cụ thể hoá vị trí kinh tế của chính phủ ở nước chxhcn việt nam trong giai đoạn “từng bước công nghiệp hiện đại hoá” đất nước - Pdf 10

Tiểu luận kinh tế vĩ mô
lời mở đầu

Kinh tế thị trờng từng là động lực thúc đẩy nền kinh tế t bản phát
triển vô cùng nhanh chóng từ khi nó ra đời.Thực tế đã chứng minh cơ chế
thị trờng làm cho nền kinh tế trở nên năng động và mang lại hiệu quả kinh
tế cao.Nền kinh tế thị trờng luôn là sự cạnh tranh giã các hãng sản xuất với
nhau, do đó họ phải luôn tìm tòi, sáng tạo các phơng thức sản xuất mới để
mang lại lợi nhuận cao trong kinh doanh.Chính vì thế nó làm cho nền kinh
tế của đất nớc ngày càng phát triển và phồn thịnh. Tuy nhiên cơ chế thị tr-
ờng không phải là một hoạt động kinh tế hoàn hảo mà nó mang trên mình
mặt trái của nó nh: sự cạnh tranh không hoàn hảo, vấn đề ngoại ứng, sự
phân hoá giaù nghèovà các vấn đề xã hội khác. Chính vì vậy, Nhà nớc đã
tham gia vào quá trình hoạt động của nền kinh tế để giảm nhẹ hoặc khắc
phục những hậu quả của nó.Nhng trên thực tế không thể tồn tại một nền
kinh tế chỉ đợc điều hành bằng mệnh lệnh và cũng không có nền kinh tế
nào hoạt động trên cơ sở tự nguyện.Chính phủ ngày càng khẳng định đợc
vai trò của mình trong quá trình hoạt động của nền kinh tế. Đặc biệt là đối
với Việt Nam- một nớc mới chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao
cấp sang nền kinh tế thị trờng có sự đIều tiết vĩ mô của Nhà nớc nên còn
có nhiều mới mẻ và bỡ ngỡ nên chónh phủ Việt Nam lại càng có vai trò to
lớn trong việc hơng nền kinh tế đi theo đúng mục tiêu đã chọn. Với hiểu
biết của một sinh viên mới đợc hớng dẫn học tập môn này, em xin đợc
trình bày những hiểu biết của mình về vai trò và các chức năng cơ bản
chính phủ trong điều tiết vĩ mô nền kinh tế đồng thơì liên hệ đến vị trí
kinh tế của chính phủ ở nớc Cộng hoà XHCN Việt Nam trong giai đoạn
từng bớc công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nớc.
Tiểu luận kinh tế vĩ mô
Phần I
vai trò và các chức năng cơ bản của chính phủ trong
điều tiết vĩ mô nền kinh tế

nhiều tác động bên ngoài, vì ô nhiễm độc hại hoặc vì kiến thức quí giá, đối với các
nhà doanh nghiệp khác hoặc ngời tiêu dùng. Trong mỗi một trờng hợp này, một thất
bại thị trờng dẫn đến sản xuất không hiệu quả hoặc tiêu dùng không hiệu quả, và ở
Tiểu luận kinh tế vĩ mô
đây, chính phủ có thể đóng vai trò chữa bệnh. Nhng trong khi đánh giá vai trò của
chính phủ chữa bệnh kinh tế, chúng ta cũng phải cảnh giác với những thất bại của
chính phủ - đó là tình huống chính phủ gây thêm bệnh hoặc làm cho bệnh trầm
trọng thêm.
Cạnh tranh không hoàn hảo. Một sai lệch nghiêm trọng của cạnh tranh hoàn
hảo là cạnh tranh không hoàn hảo hoặc nhân tố độc quyền.
Chúng ta phải luôn luôn nhớ định nghĩa chinnhs xác của nhà kinh tế về ngời
cạnh tranh hoàn hảo . Mới chỉ có một vài địch thủ cha đủ có cạnh tranh hoàn hảo.
Định nghĩa kinh tế về cạnh tranh hoàn hảo trên một thị trờng là có đủ một số lợng
doanh nghiệp hoặc mức độ cạnh tranh đến mức không có một doanh nghiệp nào có
thể ảnh hởng đến giá cả của hàng hoá đó. Một ngời cạnh tranh không hoàn hảo
là một ngời mà hành động có thể ảnh hởng đến giá của một mặt hàng. Thực tế, điều
này có nghĩa là hầu hết các ông chủ doanh nghiệp, có lẽ trừ số hàng triệu nhà nông
mà từng ngời một sản xuất ra một phần không đáng kể trong toàn bộ thu hoạch,
đều là những ngời cạnh tranh không hoàn hảo. Ơ đầu cực cạnh tranh không hoàn
hảo là nhà độc quyền, ngời duy nhất cung cấp một mặt hàng cụ thể.
Toàn bộ sinh hoạt kinh tế là sự kết hợp giữa các nhân tố độc quyền và cạnh
tranh. Cạnh tranh không hoàn hảo chứ không phải cạnh tranh hoàn hảo là hình thái
chính. Nhng nói rằng, Một doanh nghiệp có thể tác động tới giá cả sản phẩm của
mình không có nghĩa là độc tài . Phần sau chúng ta sẽ thấy rõ, một doanh nghiệp
không thể định giá hàng hoàn toàn theo ý muốn riêng mà vẫn có lãi. Doanh nghiệp
đó phải tính đến giá của các hàng có thể thay thế cho hàng của mình. Thậm chí nếu
doanh nghiệp đó sản xuất ra một loại dầu đốt đã có mác với những đặc tính độc
đáo, họ vẫn phải tính đến giá của các loại dầu đốt khác cũng nh giá của củi, khí đốt
và chất cách nhiệt. Nh vậy, sức mạnh kinh tế của những ngời cạnh tranh không
hoàn hảo luôn bị kiềm chế phần nào.

