trên đây không đòi hỏi nhất thiết phải thật đầy đủ, đồng
bộ, hoàn chỉnh ngay từ đầu mà có sự biến động và phát triển qua từng giai đoạn.
2. Các loại hình trang trại
Các trang trại hiện nay trên thế giới rất đa dạng về hình thức cũng nh cách
thức hoạt động. Việc phân loại trang trại hiện nay phụ thuộc vào những đặc điểm và
trình độ phát triển của từng nớc; một số tiêu thức thờng đợc sử dụng hiện nay là:
2.1. Theo cách thức tổ chức
- Trang trại gia đình: là một hình thức thờng đợc sử dụng nhiều nhất hiện nay,
là kiểu trang trại do một gia đình tổ chức hoạt động độc lập và có t cách pháp nhân.
Trong hình thức này ngời chủ gia đình (chủ trang trại) thờng là ngời đứng ra tổ chức
và quản lý mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại.
- Trang trại liên doanh: là hình thức nhiều trang trại gia đình liên doanh lại
với nhau nhằm tạo ra một hình thức trang trại lớn để có thể huy động vốn liếng
và khả năng sản xuất để có thể cạnh tranh với các trang trại khác có quy mô lớn
cùng ngành, đồng thời lại có thể đợc hởng các chính sách của nhà nớc cho các
trang trại có quy mô lớn trong phát triển. Tuy liên doanh với nhau nhng quyền
trong tự chủ kinh doanh điều hành sản xuất ở các trang trại thành viên vẫn không
đổi, nó vẫn bảo đảm quyền lợi và quyền quyết định của các chủ trang trại thành
viên.
- Trang trại hợp doanh: là loại hình trang trại đợc tổ chức nh công ty cổ
phần. Loại này thờng có quy mô rất lớn và khả năng chuyên môn hoá rất cao.
Lao động trong loại trang trại này thờng là lao động làm thuê; tuy nhiên loại
hình trang trại này chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ và chỉ có ở một số nớc phát triển.
10
2.2. Theo cách thức điều hành trang trại
- Trang trại mà ngời chủ là những nông dân thực thụ, gắn liền lao động trực
tiếp với sự quản lý hoạt động của trang trại. Loại trang trại này gắn liền với hộ
gia đình nông nghiệp, hoạt động gắn bó với tập quán và đặc thù của địa phơng,
làng, xã.
triển sản xuất hàng hoá với khối lợng và giá trị tơng đối lớn cho thị trờng nội địa và
xuất khẩu, đặc biệt là các vùng chuyên canh cây công nghiệp, cây ăn quả, nuôi
trồng thuỷ hải sản Bớc đầu các trang trại đã huy đông đợc hơn 1000 tỷ đồng vốn
đầu t và trên 20 vạn lao động; đó là những con số không phải nhỏ.
11
+ Thứ hai: Góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông
nghiệp và nông thôn theo hớng tập trung chuyên canh, sản xuất hàng hoá; làm
tiền đề cho phát triển công nghiệp chế biến nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ hải
sản; đa công nghiệp và các hoạt động dịch vụ vào nông thôn; thúc đẩy xuất khẩu
các sản phẩm có giá trị cao hơn. Sự chuyển dịch đó cũng góp phần cải thiện môi
trờng sinh thái, phủ xanh đất trống đồi núi trọc, hạn chế nạn du canh du c phá
rừng bừa bãi, thúc đẩy việc lấn biển, mở mang diện tích canh tác
+Thứ ba: Tạo thêm việc làm cho một số lao động d thừa ở nông thôn; qua
đó xoá đói giảm nghèo, nâng cao đời sống văn hoá ở những vùng hẻo lánh thiếu
ánh sáng văn minh, dân trí và ý thức dân chủ đợc nâng lên, tiếp cận dần với lối
sống công nghiệp, giảm khoảng cách giầu nghèo giữa thành thị nông thôn,
giữa miền xuôi vùng cao; Từ đó hình thành các khu dân c, đô thị mới.
