Hoàn thiện các chính sách nhằm phát triển kinh tế trang trại ở nước ta - Pdf 12

Lời nói đầu
Kinh tế trang trại xuất hiện trong quá trình đổi mới ở nớc ta và đang đợc phát
triển mạnh mẽ trong giai đoạn hiện nay, mặc dù mới ở bớc khởi đầu, song mô
hình kinh tế này đã sớm khẳng định đợc vai trò quan trọng đối với sự phát triển
của sản xuất nông nghiệp và kinh tế - xã hội nông thôn. Kinh tế trang trại hiện
đang là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá chủ yếu trong nền nông nghiệp Việt
Nam.
Sự tạo lập và phát triển kinh tế trang trại là một tất yếu trong quá trình phát
triển kinh tế của đất nớc. Tuy nhiên, để hình thành và phát triển nó nh thế nào cho
thuận lợi, đem đến hiệu quả cao nhất và phù hợp với định hớng XHCN của nền
kinh tế mà Đảng và Nhà nớc ta đã xác định lại là một vấn đề đòi hỏi đợc quan tâm
nghiên cứu và giải quyết của các ngành, các cấp và của mọi ngời.
Là một sinh viên chuyên ngành Kinh tế phát triển, em tự thấy việc tìm hiểu
về sự hình thành và quá trình phát triển của kinh tế trang trại trong nông nghiệp n-
ớc ta là điều thực sự cần thiết, phục vụ và tạo điều kiện bớc đầu cho quá trình học
tập, nghiên cứu và công tác của em sau này.
Những số liệu sử dụng trong bài viết có nguồn từ số liệu điều tra, khảo sát
3044 trang trại và phỏng vấn 3044 chủ trang trại và 756 cán bộ các cấp ở 15 tỉnh,
thành phố trọng điểm do trờng ĐH Kinh tế Quốc dân thực hiện tháng 5, 6, 7 năm
1999.
1
Ch ơng I
Cơ sở lý luận về tổ chức sản xuất
và mô hình kinh tế trang trại trong
nông nghiệp ở việt nam
Trong hơn một thập kỷ vừa qua, cùng với quá trình đổi mới và sự phát triển
vợt bậc của nền kinh tế, nông nghiệp nớc ta đã có một bớc tiến dài trên con đờng
phát triển của mình, đạt đợc những thành tựu to lớn trên tất cả các mặt.
Từ một nớc nông nghiệp lạc hậu, thờng xuyên phải nhập lơng thực, thực
phẩm từ nớc ngoài, đến nay chúng ta đã hoàn toàn tự túc đợc lơng thực, thực
phẩm, bảo đảm sự ấm no trong đời sống của nhân dân và an ninh lơng thực quốc

các lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản.
Nhìn vào biểu 4 ta thấy có 2619 trang trại kinh doanh nông nghiệp là chính,
riêng trồng trọt có 2353 trang trại với các hớng kinh doanh chính: cây hàng năm
(lúa, mía) có 421 trang trại, cây công nghiệp lâu năm (cà phê, cao su, chè, hồ tiêu,
điều,...) có 1588 trang trại, cây ăn quả (vải, nhãn, cam, xoài,...) có 344 trang trại.
Trong số 1588 trang trại có hớng sản xuất kinh doanh chính là cây công nghiệp
lâu năm đợc phân bố tơng đối đều về số lợng giữa ba vùng lớn, song đáng chú ý
vùng Tây Nguyên và Duyên hải miền Trung, số trang trại này chiếm tỷ trọng lớn:
86,95% tổng số trang trại của vùng. Trong đó cây cà phê đợc trồng nhiều ở các
trang trại Đắc Lắc với 1314,6ha, ở Gia Lai 1137,5ha, ở Lâm Đồng 1098,6ha. Cây
cao su tập trung chủ yếu ở các trang trại của Bình Dơng với 1711,9ha, Gia Lai
128,3ha. Các trang trại kinh doanh chè ở Lâm Đồng với 114,3ha, Yên Bái 178,3ha
và Nghệ An 103,6ha.
3
Biểu 4: Số lợng trang trại phân theo hớng sản xuất
kinh doanh chính ở 3 vùng lớn của nớc ta.
Đơn vị: Trang trại
Nhóm trang trại theo các
hớng kinh doanh
Tổng số
Trong đó phân theo 3 vùng lớn
Các tỉnh
miền Bắc
Tây Nguyên và Duyên
Hải miền Trung
Nam
Bộ
1. Cây hàng năm 421 218 1 202
2. Cây CN lâu năm 1.588 452 593 543
3. Cây ăn quả 344 238 29 77