trên những quy trình sử dụng chất độc tác động bên ngoài đã từ những phiền toái
nhỏ mà trở thành những mối đe doạ lớn. Kết quả là chính phủ đã sử dụnh đến luật
lệ điều tiết hành vi kinh tế nh là một cách để ngăn chặn những tác động tiêu cực
bên ngoài nh ô nhiễm nớc và không khí, khai thác đến cạn khoáng sản, chất thải-
gây nguy hiểm thức ăn, uống thiếu an toàn và các chất phóng xạ
Những ngời phê phán việc quy định luật lệ than phiền rằng hoạt động kinh tế
của chính phủ có tính chất cỡng bức không cần thiết. Chính phủ giống nh cha
mẹ, luôn nói không đợc: Không đợc bán thiếu cân, không đợc sử dụng lao động trẻ
em, không đợc để ống khói nhà máy nhả khói ra bầu trời, không đợc bán hoặc hút
Cocaine.v.v
Mặt khác, khi kinh doanh, các nhà sản xuất luôn muốn thu đợc lợi nhuận cao
nhất, nguồn vốn quay vòng nhanh Do đó, một số loại hàng hoá quan trọng cho
việc phát triển kinh tế, cho sự bảo đảm an ninh trật tự cho nền kinh tế lại không đợc
đầu t vì nó không mang lại lợi nhuận hoặc lợi nhuận quá ít. Vì thế chính phủ pnải
đầu t vào các loại hàng hoá này. Sự can thiệp của chính phủ vào thị trờng để nâng
cao hiệu quả của nền kinh tế chứng tỏ những việc làm nh thế không phải do ý thích
.(Paul A.Samuel).
b- Công bằng: Cho đến nay chúng ta đã tập trung vào các thiếu sót trong vai trò
chỉ đạo của bàn tay vô hình-những sự thiếu hoàn hảo có lẽ có thể sửa chữa đợc
bằng sự can thiệp đúng đắn. Nhng hãy tạm cho rằng nền kinh tế hoạt động hoàn
toàn có hiệu quả-luôn ở trên ranh giới khả năng sản xuất và không bao giờ ở bên
trong ranh giới này cả, luôn chọn đúng số lợng hàng hoá công cộng so với hàng
hoá t nhân.v.v Nhng thậm chí nếu hệ thống thị trờng hoạt động hoàn hảo nh vừa
mô tả thì nhiều ngời vẫn không cho nó là lý tởng. Tại sao vậy?
Tiểu luận kinh tế vĩ mô
Thứ nhất, hàng hoá đi theo số phiếu bằng đồng đô la chứ không phải là theo nhu
cầu lớn nhất. Một con mèo của ngời giàu có thể đợc nhận số sữa mà một đứa trẻ
nghèo cần có để đợc khoẻ mạnh. Có phsải là do cung cầu hoạt động kém không?
Hoàn toàn không vì cơ chế thị trờng đang làm đúng chức năng-nó đặt hàng vào tay
ngời có thể trả tiền nhiều nhất, ngời có nhiều phiếu bằng tiền nhất. Những ngời bảo

những năm 1980, chính phủ Mỹ và các nớc khác đã có biện pháp nhằm giảm tỷ lệ
lạm phát cao. Những biện pháp này đã dẫn đến thất nghiệp cao và lạm phát thì
giảm. Nhng trong thành công lại có hạt giống của thất bại. Bằng cách bảo đảm một
thời kỳ nhiều công ăn việc làm và tăng trởng nhanh, nhiều nớc đã vô tình nuôi dỡng
một nền kinh tế trong đó nhân dân bắt đầu cho rằng phồn vinh là lẽ đơng nhiên.
Tiểu luận kinh tế vĩ mô
Nhiều nớc đảm bảo cho công nhân và ngời hởng thu nhập định kỳ mức sống trong
điều kiện thời tiết xấu nh mức sống chỉ có thể có đợc với thời tiết tốt. Trong các hệ
thống giá cả, tiền lơng và hỗ trợ thu nhập có những điểm cứng nhắc. Khi những rối
loạn của những năm 1970 xảy ra sau hai lần tăng mạnh giá dầu lửa, mất mùa ngô,
trục trặc trong hệ thống tài chính quốc tế-ngời ta đã không giữ đợc lời hứa. Trong
sự phát triển của mỗi quốc gia, không có một nền kinh tế ở quốc gia nào đều luôn
ổn định mà nó luôn có sự biến động. Có những thời kỳ nền kinh tế cực kỳ phồn
thịnh nhng cũng có lúc nền kinh tế nằm trong vùng đại suy thoái do nhiều nguyên
nhân: do lạm phát cao, những thay đổi của nền kinh tế thế giới Do đó chính phủ
góp phần làm cho nền kinh tế dần dần ổn định bằng cách đa ra những chính sách
hợp lý. Các mục tiêu của đời sống kinh tế vĩ mô không phải là vấn đề để bàn cãi
gay gắt nữa. Nhng các nớc có thể đạt đợc các mục tiêu đó một tốt nhất nh thế nào?
Một nớc muốn cải tiến thành tựu của mình có thể có những sự lựa chọn gì? Trả lời
cho câu hỏi này nằm một phần trong các công cụ của chính sách kinh tế vĩ mô .
Cơ chế quản lý kinh tế bao gồm hai nhóm yếu tố: Cơ chế thị trờng-nhóm yếu tố
chịu sự chi phối của bàn tay vô hình tức các quy luật kinh tế thị trờng . Nhóm
yếu tố này mang tính chất tự điều chỉnh. Nhóm hai là sự quản lý của chính phủ ở
tầm vĩ mô, nhóm này gắn liền với bàn tay hữu hình , tức các công cụ quản lý của
nhà nớc nh: pháp luật, chính sách, kế hoạch Nh vậy không thể điều tiết sự vận
động của nền kinh tế thị trờng khi chỉ có một trong hai yếu tố trên, điều đó giống
nh ngời ta định vỗ tay bằng một tay
Tóm lại, chính phủ có vai trò thúc đẩy nền kinh tế hớng tới sự công bằng, hiệu
quả và ổn định. Tuy nhiên chính phủ không thể hô hào nhân dân là phải làm thế
này hay thế kia thì mới đạt đợc hiệu quả mà chính phủ phải sử dụng các công cụ