+ Thứ t: Do phải cạnh tranh trên thị trờng nên nảy sinh nhu cầu hợp tác, liên
doanh các trang trại với nhau, với các đơn vị thuộc kinh tế nhà nớc; cùng nhau
giải quyết các nhu cầu về cơ sở hạ tầng chung và phúc lợi xã hội (nh cầu đờng,
thuỷ lợi giáo dục ) Nhu cầu đó thúc đẩy sự hình thành các hợp tác xã kiểu mới,
các hiệp hội công nông nghiệp, các câu lạc bộ chủ trang trại Qua đó nhà n-
ớc có thể có những chính sách đầu t trợ giúp có hiệu quả hơn.
phần II: Các vấn đề còn tồn tại của kinh tế
trang trại ở nớc ta
I. Đặc điểm và sự xuất hiện kinh tế trang trại ở nớc ta
1. Đặc điểm nông nghiệp nớc ta
- Nớc ta là một nớc nông nghiệp, nguồn sống chính của c dân ở nông thôn dựa
vào nông nghiệp nhng nông thôn nớc ta còn nghèo, canh tác còn lạc hậu, công cụ thủ
động: Tổ chức tốt việc giao ruộng đất cho đội ngũ sản xuất, cho nhóm và ngời
lao động, sử dụng để thực hiện sản lợng khoán, tránh để đồng ruộng bị chia cắt
manh mún gây trở ngại cho việc sử dụng cơ sở vật chất kỹ thuật và áp dụng
tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất . Điều đó có ý nghĩa rất quyết định trong việc
xác định quyền tự chủ về sức lao động của nhóm và hộ nông dân.
+ Nghị quyết 10 NQ / TW của Bộ chính trị (tháng 4 1988) về đổi mới
quản lý kinh tế nông nghiệp đã xác định rõ: Nhà nớc công nhận sự tồn tại lâu
dài và tác dụng tích cực của kinh tế cá thể, t nhân trong quá trình đi lên XHCN
Tạo điều kiện và môi trờng thuận lợi cho các thành phần kinh tế này phát triển:
trồng trọt, chăn nuôi, trồng rừng, nuôi trồng khai thác thuỷ - hải sản, chế biến
kinh doanh dịch vụ nông nghiệp và mở mang ngành nghề ở nông thôn. Mọi hành
vi xâm phạm các quyền nói trên đều phải xử lý theo pháp luật, các định kiến hẹp
hòi đối với kinh tế cá thể, t nhân phải đợc xoá bỏ .
+ Nghị quyết TW 5 khoá VIII (tháng 6 1993) và sau đó là Luật đất đai
(tháng 9 1993) đã chủ trơng: Các hộ t nhân đầu t phát triển các cây giống,
cây con; khai thác đất trống đồi núi trọc ở các vùng trung du, miền núi, bãi bồi,
ven biển; nuôi trồng và khai thác thuỷ sản, ra khơi đánh bắt cá; xây dựng các
nông - lâm - ng trại với quy mô thích hợp . Tức là đã trao thêm cho các tổ chúc
kinh tế, cá nhân - ngời lao động và hộ nông dân; trách nhiệm và quyền tự chủ
sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông, lâm, ng nghiệp đợc hoạt động một cách
thông thoáng hơn.
+ Nghị quyết TW khoá VIII (tháng 12 1997) cũng đã khẳng định: Kinh tế
trang trại với các hình thức sở hữu khác nhau (Nhà nớc, tập thể, t nhân) đợc phát triển
chủ yếu trồng cây dài ngày, chăn nuôi đại gia súc ở những ở những nơi có nhiều
ruộng đất; khuyến khích việc khai phá đất hoang vào mục đích này .