sản xuất của trang trại trên hai chỉ tiêu chính đó là: cơ cấu giá trị sản xuất (tổng
thu) và cơ cấu giá trị sản phẩm hàng hoá của các ngành, các bộ phận sản xuất
trong trang trại.
Biểu 5: Cơ cấu giá trị sản phẩm hàng hoá của các trang trại
theo hớng kinh doanh khác nhau
Đơn vị: %
Nhóm trang trại theo h-
ớng kinh doanh
Tổng số
Trong đó
Trồng trọt Chăn nuôi Thuỷ sản
Bình quân chung
100 58,01 26,68 15,31
Trong đó:
1. Cây hàng năm 100 91,03 6,33 2,64
2. Cây lâu năm 100 94,86 4,64 0,50
3. Cây ăn quả 100 77,33 16,51 6,11
4. Chăn nuôi đại GS 100 16,72 79,13 4,15
5. Chăn nuôi lợn 100 0,75 99,01 0,25
6. Chăn nuôi gia cầm 100 1,54 97,70 2,76
7. Lâm nghiệp 100 48,09 38,08 13,83
8. Thuỷ sản 100 3,64 3,82 92,54
9. Hớng KD khác 100 78,47 18,99 2,54
Các trang trại nớc ta hầu hết tập trung vào sản xuất nông nghiệp (trồng trọt và
chăn nuôi), lâm nghiệp và thuỷ sản, vì thế cơ cấu sản xuất của trang trại rất đa
dạng, tuỳ thuộc vào hớng kinh doanh đợc lựa chọn và kết hợp với phát triển tổng
hợp, lấy ngắn nuôi dài, giá trị sản xuất ngành trồng trọt chiếm 57,75% tỷ trọng
ngành chăn nuôi chiếm 27,30%, thuỷ sản chiếm 13,78% và lâm nghiệp chiếm
1,18%. Cơ cấu sản xuất của trang trại ở các vùng cũng có đặc trng riêng, khác
biệt, vùng miền núi phía Bắc giá trị sản xuất ngành trồng trọt chiếm 66,23% (trong

sản xuất, đến tiếp cận thị trờng, tiêu thụ sản phẩm,...
- Chủ trang trại là ngời có ý chí và năng lực tổ chức quản lý, có kinh nghiệm
và kiến thức nhất định về sản xuất kinh doanh nông nghiệp và thờng là ngời trực
tiếp quản lý trang trại.
- Tổ chức quản lý sản xuất của trang trại tiến bộ hơn, trang trại có nhu cầu
cao hơn nông hộ về ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và thờng xuyên tiếp cận thị trờng.
6
- Phần lớn trang trại đều có thuê mớn lao động và có thu nhập vợt trội với hộ
nông dân trong vùng.
Từ những phân tích, đánh giá ở trên ta thấy rằng sự hình thành và phát triển
của kinh tế trang trại chủ yếu dựa vào hộ gia đình, nhằm mở rộng quy mô và nâng
cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản,
trồng rừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thuỷ sản.
Phát triển kinh tế trang trại nhằm khai thác, sử dụng có hiệu quả đất đai, vốn,
kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý, góp phần phát triển nông nghiệp bền vững tạo việc
làm, tăng thu nhập, khuyến khích làm giàu đi đôi với xoá đói giảm nghèo, phân bổ
lại lao động, dân c, xây dựng nông thôn mới.
Quá trình chuyển dịch, tích tụ ruộng đất hình thành các trang trại gắn liền với
quá trình phân công lại lao động ở nông thôn, từng bớc chuyển dịch lao động nông
nghiệp sang làm các ngành phi nông nghiệp, thúc đẩy tiến trình công nghiệp hoá
trong nông nghiệp và nông thôn.
Hiện nay, số lợng các đơn vị và hộ gia đình sản xuất hàng hoá trong nông
nghiệp ở nớc ta rất lớn. Tuy nhiên, để đợc công nhận là một trang trại thì theo
Thông t liên tịch số 69/2000/TTLT/BNN-TCTK ra ngày 23/6/2000 các đơn vị và
hộ gia đình này cần có những điều kiện tiên quyết sau đây:
Một là, Giá trị sản lợng hàng hoá và dịch vụ bình quân một năm đạt từ 40
triệu đồng một năm ở các tỉnh phía Bắc và Duyên Hải miền Trung từ 50 triệu đồng
trở lên ở các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên.
Hai là, quy mô sản xuất phải tơng đối lớn và vợt trội so với kinh tế hộ nông
dân tơng ứng với từng ngành sản xuất và vùng kinh tế, cụ thể về định hớng.