mức sản lợnh tiềm năng thì chính phủ tăng cờng chi tiêu đẻ làm tăng tổnh cầu từ đó
làm cho sản lợng tiến gần sản lợng tiềm năng. Trong trờng hợp ngợc lại, sản lợng v-
ợt qua sản lợng tiềm năng hay trong thời kì lạm phát cao, chính phủ cắt giảm chi
tiêu của mình để cùng với các công cụ vĩ mô khác làm giảm lạm phát. Điều đó
chứng tỏ chính phủ không thể chi tiêu một cách lãng phí nguồn ngân sách mà vấn
đề là chi tiêu thế nào cho hợp lí trong từng thời kỳ. Bên cạnh đó, chính phủ cần phải
kiểm soát chặt chẽ nhu cầu chi tiêu của mình để hạn chế tối đa việc thâm hụt ngân
sách. Trong trờng hợp thiếu hụt ngân sách chính phủ phải vay tiền dân chúng hoặc
vay nớc ngoài để bù đắp ngân sách.
Tóm lại, tất cả các chính phủ ở các quốc gia đều phải chi tiêu nhng không phải
tự nhiên có tiền để chi tiêu mà phải có nguồn thu. Nguồn thu chủ yếu của ngân
sách nhà nớc là thuế, còn các nguồn thu khác là không đáng kể.
.Thuế khoá :
Thuế khoá là khoản đóng góp mang tính pháp lệnh mà nhà nớc bắt buộc mỗi
công dân và các tổ chức kinh tế phải nộp để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của chính
phủ. Tất cả các quốc gia đều quy định mức thuế suất với mỗi loại thuế và buộc mọi
ngời phải tuân theo. Các loại thuế đều làm giảm thu nhập của ngời dân dẫn tới mức
chi tiêu cho tiêu dùng của các hộ gia đình giảm. Thuế còn ảnh hởng đến việc đầu t
của mỗi doanh nghiệp, nếu thuế cao sẽ không khuyến khích đầu t, việc giảm các
sắc thuế đánh vào các khoản bổ sung cho đầu t hoặc kinh doanh máy móc thiết bị
mới sẽ kích thích đầu t ở nhiều ngành từ đó làm tăng nguồn vốn của nền kinh tế
dẫn đến GDP sẽ tăng lên trong tơng lai. Ngoài ra, thuế còn ảnh hởng đến việc xuất-
nhập khẩu ở mỗi nớc. Nếu các sắc thuế đánh vào các mặt hàng nhập khẩu cao thì sẽ
hạn chế đợc việc nhập khẩu các mặt hàng đó, tơng tự đối với xuất khẩu, từ đó chính
phủ điều tiết đợc lợng hàng hoá nội địa và nhập ngoại. Nh vậy, khi chính phủ muốn
bảo hộ một loại mặt hàng nào đó ở trong nớc thì chỉ cần tăng thuế xuất-nhập khẩu
Tiểu luận kinh tế vĩ mô
của mặt hàng đó lên cao đến mức các doanh nghiệp không muốn nhập khẩu loại
mặt hàng đó nữa.
Nh vậy, để ổn định sản lợng gần với sản lợng tiềm năng thì chính phủ có thể sử

cao chính phủ thực hiện chính sách đônh giá và đông tiền lơng, tức là cố định giá
cả và tiền công trong một thời gian nhất định nhằm giảm bớt lợng tiền.
e. Chính sách kinh tế đối ngoại:
Trong nền kinh tế mở cửa thì không thể không có chính sách kinh tế đối ngoại
để sự trao đổi mua bán giữa các nớc đợc thuận lợi. Chính sách kinh tế đối ngoại bao
gồm nhiều loại công cụ nh: quản lý tỷ giá hối đoái, chính sách ngoại thơng, trợ giá,
hàng rào thuế quan, hạn nghạch. Việc tác động đến hàng hoá xuất-nhập khẩu vào
Tiểu luận kinh tế vĩ mô
giá cả hàng hoá đó đều thông qua các công cụ này.Chẳng hạn nh để khuyến khích
xuất khẩu thì chính phủ có thể tác động đến tỷ giá bằng cách hạ thấp tỷ giá xuống
làm cho giá ngoại tệ giảm,điều đó là rất thuận lợi cho xuất khẩu, hoặc có thể tác
động bằng cách hạ thuế suất các mặt hàng xuất khẩu, hoặc trợ giá làm cho chi phí
xuất khẩu hạ xuống từ đó làm giá thành hạ tạo điều kiện thuận lợi cho việc cạnh
tranh với các hãng sản xuất cùng loại mặt hàng ở các nớc khác. Nh vậy, những biện
pháp này nhằm duy trì sự cân bằng trên thị trờng ngoại hối và giữ cho xuất-nhập
khẩu theo nh mong muốn của chính phủ .
Tóm lại, đây là các công cụ kinh tế vĩ mô chủ yếu của chính phủ, ngoài ra
còn có các công cụ khác nh các kế hoạch, các chơng trình phát triển Việc sử dụng
các công cụ kinh tế vĩ mô này trong từng thời kỳ hay ở mỗi quốc gia là không
giống nhau. Vì vậy, khi sử dụng chúng cần phải xem xét điều kiện, hoàn cảnh cụ
thể ở quốc gia mình .
Tiểu luận kinh tế vĩ mô
Phần II
Cụ thể hoá vị trí kinh tế của Chính phủ ở nớc Cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nớc.
I- vị trí của Chính phủ Việt Nam trong cơ chế quản lý
quốc gia.
1. Nhà nớc.
Hệ thống chính trị của Việt Nam thay đổi đáng kể nhằm hỗ trợ cho chế