13
Bên cạnh đó tại Hôi nghị lần thứ 6 (kỳ1) BCHTW khoá VIII vừa qua Tổng
bí th Lê Khả Phiêu trong bài phát biểu bế mạc hội nghị đã nói: Đổi mới chính
sách và tháo gỡ các ách tắc để thực hiện sự giải phóng sức sản xuất ở nông thôn
và thu hút các nguồn lực để phát triển toàn diện, bền vững; khuyến khích thật
1995 100.0 78.1 18.9 3.0
1996 100.0 77.8 19.3 2.9
1997 100.0 77.8 19.5 2.7
1998 100.0 79.5 18.0 2.5
Sơ bộ 1999 100.0 79.4 18.2 2.4
Nguồn: Niên giám thống kê 1999, trang 35 NXB Thống Kê, HN 2000
4
. Phạm Quang Lê: Kinh tế trang trại đột phá mới trong phát triển nông nghiệp . Tạp chí NCKT: Viện kinh tế
học TT KHXH và Nhân Văn Quốc Gia. Số 12- 1999, trang 29
14
II. Thực trạng phát triển kinh tế trang trại ở nớc ta
Có thể thấy kinh tế trang trại phát triển ở nớc ta hiện nay đã có đợc những
thành công đáng kể, nhng bên cạnh đó vẫn còn tồn tại những vấn đề cần đợc
xem xét để kinh tế trang trại có thể phát huy đợc những sức mạnh đáng có của
nó. Do phạm vi của đề tài hẹp nên nội dung của phần này chỉ tập trung phân tích
hai vấn đề nổi cộm còn tồn tại của kinh tế trang trại và cũng là nguyện vọng của
các chủ trang trại hiện nay là vấn đề về vốn và quy mô kinh doanh.
1. Quy mô kinh doanh.
Chúng ta đều biết quá trình hình thành và phát triển của kinh tế trang trại
gắn với việc tích tụ tập trung các yếu tố sản xuất cho nên quy mô kinh doanh của
trang trại chủ yếu phụ thuộc vào các yếu tố kinh doanh và phơng hớng kinh
doanh.
1.1. Yếu tố kinh doanh
Bên cạnh đó trong hệ thống các biện pháp và chính sách của nớc ta đối với
nông nghiệp, trọng tâm của vấn đề là ngời nông dân. Nếu họ thiếu chủ động,
không đợc giao quyền tự chủ, không có động lực sản xuất thì tất cả hệ thống các
biện pháp khác đều kém hiệu quả, mà phát huy quyền tự chủ của nông dân nói
chung và các chủ trang trại nói riêng ở khâu cơ bản nhất chính là ruộng đất.
Thực tế đã chứng minh, quyền sử dụng ruộng đất với quyền sở hữu các t liệu sản
xuất khác là nguồn gốc tạo ra động lực mới thúc đẩy, khuyến khích mọi tầng lớp
đất, mất đất đi đến chỗ thất nghiệp, bần cùng hoá. Ngợc lại, nếu quá trình này
diễn ra nhanh thì sự phân hoá giầu nghèo sẽ trở nên nghiêm trọng, dẫn đến tình
trạng phân hoá giai cấp trong nông nghiệp và nông thôn. Vì vậy, việc tập trung
ruộng đất phải phù hợp với quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và kinh tế
nông thôn, với quá trình CNH - HĐH và phân công lại lao động xã hội tạo điều
kiện cho các hình thức kinh tế mới trong nông nghiệp - nông thôn phát triển.
Mặt khác, đất đai là t liệu sản xuất chủ yếu trong hoạt động sản xuất nông,
lâm và thuỷ sản. Do đó, để phát triển kinh tế trang trại trớc hết phải dựa vào đất
đai nhất là những cây trồng, vật nuôi cần một lợng diện tích đất đủ lớn để sản
xuất ra một lợng sản phẩm hàng nhất định.