vai trò quan trọng hàng đầu cho việc hình thành kinh tế trang trại.
Các chính sách và luật pháp của Nhà nớc cũng phải tạo điều kiện cho quá
trình tập trung và tích tụ ruộng đất đợc diễn ra thuận lợi vì ruộng đất là t liệu sản
xuất chủ yếu, là điều kiện không thể thiếu của mỗi trang trại, ruộng đất phải đợc
tập trung đến một mức phù hợp nhất định tuỳ theo phơng hớng kinh doanh mới
mong hình thành kinh tế trang trại.
Hàng năm các trang trại sản xuất ra một khối lợng sản phẩm hàng hoá lớn
nên cần có sự hỗ trợ của công nghiệp chế biến, vì vậy công nghiệp chế biến cần đi
trớc một bớc.
Để phục vụ cho sự ra đời và phát triển của kinh tế trang trại cũng cần có sự
phát triển nhất định của kết cấu cơ sở hạ tầng, trớc hết là giao thông, thuỷ lợi,
điện, sự hình thành và phát triển của các vùng sản xuất chuyên môn hoá cũng là
điều kiện cần thiết giúp cho việc hình thành và phát triển kinh tế trang trại đợc
thuận lợi hơn. Trong thời kỳ hiện nay thì quá trình liên doanh, liên kết và hợp tác
giữa các trang trại và với các hình thức khác trong sản xuất cũng là một điều kiện
8
quan trọng và một điều kiện sau cùng nhng cũng không kém phần quan trọng
trong nhóm các điều kiện khách quan này đó là phải có môi trờng pháp lý thuận
lợi cho kinh tế trang trại ra đời và phát triển.
Thứ hai: ta nói đến nhóm điều kiện về phía trang trại đó là chủ trang trại phải
có ý chí và quyết tâm làm giàu từ nông nghiệp, phải có sự tích tụ nhất định về kinh
nghiệm sản xuất, về tri thức và năng lực tổ chức sản xuất kinh doanh.
Ngoài ra cần có sự tập trung nhất định về quy mô các yếu tố sản xuất, trớc
hết và quan trọng hơn cả đó là vốn và đất đai.
Muốn thu đợc hiệu quả cao thì quản lý sản xuất và kinh doanh của trang trại
cũng cần phải dựa trên cơ sở hạch toán và phân tích kinh doanh.
Khái niệm và những điều kiện hình thành và phát triển của kinh tế trang trại
đã nêu ở trên đã cho ta thấy đợc phần nào vai trò và vị trí của nó đối với nền kinh
tế quốc dân. Không dừng lại ở đó, với đặc trng là hình thức tổ chức sản xuất chủ
yếu trong nông nghiệp sản xuất hàng hoá, kinh tế trang trại đã thể hiện đợc vai trò