vẫn cần phải xây dựng một khuôn khổ pháp lý toàn diện hơn, rõ ràng và thuận
lợi nhằm tạo cơ sở cho sự ra đời và phát triển của một khu vực t nhân và một
xã hội dân sự lành mạnh để cuối cùng có thể chia sẻ trách nhiệm với Chính
phủ, ở mức độ tiin cậy cao, đối với sự nghiệp phát triển của đất nớc.
Chính phủ đã nhận thức đợc các vấn đề nh tham nhũng, lạm dụng chức
quyền và nhu cầu tôn trọng cácc quyền công dân và đòi hỏi giải quyết các
vấn đề này một cách toàn diện trong khuôn khổ của quá trình cải cách. Tham
nhũng phần nào đó là kết quả của việc trả lơng cha gắn với kết quả làm việc
cũng nh của việc bố trí công tác. Chính phủ đã bắt tay vào giải quyết các vấn
đề này. Ngoài ra còn có một số thách thức khác nh tăng cờng tính công khai
minh bạch và nâng cao nhận thức của quần chúng về công tác chính trị cũng
nh khuyến khích họ tham gia vào công tác này.
Mặc dù có nhiều bộ luật đã đợc ban hành song trong nhiều trờng hợp
việc thực hiện có hiệu quả và nhất quán vẫn còn hạn chế. Có những vấn đề
nảy sinh trong quá trình xây dựng các quy định thi hành luật cũng nh trong
quá trình triển khai thi hành trên thực tế. Việc khuyến khích tăng cờng tham
khảo các cơ quan có liên quan ở bên ngoài trong quá trình phân tích chính
sách và luật pháp có thể nâng cao tính công khai minh bạch của quá trình này
cũng nh đảm bảo sự tham gia đóng góp của nhiều đối tợng hơn. Điều đó còn
tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện và chấp hành tốt những bộ luật sau
khi ban hành.
Để tăng cờng tính công khai minh bạch và khả năng tiếp cận của luật
pháp. Chính phủ đã thể hiện mong muốn đẩy mạnh hơn nữa công tác phổ biến
và tuyên truyền về hệ thống pháp lý cũng nh khuyến khích sự tham gia của
quần chúng. Để thực hiện điều đó, các kỳ hợp Quốc hội giờ đây đã đợc truyền
hình hai chỉ thị về phổ biến luật pháp và Luật Khiếu nại Tố cáo đã đợc ban
hành năm 1998; và các chơng trình hỗ trợ pháp lý ở cấp cộng đồng đã đợc xây
dựng. Tuy nhiên, vẫn cần phải tăng cờng mạng lới thông tin và hệ thống tuyên
truyền phổ biến về pháp luật cũng nh đảm bảo mở rộng các mạng lới và hệ
thống này tới những nơi xa xôi nhất.

pháp ở cấp cao hơn (có thể là Uỷ ban Nhân dân cấp cao hơn hoặc Chính phủ,
tuỳ theo cấp của Uỷ ban Nhân dân đó). Thứ ba, một số Bộ có cơ quan chi
nhánh đặt ở mỗi địa phơng. Những cơ quan này vừa chịu sự quản lý hành
chính của Uỷ ban nhân dân địa phơng lại vừa chịu sự quản lý về chức năng
chuyên môn của cơ quan cấp cao hơn trực thuộc Bộ chủ quản. Thứ t, hầu hết
các nguồn thu từ thuế thuộc quyền quản lý của Chính phủ Trung ơng. Chính
quyền địa phơng, về lý thuyết, đợc phân bổ các nguồn thu theo chỉ tiêu do
Trung ơng quy định. Tuy nhiên, trên thực tế, việc phân bổ các nguồn thu và
các khoản chi ở địa phơng không phải đợc quyết định một cách nghiêm ngặt
từ trung ơng mà thờng đợc quyết định sau một loạt cuộc đàm phán giữa các
cấp chính quyền.
Cải cách hành chính.
Trên tinh thần thể chế hoá công tác quản lý quốc gia nhằm đảm bảo tính
giải trình trong các chi tiêu công cộng, cải cách hành chính là cần thiết nhằm
cải thiện việc cung cấp các dịch vụ công cộng của các cơ quan Nhà nớc thuộc
tất cả các cấp chính quyền. Cải cách hành chính bao gồm tổ chức lại quá trình
làm việc, nâng cao năng lực công chức để có tính chuyên môn cao hơn, các
Tiểu luận kinh tế vĩ mô
dịch vụ công cộng có tính hớng đích cao hơn với qui trình làm việc đơn giản
hơn và minh bạch hơn; hiệu quả hơn về chi phí và mang tính phục vụ cao hơn.
Chơng trình cải cách hành chính của Chính phủ đợc công bố vào tháng 3 năm
1995 và tập trung vào 3 lĩnh vực: cải cách về thể chế, cải cách bộ máy Nhà n-
ớc và cải cách ngành công chức. Báo cáo mới đây của Chính phủ về công tác
cải cách hành chính có đoạn viết: Nhiệm vụ cần đợc u tiên trong công tác cải
cách hành chính là tập trung lại tất cả mọi nhiệm vụ xây dựng quy chế và
phân cấp quyết định về các lĩnh vực kinh tế, xã hội cho chính quyền địa ph-
ơng (Ban TCCB Chính phủ, 1998). Cải cách hành chính đã đợc đa lên hàng
đầu trong chơng trình cải cách của Chính phủ và tất cả các Bộ cũng nh các
tỉnh đã thành lập Ban Cải cách hành chính của riêng mình. Vào cuối năm
1998, Ban chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ, do Thủ tớng Chính phủ