Nguồn đất bình quân trong nông nghiệp của nớc ta đợc thể hiện ở biểu 2
16
Biểu 2: Nguồn đất bình quân năm
Đơn vị: Ha
Tiêu chí Đất nông
nghiệp
Đất lâm
nghiệp
Mặt nớc
nuôi trồng
thuỷ sản
Tổng số
I. Đất đã đợc giao 2.9218 1.4781 0.3229 4.7229
II. Đất cha đợc giao 0.9828 0.4292 0.4398 1.8518
1. Đất nhận thầu của HTX
và của chính quyền
0.1713 0.0265 0.3847 0.5826
2. Thuê t nhân 0.0192 0.0013 0.0018 0.0223
3. Nhận chuyển nhợng 0.3294 0.0136 0.0139 0.3569
4. Nhận cầm cố 0.0034 0.0011 0.0000 0.0045
chủ yếu đợc tập trung vào các lĩnh vực nông, lâm, thuỷ sản với các loại hình sản
xuất kinh doanh chính, bao gồm : nhóm trang trại sản xuất cây hàng năm (lúa,
mía) cây công nghiệp lâu năm (cà phê, cao su, hồ tiêu ) trong lâm nghiệp chủ
17
yếu là trồng rừng thực hiện nông lâm kết hợp và thuỷ sản chủ yếu nuôi trồng
thuỷ sản nớc lợ ven biển và thuỷ sản nội đồng (biểu 3)
Trong số 1588 trang trại có hớng sản xuất kinh doanh chính là cây công
nghiệp lâu năm đợc phân bố tơng đối đều về số lợng giữa 3 vùng lớn xong đáng
chú ý là vùng Tây Nguyên và Duyên Hải miền Trung, số trang trại này chiếm tỷ
lệ lớn: 86,95% tổng số trang trại của vùng. Bên cạnh đó là số lợng các trang trại
kinh doanh chăn nuôi cha nhiều trong số 266 trang trại thì có 50 trang trại kinh
doanh đại gia súc, có tới 145 trang trại chăn nuôi lợn. Có thể thấy sự phân bố về
hớng và số lợng không đều, chỉ tập trung vào một số vùng.
2. Vốn và nguồn vốn.
Nhiều trang trại ở nớc ta đợc hình thành qua một quá trình tích luỹ chứ
không phải ngay từ đầu đã có một nguồn vốn đủ lớn để hoạt động kinh doanh.
Vốn là yếu tố quan trọng, để phát triển kinh tế trang trại đòi hỏi phải có vốn,
trong đó các chủ trang trại phải tích tụ một lợng vốn tự có nhất định. Đó là một
trong những điều kiện tiên quyết, nếu không nói là điều kiện quyết định bởi lẽ có
vốn thì mới có thể thuê đất đai, sức lao động và các điều kiện để phát triển kinh
tế trang trại
Vốn sản xuất kinh doanh của trang trại cũng bao gồm vốn cố định và vốn lu
động. Vốn cố định là ruộng đất, nhà xởng, máy móc thiết bị đợc tạo ra do nguồn
vốn tự có hay vốn vay. Vốn lu động là tiền mua các loại vật t sản xuất và các chi
phí sản xuất của trang trại. Vốn của kinh tế trang trại thờng lu chuyển trên thị tr-
ờng thông qua ngân hàng hay các tổ chức tín dụng, thơng mại.Vốn vay tín dụng
của các chủ trang trại phục vụ sản xuất kinh doanh chiếm doanh số và tỷ trọng
lớn. ở Mỹ, vốn vay dài hạn của chủ trang trại bằng 22,3% tổng giá trị tài sản của
trang trại và gấp 6 lần thu nhập thuần tuý của các trang trại. ở nớc ta có chủ
trang trại chủ yếu là sử dụng nguồn vốn tự có, việc huy động nguồn vốn ngoài
Nguồn:Nguyễn Thế Nhã: Thực trạng phát triển kinh tế trang trại ở nớc ta.Tạp chí NCKT:
Viện kinh tế học TT KHXH và Nhân Văn Quốc Gia.Số 257 Tháng 10 / 1999, trang 22.
Nguồn vốn tự có của các trang trại chiếm 91,03%, trong đó ở Đắc Lắc
chiếm tới 96% ở Gia Lai, Lâm Đồng chiếm 93% Lợng vốn vay của các trang trại
nhìn chung chiếm tỷ trọng nhỏ gần 9% tổng lợng vốn bình quân của các trang
trại.
