Đề tài: Logic của việc đi từ khái niệm sở hữu t nhân đến lao động tha hoá và
phân công lao động - Thực tiễn trong quá trình đổi mới kinh tế ở Việt Nam
phần mở đầu
1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu:
Sự nghiệp đổi mới đất nớc đã diễn ra hơn mời năm. Qua quá trình phấn
đấu gian gian khổ, vợt mọi khó khăn thử thách đến nay công cuộc đổi mới
của chúng ta đã giành đợc những thành tịu to lớn, có ý nghĩa rất quan trọng
trên nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội, chính trị, đối nội, đối ngoại. Đời sống
của phần lớn nhân dân đợc cải thiện. Đất nớc ổn định và phát triển, tiếp tục
chuyển sang thời kỳ mới: đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Trong sự nghiệp ấy, lý luận kinh tế chính trị Mác - Lê Nin đã đợc vận
dụng và phát triển sáng tạo. Nó là vũ khí lý luận sắc bén để nhận thức, làm
rõ bản chất cuả các quá trình và hiện tợng kinh tế xã hội, góp phần làm cơ
sở cho việc hoặch định đờng lối chính sách phát triển đất nớc.
Muốn nhận biết và phân biệt sự giống nhau và khác nhau của các giai
đoạn lịch sử xã hội thì không thể bỏ qua nhận thức về các vấn đề sở hữu, sở
hữu t nhân, lao động tha hoá, phân công lao động xã hội
Theo Lênin, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, có sự tồn tại
khách quan lâu dài của các thành phần kinh tế, các laọi hình sở hữu, phải sử
dụng ngay cả t hữu t bản chủ nghĩa để xây dựng xã hội. Cải biến t hữu nhỏ
phải là quá trình lâu dài, kiên trì trên nguyên tắc "tự nguyện". Đây là vấn
đề cốt lõi để đa nhân dân lao động đi lên chủ nghĩa xã hội
Những điều đó đòi hỏi nhà nớc phải biết vận dụng cả một hệ thống
công cụ để quản lý nề kinh tế hàng hoá vận động theo cơ chế thị trờng.
2. Mục đích nghiên cứu:
Phân tích làm rõ logic của việc đi từ khái niệm sở hữu t nhân đến lao
động tha hoá và phân công lao động, thực tế trong sự nghiệp đổi mới và
phát triển kinh tế ở nớc ta hiện nay.
Tiểu luận
1
Đề tài: Logic của việc đi từ khái niệm sở hữu t nhân đến lao động tha hoá và
lịch sử cụ thể của con ngời, những đối tợng dùng vào mục đích sản xuất và
phi sản xuất. Sở hữu luôn gắn liền với vật dụng - đối tợng của sự chiếm hữu.
Đồng thời sở hữu không chỉ đơn thuần là vật dụng, nó còn là quan hệ giữa
con ngời với nhau về vật dụng.
Quan hệ sở hữu có thể là những quan hệ về kinh tế và pháp lý. Nói
cách khác, quan hệ sở hữu về kinh tế là hiện diện của bộ mặt pháp lý, theo
nghĩa rộng quan hệ sở hữu kinh tế là tổng hoà các quan hệ sản xuất - xã hội,
tức là các quan hệ của các giai đoạn tái sản xuất xã hội. Những phơng tiện
sống, bao gồm những quan hệ sản xuất trực tiếp, phân phối, trao đổi, lu
thông và tiêu dùng đợc xét trong tổng thể của chúng. Quan hệ sở hữu pháp
lý là tổng hoà các quan hệ sở hữu, sử dụng và quản lý. Những quan hệ này
tạo ra và ghi nhận các quan hệ kinh tế qua các nguyên tắc và chuẩn mực
pháp lý. Để nêu bật sự thống nhất của các quan hệ sở hữu cả phơng diện
kinh tế và pháp lý.
Sở hữu về mặt pháp lý đợc xem là quan hệ giữa ngời với ngời về đối t-
ợng sở hữu. Thông thờng về mặt pháp lý, sở hữu đợc ghi trong hiến pháp,
luật của Nhà nớc, nó khẳng định ai là chủ thể của đối tợng sở hữu.
Sở hữu về mặt kinh tế biểu hiện thông qua thu nhập, thu nhập ngày
càng cao, sở hữu về mặt kinh tế ngày càng đợc thực hiện. Sở hữu luôn hớng
tới lợi ích kinh tế, chính nó là động lực cho hoạt động kinh tế.
Sự vận động, phát triển của quan hệ sở hữu về hình thức, phạm vi mức
độ không phải là sản phẩm của chủ quan mà là do yêu cầu của qui luật quan
Tiểu luận
3
Đề tài: Logic của việc đi từ khái niệm sở hữu t nhân đến lao động tha hoá và
phân công lao động - Thực tiễn trong quá trình đổi mới kinh tế ở Việt Nam
hệ sản xuất phù hợp với tính chất trình độ của lực lợng sản xuất. Hay là sự
vận động của quan hệ sở hữu là quá trình lịch sử tự nhiên. Sự biến động của
quan hệ sở hữu xét cả về mặt chủ thể và đối tợng sở hữu.