trờng. Hậu quả là tạo ra khoảng cách giữa công tác xây dựng chính sách và
thực hiện chính sách về cải cách hành chính. Vấn đề này đã trở nên tồi tệ hơn
bởi năng lực thực hiện còn yếu kém. Chính vì cha có một chiến lợc cải cách
hành chính rõ ràng nên mức độ nhất trí và quyết tâm thực hiện cong cuộc cải
cách này còn thấp và đã taọ điều kiện thuận lợi để cho những cơ chế không
chính thức tồn tại song song với những cơ chế chính thức gây ảnh hởng xấu
tới việc thực hiện mục tiêu cải cách.
Một khó khăn nữa là trong nhiều trờng hợp các cán bộ công chức còn
thiếu những kiến thức, kỹ năng và thái độ cần thiết cho việc thực hiện cải cách
hành chính một cách hiệu quả. Thiếu động cơ và hiệu quả trong công việc;
thiếu tinh thần thái độ phục vụ cũng là những vấn đề tồn tại. Những vấn đề
này cùng với việc không thực hiện nghiêm chỉnh những chính sách đổi mới
một phần xuất phát từ lý do thu nhập và lợi ích thấp. Chính phủ đã coi việc trả
lơng theo kết quả công tác nh một công cụ quản lý tốt, tuy nhiên việc đa công
cụ đó vào trong kế hoạch quản lý nguồn nhân lực sẽ là một phần trong cuộc
thảo luận của Chính phủ tiếp theo Hội nghị TƯ 7 bàn về cơ cấu tiền lơng và
chính sách công chức.
2. Khu vực t nhân.
Không có nớc nào trên thế giới có thể phát triển thành công mà không
cần đến một khu vực t nhân khoẻ khoắn và năng động nh là động lực chính tạo
ra công ăn việc làm, thu nhập, tiết kiệm trong nớc, đầu t và tăng trởng. Khu
vực t nhân, bao gồm cả nông nghiệp, chiếm khoảng 60% GDP, chủ yếu tập
trung vào các khu vực tạo ra giá trị gia tăng thấp với thu nhập thấp. Kết quả là
GDP chung của Việt Nam thấp với giá trị khoảng 352 đô la Mỹ trên đầu ngời
một năm. (Thậm chí nếu dùng cách tính thu nhập bằng đồng đô la ngang bằng
sức mua thì Việt Nam vẫn xếp thứ 133 trong 174 nớc về thu nhập bình quân
đầu ngời). Xuất phát từ những tiến bộ trong những năm gần đây cho thấy việc
tạo điều kiện để khu vực t nhân tham gia nhiều hơn vào quá trình phát triển
mở ra một số triển vọng rất lớn cho sự phát triển nhanh chóng và bền vững.
Hiện đã có một khu vực t nhân trong nớc làm về chế tạo tuy còn nhỏ nhng

ớng về thị trờng nhiều hơn, ngay cả khi các doanh nghiệp Nhà nớc vẫn giữ vai
trò chủ đạo trong một số lĩnh vực nhất định, thì khuôn khổ pháp lý cần đợc
tiếp tục tăng cờng hơn nữa để cho phép khu vực t nhân gánh vác trách nhiệm
của nó và trở thành động lực tăng trởng của đất nớc. Một khu vực t nhân thịnh
vợng có thể là lối thoát và con đờng để thu nhận những công chức d thừa vào
các hoạt động kinh tế. Bằng cách đó nó hỗ trợ cho công cuộc cải cách hành
chính và tinh giản bộ máy Nhà nớc. Chuyển giao cho khu vực t nhân một số
chức năng hiện đang đợc đảm nhiệm bởi Chính phủ với chi phí cao không
những tạo động lực cho khu vực t nhân mà còn tiết kiệm và sử dụng hiệu quả
hơn các nguồn kinh phí công cộng.
Thách thức chủ yế đối với Chính phủ trong việc khuyến khích khu vực t
nhân là làm sao đảm bảo đối xử công bằng giữa khu vực này với khu vực Nhà
nớc. Khi nguyên tắc này đã đợc đa vào trong khuôn khổ pháp lý, thì vấn đề
cấp bách là đối xử công bằng phải đợc thực hiện trên thực tế, chẳng hạn trong
lĩnh vực cho vay tín dụng.
3. Xã hội dân sự.
Nâng cao quyền lực và sự tham gia của dân.
Tiểu luận kinh tế vĩ mô
Bên cạnh việc cải tổ cơ cấu và chức năng của Chính phủ và tạo môi trờng
thuận lợi cho khu vực t nhân, việc nâng cao chất lợng quản lý quốc gia còn
phụ thuộc vào việc tăng cờng sự tham gia của dân ở tất cả các cấp. Để thực
hiện điều này, Chính phủ đã giành u tiên cao cho việc nâng cao tính công khai
minh bạch trong các cơ chế và chức năng của mình cũng nh việc tăng cờng sự
tham gia của những công dân bình thờng vào công tác quản lý quốc gia. Nghị
định 29/CP về quy chế dân chủ ở cơ sở (1998) đã giao cho chính quyền cấp xã
nhiệm vụ quan trọng là đảm bảo việc thực hiện các quyền của công dân. Nghị
định cũng hớng tới việc tăng cờng tính minh bạch của chính quyền cấp cơ sở,
yêu cầu cung cấp cho các hộ gia đình các thông tin về hoạt động của chính
quyền cơ sở và tài chính. Việc thực hiện nghị định này mới ở bớc đầu và vẫn
còn nhiều lĩnh vực phải triển khai trong việc tăng cờng sự tham gia cũng nh