Do đó, hiện nay vấn đề tín dụng đã và đang trở thành bức thiết cho mọi
thành phần kinh tế, mọi tầng lớp nông dân mà đặc biệt là nông dân nghèo, nông
dân ở vùng sâu, vùng xa hoạt động kinh tế trang trại có quy mô lớn. Thực tế
nguồn tín dụng cho nông dân vay hiện nay rất hạn hẹp, có đến 50% số hộ cần đ-
ợc vay vốn nhng cha đợc vay, số vốn cho vay trung hạn và dài hạn còn quá ít (chỉ
chiếm 8,9% tổng số vốn cho vay, nhât là ở những vùng kinh tế trang trại phát
triển. Từ đây vấn đề đợc đặt ra là: để mở rộng tín dụng trong nông thôn, nhất là
trong nền kinh tế thị trờng phải tạo điều kiện cho các trang trại tích luỹ thu nhập
thặng d của mình không phải bằng thóc hay bằng vàng nh trớc mà bằng các tài
khoản ngân hàng.
Qua đó, chúng ta thấy rằng tín dụng phải phục vụ trực tiếp phát triển nông
thôn chứ không chỉ đóng khung trong nông nghiệp nhất là những vùng trung
bình ruộng đất thấp, nông dân cần hoạt động rộng rãi không chỉ trong nông
nghiệp mà cả phi nông nghiệp để đạt mức thu nhập cao hơn. Đó cũng chính là
hình ảnh tơng lai của các trang trại nớc ta; tỷ trọng các khoản thu nhập trong
nông nghiệp ngày càng giảm xuống trong khi tỷ trọng các khoản phi nông
nghiệp ngày càng tăng; điều này tạo điều kiện cho các trang trại có khả năng
chuyên môn hoá lĩnh vực kinh doanh của mình, đó là lợi thế giúp cho các chủ
trang trại giảm bớt nhu cầu về tín dụng ngân hàng.
III. Tổ chức quản lý kinh tế trang trại
(
5
)
Xuất phát từ mục tiêu hoạt động kinh tế của các trang trại là sản xuất nông
thuê mớn đất đai trong nông nghiệp, cha khuyến khích thuê mớn đất nông
nghiệp, đề ra mức hạn điền về sử dụng đất. Do đó, vấn đề thị trờng ruộng đất cần
đợc nghiên cứu để đất đai có sự chu chuyển, tạo điều kiện cho việc phát triển
kinh tế trang trại.
2. Quản lý vốn
Từ những vai trò của vốn, vấn đề đợc đặt ra làm thế nào để các chủ trang
trại có thể kiểm soát đợc đồng vốn có trong tay, sử dụng đồng vốn sao cho có
hiệu quả. Để có thểt giải quyết đợc vấn đề này ngoài những chính sách của Nhà
nớc thì không còn cách nào khác là những ngời chủ trang trại phải tự học hỏi,
trau dồi kiến thức quản lý thì mới có thể đảm bảo đợc yêu cầu đặt ra. Bởi vì, có
đợc kiến thức đầy đủ về quản trị, nó sẽ tạo điều kiện cho chủ trang trại đảm bảo
huy động đầy đủ vốn cần thiết trên cơ sở xác định đúng đắn các nguồn cung ứng
vốn, đảm bảo tính hiệu quả cao, tăng khả năng mở rộng quy mô vốn. Mặt khác,
nó còn bảo đảm cho chủ trang trại có các quyết định đầu t đúng lúc, đúng chỗ và
có hiệu quả. Do đó, muốn cho trang trại của mình hoạt động có hiệu quả thì chủ
trang trại không thể không có kiến thức về quản trị.
Để thực hiện đợc các hoạt động quản trị thì các chủ trang trại cần thực hiện
các nhiệm vụ chủ yếu sau:
20
+ Thứ nhất: Phân tích tài chính và hoạch định tài chính cho trang trại
mình.Thực hiện nhiệm vụ này, trên cơ sở phân tích tình hình tài chính và các
phân tích cũng dự báo cần thiết khác giúp cho chủ trang trại tiến hành lập các dự
án đầu t, các kế hoạch ngân sách dài hạn, trung hạn và ngắn hạn.
+ Thứ hai: Xác định các thời điểm cần vốn. Thông qua tình hình thực tế và các
số liệu cần thiết thì chủ trang trại cần phải xác định đợc thời điểm mà trang trại có
cầu về vốn. Để thực hiện đợc nhiệm vụ này cần phải trả lời đợc chính xác các câu
hởi cụ thể: Vào lúc nào ? Cần vốn cho hoạt động gì ? Cần bao nhiêu vốn?.