Ngay cả những quốc gia đất nông nghiệp bình quân theo đầu ngời thấp nh
Nhật Bản, quy mô sản xuất cũng không ngừng tăng lên, năm 1950, diện tích trung
bình là 0,8ha nhng đến năm 1993 con số này là 1,38ha.
Quy mô bình quân của các trang trại không ngừng tăng lên còn đợc biểu hiện
ở việc đầu t tiền vốn là t liệu sản xuất không ngừng tăng nh hiện nay. ở Tây Âu
khoảng 70% trang trại gia đình đã mua máy móc dùng riêng, ở Nhật Bản đến năm
1985 có 67% số trang trại có máy kéo nhỏ và 20% có máy kéo lớn.
Sự phát triển của hình thức kinh tế trang trại ở các nớc trên thế giới đã cho
chúng ta nhiều bài học quý báu về phơng thức sản xuất kinh doanh cũng nh xu h-
ớng phát triển, hoạt động của nó.
Thực hiện đổi mới theo đờng lối của Đảng và Nhà nớc ở nớc ta hiện nay, phát
triển sản xuất nông sản hàng hoá là một tất yếu, là đòi hỏi bức thiết đặt ra từ điều
kiện bên trong và bên ngoài.
ở trong nớc, nông nghiệp không thể dừng lại ở sản xuất tự túc, mà phải
nhanh chóng tiến lên sản xuất nông sản hàng hoá để đáp ứng nhu cầu của công
nghiệp hoá đất nớc: bảo đảm lơng thực thực phẩm cho c dân ngoài nông nghiệp
ngày càng tăng, bảo đảm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và tăng nhanh
khối lợng nông sản xuất khẩu để phục vụ trở lại nông nghiệp.
ở ngoài nớc, nhu cầu về mậu dịch nông sản giữa Việt Nam và các nớc ngày
càng tăng, đòi hỏi nhiều nông sản hàng hoá. Sản xuất nông sản hàng hoá trong
điều kiện mở cửa, hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới không chỉ đòi hỏi
khối lợng nông sản nhiều, ổn định, mà còn yêu cầu sản phẩm có chất lợng cao, giá
thành hạ, tạo đợc u thế cạnh tranh trên thị trờng nông sản trong nớc và thế giới.
Để đáp ứng đợc đòi hỏi tất yếu đó, chúng ta không thể không phát triển kinh
tế trang trại.
10
ý thức đợc vị trí và vai trò quan trọng cũng nh tính tất yếu của việc phát triển
kinh tế trang trại đối với toàn bộ sự phát triển của nền kinh tế nói chung và nông
nghiệp nói riêng. Đảng và Nhà nớc ta đã có những u tiên, khuyến khích cho sự ra
đời và phát triển của kinh tế trang trại trong nông nghiệp nớc ta.

biến và thơng mại, dịch vụ, làm ra nông sản có giá trị kinh tế lớn.
11
Ưu tiên giao đất, cho thuê đất đối với những hộ nông dân có vốn, kinh
nghiệm sản xuất nông nghiệp hàng hoá và những hộ không có đất sản xuất nông
nghiệp mà có nguyện vọng tạo dựng cơ nghiệp lâu dài trong nông nghiệp.
Nhà nớc thực hiện nhất quán chính sách phát huy kinh tế tự chủ của hộ
nông dân, phát triển kinh tế trang trại đi đôi với chuyển đổi hợp tác xã cũ, mở
rộng các hình thức kinh tế hợp tác, liên kết sản xuất - kinh doanh giữa các hộ
nông dân, các trang trại, các nông, lâm trờng quốc doanh, doanh nghiệp Nhà n-
ớc và doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác để tạo động lực và sức
mạnh tổng hợp cho nông nghiệp, nông thôn phát triển.
Nhà nớc hỗ trợ về vốn, khoa học - công nghệ chế biến, tiêu thụ sản phẩm,
xây dựng kết cấu hạ tầng, tạo điều kiện thuận lợi cho các trang trại phát triển
bền vững.
Tăng cờng công tác quản lý Nhà nớc để các trang trại phát triển lành
mạnh, có hiệu quả.
Với các chính sách nêu trên, chúng ta đang dần tiến tới một bộ chính sách
thực sự hoàn chỉnh để khuyến khích kinh tế trang trại phát triển. Điều này cũng đã
thể hiện rõ quan điểm của Đảng và Nhà nớc ta là chấp nhận và khuyến khích kinh
tế trang trại phát triển nh là một tất yếu trong quá trình đi lên của nền kinh tế đất
nớc.
12
Ch ơng II
Thực trạng phát triển kinh tế trang trại
trong nông nghiệp Việt Nam hiện nay
I-/ Tình hình chung về phát triển kinh tế trang trại ở nớc ta
Thực tế, thực hiện đờng lối đổi mới của Đảng và Nhà nớc, kinh tế hộ nông
dân đã phát huy tác dụng to lớn, tạo sức mạnh mới trong sự nghiệp phát triển nông
nghiệp và kinh tế nông thôn. Trên nền tảng kinh tế tự chủ của hộ nông dân đã hình
thành các trang trại đợc đầu t vốn, lao động với trình độ công nghệ và quản lý cao