chuyển biến đáng khích lệ, song những tổ chức này còn trẻ và còn bị hạn chế
bởi các điều kiện lịch sử, kinh tế và xã hội cũng nh bởi việc thiết một môi tr-
ờng pháp lý phù hợp. Vì vậy các tổ chức này cha phát triển đợc hết các tiềm
năng của nó để tham gia tích cực vào công cuộc phát triển đất nớc.
Sự nghiệp phát triển bền vững của Việt Nam phụ thuộc vào mối quan hệ
tơng hỗ mang tính cực và xây dựng giữa Chính phủ, khu vực t nhân và xã hội
dân sự. Xã hội dân sự ở Việt Nam chỉ có thể thực sự phát triển nếu chính phủ
coi đó nh là một đối tác quan trọng trong quá trình phát triển và tạo ra môi tr-
ờng thuận lợi để xã hội dân sự phát huy vai trò của mình.
Vấn đề giới trong vai trò quản lý quốc gia.
Bình đẳng một khái niệm cơ sở về quản lý quốc gia tốt là coi trọng
sự tham gia bình đẳng của nam và nữ trong các cơ quan quản lý cũng nh các
biện pháp quản lý mang tính nhạy cảm về giới. Sự bình đẳng nam nữ về mọi
phơng diện đã từ lâu đợc hiến pháp Việt Nam chính thức công nhận. Về phơng
diện tham gia vào cơ cấu chính trị. Việt Nam đã đạt đợc kết quả đáng kể trong
việc thực hiện mục tiêu của Chính phủ về việc tăng số lợng cán bộ nữ ở tất cả
các cấp chính quyền. Hiện nay, số đại biểu nữ trong Quốc hội đã tăng từ
18,5% (trong khoá trớc) lên 26,2%, cao hơn so với một số nớc phát triển. Mặc
dù vị thế của phụ nữ cũng nh mức độ công nhận vai trò tham gia và quyền lợi
của phụ nữ trong cơ cấu quản lý quốc gia đã đợc nâng cao nhờ có quyết tâm
chính trị mạnh mẽ và nhất quán, song vẫn tồn tại một khoảng cách khá lớn
giữa nam và nữ. Tuy sự tham gia của phụ nữ trong các cơ quan của Đảng cũng
nh các cơ quan lập pháp, hành pháp và t pháp đã tăng lên, song nam giới vẫn
chiếm hầu hết những vị trí có mức độ ảnh hởng lớn nhất. Trong công tác quản
lý công cộng, tỷ lệ tham gia của nữ cũng rất thấp. Điều đáng lu ý là càng
xuống gần cấp cơ sở ở dới thì sự tham gia của phụ nữ vào các cơ cấu quản lý
càng giảm. Cần phải tiếp tục thay đổi các thể chế và thái độ nhằm đáp ứng
những kỳ vọng nêu ra trong kế hoạch hành động vì sự tiến bộ của phụ nữ.
Bên cạnh việc giải quyết tình trạng bất cân đối về giới trong cơ cấu quản
lý quốc gia, còn phải lu ý các vấn đề giới liên quan tới quy trình quản lý quốc

- Công nhận và khẳng định một cách chính thức rõ ràng vai trò đặc biẹt
quan trọng của khu vực t nhân đối với công ăn việc làm, thu nhập, tiết kiệm
trong nớc và sự phát triển bền vững trong tơng lai là cần thiết để xoá bỏ các
rủi ro và tính không ổn định mà công tác kinh doanh đang phải đối mặt.
- Cải cách và phát triển một hệ thống ngân hàng dựa và thị trờng và có
tính hiệu quả nhằm bảo đảm tín dụng đợc phân bổ vào các doanh nghiệp bền
vững, hoạt động có lãi và tạo ra đợc công ăn việc làm.
- Tiếp tục cải cách doanh nghiệp Nhà nớc, đặc biệt là hạn chế việc cung
cấp tín dụng ngân hàng theo chỉ đạo của Nhà nớc cho các doanh nghiệp này
nhằm giải phòng vốn, đất đai và nguồn nhân lực có tay nghề cao cho khu vực
t nhân.
Tiểu luận kinh tế vĩ mô
- Tăng đáng kể đầu t vào công tác đào tạo các kỹ năng kinh doanh và các
khoá đào tạo thực hành liên quan tới vấn đề này.
- Qua việc tiếp tục hỗ trợ chính sách, soạn thảo và thực thi luật, tạo một
môi trờng thuận lợi cho đầu t t nhân trong nớc và nớc ngoài và khuyến khích
vai trò của khu vực t nhân nh là động lực tăng trởng kinh tế và tạo công ăn
việc làm.
- Tăng cờng năng lực của các tổ chức của khu vực t nhân nh Phòng Th-
ơng mại và Công nghiệp để tham gia một cách tích cực vào các cuộc thảo luận
chính sách.
- Thúc đẩy quan hệ đối tác giữa Chính phủ và các tổ chức thuộc khu vực
t nhân.
c) Xã hội dân sự.
- Tăng cờng vai trò và năng lực của các tổ chức xã hội dân sự, nh các tổ
chức phi chính phủ, các tổ chức ngành nghề, công đoàn, các viện nghiên cứu
và các trờng đại học.
- Khuyến khích đối thoại và nhất trí trên cơ sở hợp tác giữa Nhà nớc và
xã hội dân sự, đặc biệt trong lĩnh vực xã hội hoá các dịch vụ xã hội cơ bản.
- Đầu t vào các phơng tiện thông tin và truyền thông ở cấp địa phơng, ví