+ Thứ ba: Tìm các nguồn cung ứng vốn thích hợp. Nhiệm vụ này rất quan
trọng vì nó đảm bảo thực hiện các nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của trang trại,
đạt đợc các mục tiêu đặt ra trong từng thời kỳ, mùa vụ cụ thể.
hoạch tiêu thụ sản phẩm hàng hoá, giá cả sản phẩm.
+ Quản lý điều hành việc thực hiện từng công đoạn trong mùa vụ, sản xuất
đúng tiến độ, đúng chất lợng, đúng định mức kinh tế kỹ thuật.
+ Tổ chức lu thông tiêu thụ sản phẩm
+ Hạch toán sản xuất kinh doanh sau mùa vụ hoặc sau năm sản xuất; tính
toán cân đối giữa vốn đầu t và thu nhập, xác định lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận
trên đồng vốn.
+ Phân tích tình hình, đánh giá kết quả rút kết quả cho vụ sau
(7)
.
Việc xây dựng kế hoạch sản xuất, rút ra kinh nghiệm và hạch toán kinh tế
của trang trại thông thờng do chủ trang trại tự làm nhng nhiều chủ trang trại ở n-
ớc ta còn hạn chế về năng lực và kinh nghiệm quản lý điều hành sản xuất kinh
doanh nên gặp nhiều khó khăn trong việc đúc kết, phân tích hoạt động kinh tế
của trang trại. Nguyên nhân là các chủ trang trại cha quyên thực hiện chế độ tài
chính kế toán của doanh nghiệp, có tâm lý e ngại không muốn ghi chép lại đầy
đủ tình hình tài chính của trang trại.
Nhìn chung, tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh kinh tế trang trại ở nớc ta
là vấn đề mới mẻ, kinh nghiệm còn ít. Nên để phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế
trang trại cần tập trung nghiên cứu các vấn đề liên quan đến quản lý kinh tế trang
trại từ phía Nhà nớc đến từng trang trại.Trên cơ sở vừa đúc kết kinh nghiệm thực
tế trong nớc, vừa tham khảo kinh nghiệm của nớc ngoài vì tổ chức quản lý trang
trại tốt là yếu tố cơ bản quyết định hiệu quả sản xuất kinh doanh của kinh tế
trang trại.
phần III: Các giải pháp và phơng hớng phát
triển kinh tế trang trại ở nớc ta
I. Các giải pháp nhằm phát triển kinh tế trang trại
(8)
1. Khó khăn chung của trang trại nớc ta
Qua điều tra nghiên cứu thực tế sản xuất kinh doanh của 5466 trang trại ở
(nông trờng, lâm trờng HTXNN) và các hộ nông dân trên địa bàn còn cha rõ
ràng cả về quyền lợi và nghĩa vụ. Ranh giới giữa trang trại với hộ nông dân giỏi
và nông hộ cũng cha đợc phân định đúng với thực tế và nói chung còn cha rõ
ràng.
+ Thiếu vốn nghiệm trọng nhng Nhà nớc cha có chính sách tín dụng để hỗ
trợ các trang trại nhất là trong nhng năm đầu thành lập.
+ Thiếu kỹ thuật, máy móc, nông cụ và thiếu cả lao động lành nghề, nhng
bản thân các trang trại không có điều kiện đào tạo, bồi dỡng trong khi Nhà nớc
cha quan tâm.
+ Cơ sở hạ tầng yếu kém, gây khó khăn cho phát triển và mở rộng sản xuất.
Hầu hết các trang trại hiện nay đợc hình thành ở vùng trung du, miền núi đất
xấu, địa hình phức tạp, giao thông thuỷ lợi, điện đều gặp khó khăn. Do đó sản
phẩm làm ra nhiều đang mâu thuẫn với khả năng vận chuyển, chế biến và tiêu
thụ.
+ Các trang trại đều có khối lợng nông sản lớn, có tính thời vụ nhng thị tr-
ờng và giá cả cha ổn định, nên nhiều chủ trang trại cha muốn mở rộng qui mô
sản xuất mặc dù khả năng đất đai, lao động vẫn còn.