trang trại khác chiếm 3,19%.
Số chủ trang trại là Đảng viên chiếm 24,08%. Trong đó Yên Bái tỷ lệ này là
52%, Nghệ An 37,04%. Số chủ trang trại là đoàn viên thanh niên chiếm 2,92%.
Trong đó Sơn La chiếm 6,5% và ở Nghệ An tỷ lệ này là 6,3%.
2-/ Các yếu tố sản xuất của trang trại.
2.1. Đất đai của trang trại
Đất đai là t liệu sản xuất chủ yếu trong hoạt động sản xuất nông, lâm và thuỷ
sản. Để phát triển kinh tế trang trại trớc hết phải dựa vào đất đai, nhất là những cây
trồng, vật nuôi cần một lợng diện tích đất đủ lớn để sản xuất ra một lợng sản phẩm
hàng hoá nhất định. Vì thế kinh tế trang trại cần đợc phát triển ở vùng trung du,
miền núi và ven biển nơi mà quỹ đất có khả năng khai phá và sử dụng còn lớn.
Thực tế có sự chênh lệch đáng kể trong quỹ đất của trang trại giữa các tỉnh. Trong
khi bình quân chung một trang trại có 6,63ha thì ở Nghệ An tỷ lệ này là 12,69ha.
Yên Bái 10,17ha nhng ở Đồng Nai chỉ có 2,753ha, Sơn La 3,27ha. Nhóm trang
trại lâm nghiệp có quy mô đất là 20,29ha, trang trại kinh doanh cây lâu năm có
6,10ha, trang trại chăn nuôi có 1,48ha. Chủ trang trại nông dân có quy mô 6,27ha,
chủ trang trại khác có quy mô lớn hơn 8,66ha.
Nguồn gốc đất đai của trang trại cũng rất đa dạng, trong đó phần đất đợc giao
chiếm đại bộ phận, tính bình quân phần đất này là 71,83%, tỷ trọng đất cha đợc
giao chiếm 28,17%, trong đó diện tích nhận thầu của HTX chiếm 31,46%, nhận
chuyển nhợng đất 19,27%, nhận thầu của nông - lâm trờng chiếm 18,9%, tự khai
hoang chiếm 17,99%, nhận khoán chủ dự án 9,59%. Cá biệt có các trang trại ở
Thanh Hoá và Hà Nội tỷ lệ đất cha đợc giao chiếm trên 50% trong đó chủ yếu
nhận thầu của HTX trên 72%. ở Nghệ An, tỷ trọng đất cha đợc giao chiếm
21,48% nhng ở đây các trang trại phần lớn nhận thầu đất đai của các nông, lâm tr-
ờng và chủ dự án (chiếm 76,13%) với nhiều hình thức rất khác nhau.
14
Cơ cấu quỹ đất của các trang trại bao gồm đất nông nghiệp chiếm 58,81%,
đất lâm nghiệm chiếm 28,73% đất nuôi trồng thuỷ sản chiếm 11,49% và đất thổ c
0,97%. Cơ cấu đất đai tuỳ thuộc vào điều kiện từng địa phơng, từng hớng kinh

- Rừng 0,0328 0,0240 0,0001 0,0569
- Khác 0,0024 0,0005 0,0005 0,0034
6 - Thầu của nông, lâm trờng 0,1596 0,1661 0,0250 0,3501
7 - Nhận khoán của chủ dự án 0,0284 0,1485 0,0008 0,1777
8- Nguồn khác 0,0071 0,0113 0,0056 0,0240
Tổng nguồn đất 3,9046 1,9073 0,7627 6,5747
15

Trích đoạn chính sách thị trờng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status