nớc ra.
Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung trớc đây, Chính phủ quyết định
tất cả. Có ngời đã lầm tởng rằng trong một nền kinh tế thị trờng, Chính phủ
không có vai trò đáng kể, mọi hoạt động sẽ chỉ do thị trờng quyết định. Đúng
là đã có những nền kinh tế thị trờng nh vậy, nhng đó là những nền kinh tế thị
trờng tồn tại cách đây nhiều thế kỷ trớc khi chủ nghĩa t bản độc quyền xuất
hiện. Kể từ khi chủ nghĩa t bản độc quyền xuất hiện, thì chính các độc quyền
đã tham gia điều tiết các hoạt động kinh tế. Sau chiến tranh thế giới th hai,
chính phủ tham gia điều tiết các hoạt động và mức độ tham gia ngày càng
nhiều tới mức ngày nay ở nhiều nớc phơng Tây ngời ta phải chủ trơng giảm
bớt sự điều tiết của Chính phủ, phi nhà nớc hoá. Nh vậy, cho đến nay tồn tại
song hành hai cơ chế, cơ chế thị trờng (bàn tay vô hình), và cơ chế điều tiết
của Chính phủ (bàn tay hữu hình). Gọi là hai cơ chế nếu chúng ta muốn tách
để xem xét chúng một cách tơng đối độc lập. Trên thực tế, chúng có quan hệ
với nhau rất chặt chẽ. Trong cơ chế thị trờng, cạnh tranh và độc quyền là hai
yếu tố chủ yếu chi phối. Cạnh tranh là một động lực phát triển của kinh tế thị
trờng nhng cũng có những khuynh hớng cạnh tranh phi kinh tế , dùng những
thủ đoạn bẩn thỉu để bóp chết lẫn nhau. Những khuynh hớng cạnh tranh không
lành mạnh nh vậy phải đợc ngăn chặn. Độc quyền đã có tác dụng tích cực thúc
đẩy quá trình tích tụ, tập trung các nguồn lực để phát triển, nhng độc quyền có
mặt thối nát của nó là bóp chết các sáng kiến. Nếu để cho thị trờng tự do tác
động, thì các khuynh hớng tích cực và tiêu cực cùng tác động, do vậy đã gây
ra các tác động không tốt cho sự phát triển của nền kinh tế. Những cuộc
khủng hoảng nghiêm trọng và đặc biệt là cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới
diễn ra vào năm 1929 1933 là một ví dụ nổi bật. Sự can thiệp của Chính
phủ chính là lạm hạn chế những tác động tiêu cực đó và hớng nền kinh tế phát
Tiểu luận kinh tế vĩ mô
triển có hiệu quả. Từ đó liên hệ tới vai trò của Chính phủ Việt Nam đặc biệt là
trong giai đoạn từng bớc công nghiệp hoá và hiện đại hoá.
Ai cũng thấy số nớc đạt đợc các thành tựu nổi bật về phát triển kinh tế

thông qua việc hoạch định các chiến lợc, chính sách, lụat pháp v.v
Thực tế ở Việt Nam cho thấy trong nhiều năm trớc Đại hội VI Đảng
Cộng sản Việt Nam, Chính phủ đã định hớng nền kinh tế không đúng, dờng
nh chỉ phát triển hớng nội xem nhẹ các ngành hớng vào xuất khẩu; u tiên phát
triển công nghiệp nặng kém hiệu quả, không chú trọng tới các ngành có khả
năng tăng trởng nhanh, hiệu quả lớn; chỉ chú trọng phát triển mở rộng khu vực
Tiểu luận kinh tế vĩ mô
kinh tế Nhà nớc, tập thể, xoá bỏ kinh tế t nhân, cá thể; ptkt kế hoạch, xoá bỏ
kinh tế thị trờng v.v Với một hớng đi lệch lạc nh vậy, kinh tế Việt Nam đã
hoạt động kém hiệu quả và rời vào tình trạng lạm phát phi mã và khủng hoàng
sâu sắc. Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam mới bớc đầu nắn lại hớng đi của
nền kinh tế: chuyển hớng thực hiện 3 chơng trình kinh tế: sản xuất lơng thực
thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu; chuyển mạnh sang kinh tế
thị trờng trên cơ sở đa dạng hoá hình thức sở hữu, xoá bỏ cơ chế kinh tế kế
hoạch tập trung, bao cấp, v.v nền kinh tế mới bớc đầu chuyển sang một hớng
đúng, ta đã thấy xuất hiện các yếu tố năng động tích cực và thấy rõ hớng đi
lên thoát khỏi khủng hoảng của nền kinh tế.
Trong điều kiện hiện nay ở nớc ta, vai trò của Chính phủ đặc biệt quan
trọng. Chính phủ không đơn thuần là ngời trọng tài, ngời định hớng, định luật
chơi mà mức độ can thiệp, mức độ tác động trực tiếp của Chính phủ là mạnh
và rộng hơn. Trong giai đoạn từng bớc công nghiệp hoá và hiện đại hoá này,
điều kiện quan trọng cho những thành công kinh tế của Việt Nam là Việt Nam
phải có một Chính phủ mạnh về trí tuệ có khả năng định hớng đúng đắn sự
phát triển của nền kinh tế đất nớc.
Vấn đề đặt ra là trong khi nhấn mạnh vai trò tất yếu và hết sức quan
trọng của Chính phủ trong quản lý kinh tế, chúng ta không chỉ khẳng định sự
can thiệp của chiến lợc đối với các quá trình kinh tế, mà phải xác định rõ
Chính phủ thực hiện vai trò quản lý của mình nh thế nào, bằng cách thức nào
để nhận thức rõ ranh giới quyền lực của mình, không xâm phạm quyền tự chủ
kinh doanh của doanh nghiệp, tức là đảm bảo quyền tự chủ của doanh nghiệp.