+ Kinh tế trang trại phát triển trong giai đoạn nớc ta bắt đầu có những bớc
hội nhập với thế giới, nh vậy chính các trang trại lại phải đối phó với sự cạnh
tranh rất gay gắt với hàng hoá nông sản của các nớc trong khu vực. Một khó
23
khăn rất lớn nữa cho các trang trại Việt Nam hiện nay chính là sự am hiểu thị tr-
ờng và khả năng thâm nhập thị trờng trong và ngoài nớc.
Nguyên nhân của những khó khăn trên là do nhận thức về trang trại vẫn ch-
a đợc thống nhất. Nhà nớc cha có chính sách hỗ trợ, khuyến khích, theo quy
hoạch và định hớng sự phát triển trớc mắt và lâu dài của các trang trại. Do đó, để
phát huy u thế của trang trại, khắc phục những hạn chế và giải quyết những mâu
thuẫn đang đặt ra, chúng ta cần nghiên cứu, lựa chọn những giải pháp phù hợp
nhằm phát triển kinh tế trang trại có hiệu quả,đóng góp tích cực vào quá trình
kinh nghiệm sản xuất và quản lý thì cho họ nhận không thu tiền, với diện tích có
thể cao hơn mức hạn điền. Đối với vùng đất đai thuận lợi ít khó khăn, có nhiều
ngời muốn nhận để sản xuất nông, lâm nghiệp thì tuỳ theo diện tích đất đai và số
ngời muốn nhận mà quyết định cụ thể. Còn vùng đất tơng đối thuận lợi trong
khai thác và sử dụng, có khả năng cho hiệu quả cao và nhiều ngời muốn nhận, có
quỹ đất ít thì tổ chức đấu thầu.
Về thời gian giao đất thực hiện theo Luật Đất Đai đã đợc Quốc hội sửa đổi
bổ sung và ban hành từ ngày 1-1-1999: thời gian giao đất để sử dụng ổn định lâu
dài để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thuỷ sản là 20 năm, để trồng cây là 50
năm. Nếu ngời sử dụng đất thực hiện đúng Luật Đất Đai và sản xuất có hiệu quả
thì đợc Nhà nớc giao đất cho để tiếp tục sử dụng.
Ba là, giải pháp khắc phục tình trạng đất manh mún. Việc khắc phục tình
trạng đất manh mún của các nông hộ sẽ tạo điều kiện đi vào sản xuất tập trung,
đồng thời là tiền đề để chuyển từ nông hộ lên trang trại một cách thuận lợi. Tuy
nhiên, giải quyết tình trạng đất manh mún không thể dựa vào mệnh lệnh áp đặt
từ trên mà phải thuyết phục nông dân tự nguyện đồng thời phải có cách làm đúng
đắn và thích hợp. Cần khuyến khích các hộ nông dân chuyển đổi ruộng đất trớc
khi làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đai.
Bốn là, giải pháp cấp giấy chứng nhận sử dụng đất đai cho các trang trại.
Các trang trại đợc hình thành từ nhiều nguồn đất khác nhau: nhận khoán thuê m-
ớn, chuyển nhợng, khai hoang Việc hợp pháp hoá quyền sử dụng đất đai của
trang trại là vấn đề bức xúc để các trang trại yên tâm kinh doanh lâu dài. Đó là
tiền đề cần thiết để các trang trại bố trí quy hoạch sản xuất.
2.2. Giải pháp về vốn
Trong các nguồn lực phát triển kinh tế xã hội nông thôn nói chung, kinh
tế trang trại nói riêng, vốn là nguồn lực hết sức quan trọng. Nó là chìa khoá ban
đầu, là khâu then chốt để hình thành và phát triển kinh tế trang trại. Thực tế cho
thấy vốn đầu t cho các chủ trang trại nhìn chung còn cha lớn, nguồn vốn hầu hết
là tự có của các trang trại, còn một phần nhỏ là vốn Nhà nớc thông qua các ch-
ơng trình dự án, các nguồn vốn khác trong dân và vốn của thân nhân chủ trang