có những đặc biệt trong thực hiện.
- Chú ý tới đào tạo và y tế.
- Có sự liên kết hỗ trợ về vốn giữa khu vực Nhà nớc và khu vực t nhân.
Các chơng trình đầu t của Nhà nớc phải đợc thiết kế nhằm tăng hiệu quả của
cả hai khu vực Nhà nớc và t nhân.
- Tránh mọi sự không rõ ràng.
Chính phủ tạo điều kiện để quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đợc
phát triển nhanh chóng bằng cách:
Chính phủ tạo chỗ làm việc, giải toả sức ép về công ăn việc làm, lao động
đang có xu hớng tăng lên trong nền kinh tế. Công nghiệp hoá nh là một phơng
thức làm thay đổi cơ cấu kinh tế của đất nớc có một sứ mạng hết sức quan
trọng trong việc phát huy nguồn nhân lực rất tiềm tàng hiện còn cha đợc toàn
dụng và đang trở thành một sức ép lớn đối với nền kinh tế. Trong điều kiện cụ
thể của nớc ta trong những năm đầu của quá trình công nghiệp hoá, sự chuyển
dịch cơ cấu ngành sẽ chuyển hớng mạnh vào những ngành sản xuất và dịch vụ
cần nhiều lao động để có thể thu hút và giải toả sức ép về công ăn việc làm
đang căng thẳng trong xã hội, để rồi khi sức ép này không còn gay gắt nữa ,
trọng tâm của chuyển dịch cơ cấu ngành sẽ chuyển hớng mạnh vào các ngành
Tiểu luận kinh tế vĩ mô
khác, loại công nghệ khác. Quan điểm nh vậy sẽ tác động trực tiếp tới việc
hoạch định chính sách công nghệ trong lĩnh vực sản xuất.
Chính phủ hớng vào cơ cấu nghiên cứu nhiều tầng với sự định hớng vào
những công nghệ mũi nhọn, tiên tiến một cách hiệu quả. Quá trình công
nghiệp hoá đất nớc một mặt hớng vào giải quyết những vấn đề nóng bỏng, cấp
bách hiện tại , nhng đồng thời cũng phải hớng tới và chuẩn bị những tiền đề
cần thiết cho tơng lai gần (10-20 năm) và tơng lai xa (20-30 năm). Định hớng
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng công nghiệp hoá bao gồm xây dựng cơ
cấu công nghệ nhiều quy mô, nhiều trình độ, hớng hiện đai. Cơ cấu xã hội,
phân công lao động xã hội không chỉ là chất kết dính các ngành kinh tế với
nhau, mà còn cả các tầng công nghệ với t cách là một bộ phận cấu thành quan

mọi ngời trong xã hội nhất là những ngời nghèo. Vấn đề lớn nhất đặt ra trong
quá trình công nghiệp hoá là phân phối kết quả của phát triển kinh tế thông
qua công nghiệp hoá đến đợc với mọi ngời dân trong xã hội, mọi vùng, mọi
khu vực của đất nớc. Quan điểm về sự thống nhất giữa hiệu quả kinh tế và
hiệu quả xã hội đồng thời cũng nhấn mạnh sự cần thiết tất yếu nâng cao vai
trò tích cực của Nhà nớc trong việc điều tiết quá trình công nghiệp hoá.
2. Quá trình chuyển đổi
Sau thống nhất hai miền Nam Bắc, đất nớc đã phải đơng đầu với hai
thách thức to lớn: Khắc phục hậu quả chiến tranh và thống nhất về kinh tế.
Trong những năm sau đó, mô hình kế hoạch hoá tập trung, đã từng thực hiện ở
miền Bắc, đợc mở rộng trong cả nớc với ý kiến t vấn và hỗ trợ của Liên Xô
(cũ) và các nớc khác trong Hội đồng tơng trợ Kinh tế.
Đến giữa thập kỷ 80, những yếu kém của mô hình kế hoạch hoá tập trung
đã bắt đầu hiện rõ. Đất nớc bớc vào một thời kỳ khủng hoảng kinh tế - xã hội
và tình hình ngày trở lên nghiêm trọng hơn vì nguồn viện trợ từ các nớc trong
Hội đồng tơng trợ Kinh tế dần dần bị cạn kiệt. Để đối phó với cuộc khủng
hoảng này, năm 1986 Đại hội lần thứ 6 của Đảng cộng sản Việt Nam đã quyết
định đa Việt Nam vào con đờng đổi mới, nhằm cải tổ nền kinh tế kế hoạch
hoá tập trung và phân cấp quản lý Nhà nớc.
Về mặt kinh tế, quá trình đổi mới có hai trọng tâm chính:
- Thực hiện tự do hoá thị trờng ở mức độ đáng kể và thực hiện chính sách
mở cửa về thơng mại, đầu t trực tiếp nớc ngoài và viện trợ phát triển chính
thức.
13 Năm sau khi phát động sự nghiệp đổi mới, nền kinh tế đợc kích thích
bởi những biện pháp cải cách theo định hớng thị trờng đã giúp Việt Nam khắc
phục đợc cú sốc sau khi các nớc trong Hội đồng tơng trợ Kinh tế chấm dứt
viện trợ, vợt qua cuộc khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng trong những năm 80
và đi vào giai đoạn tăng trởng kinh tế nhanh chóng trong những năm 90. Đối
với nhân dân Việt Nam, sự nghiệp hiện đại hoá, tăng trởng kinh tế và công
nghiệp hoá nhìn chung đã góp phần nâng cao mức sống của họ. Đáng ghi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status