Đối tợng sở hữu: Trong xã hội cộng sản nguyên thuỷ là cái có sẵn
của lực lợng sản xuất sau ba cuộc phân công lao động xã hội:
Lần 1: Nghành chăn nuôi tách khỏi trồng trọt.
Lần 2: Thủ công nghiệp tách khỏi công nghiệp.
Lần 3: Với sự xuất hiện của tầng lớp Thơng nhân
Do năng xuất lao động đã cao hơn trớc, con ngời có kinh nghiệm hơn
Trong xã hội có sản phẩm d thừa và xuất hiện những ngời chiếm đoạt
của cỉa d thừa đó và trở thành giàu có (t hữu riêng) lại có những ngời ngời
do yếu kém mà nghèo đói .Tất cả đẩy nhanh quá trình phân hoá tầng lớp
xã hội và giai cấp xuất hiện. Có giai cấp thì tất yếu có đấu tranh giai cấp.
Để cuộc đáu tranh giai cấp nằm trong vòng trật tự nhất định không phá vỡ
xã hội thì có một tổ chức đặc biệt ra đời, tựa hồ nh đứng trên xã hội và quản
lý xã hội. Đó là Nhà nớc.
Qua sơ đồ trên cho ta thấy sở hữu t nhân trong các phơng thức sản xuất
khác nhau của lịch sử phát triển của loài ngời với tính chất và mức độ thể
hiện khác nhau :
Trong chế độ chiếm hữu nô lệ: Pháp luật của nhà nớc chủ nô duy trì và
bảo vệ chế độ sở hữu của chủ nô đối với tất cả các t liệu sản xuất của
xã hội ngay cả sở hữu bản thân ngời nô lệ (nô lệ là công cụ biết nói
không đợc xem là ngời ). ở đây trình độ t hữu của còn thấp nhng tính
chất khắc nghiệt và bất bình đẳng là tuyệt đối.
Trong xã hội phong kiến: Sở hữu đẳng cấp phong kiến thể hiện rõ ở
chế độ "phong tớc, cấp điền " của các vua chúa phong kiến. Nhà nớc
và pháp luật phong kiến bảo vệ, duy tì chế dộ sở hữu của địa chủ lãnh
Tiểu luận
5
Đề tài: Logic của việc đi từ khái niệm sở hữu t nhân đến lao động tha hoá và
phân công lao động - Thực tiễn trong quá trình đổi mới kinh tế ở Việt Nam
chúa phong kiến đối với ruộng đất và duy trì tình trạng nửa phong kiến
cuả nông dân và giai cấp phong kiến.
Lao động tha hoá: Theo Mác phạm trù lao động đợc hiểu là lao động
tha hoá (trở thành một phạm trù triết học) (do sự tha hoá, "lao động chính là
t bản " - do sản phẩm của lao động thuộc về t bản, trở thành t bản ) T-H-T'
(T và T' là t bản -> H cũng là t bản).
Trớc hết phải hiểu về "tha hoá" (đợc trình bày rõ nhất trong triết học
của Hêgel). Tha hoá có nghĩa là một sự tồn tại, nhng đã đánh mất bản chất.
Tha hoá phải đợc xem xét trong từng quan hệ cụ thể (tức là chỉ có thể nói
rằng tha hoá hay không tuỳ theo việc xét tong từng quan hệ.)
Lao động tha hoá tức là sản phẩm do lao động sản xuất ra nhng lại trở
thành lực lợng đối lập với lao động do nó đã thuộc về ngời khác.
Phân công lao động:
Một khi có phân công lao động thì mỗi ngời đều có 1 phạm vi hoạt
động nhất định mang tính chất đoọc chuyên (chuyên môn hoá cố định vào
một việc) và hệ quả là ngời này muốn sống thì cứ phải gắn chặt vào việc đó,
không thể thoát ra đợc vì không muốn mất đi những điều kiện sinh tồn của
mình.
Lịch sử của phân công lao động, đầu tiên xuất hiện hái lợm, rồi săn
bắn (lấy sản vật tự nhiên) -> xuất hiện trồng trọt và chăn nuôi. Kèm theo
quá trình trên là tách lao động thơng nghiệp và công nghiệp ra khỏi lao
động nông nghiệp, lao động trí óc ra khỏi lao động chân tay, tách thành thị
khỏi nông thôn -> Sinh ra đối lập, sự lệ thuộc cá nhân vào phân công lao
động. Có một sự phân biệt trong quá trình phân công lao động, ngời nào có
năng lực chế ngự đợc tự nhiên thì là ngời chủ
Tiểu luận
7
Đề tài: Logic của việc đi từ khái niệm sở hữu t nhân đến lao động tha hoá và
phân công lao động - Thực tiễn trong quá trình đổi mới kinh tế ở Việt Nam
II. Quá trình phát triển t duy của Mác - Logic của việc đi từ
khái niệm sở hữu t nhân đến lao động tha hoá và phân
công lao động :
Lôgíc nghiên cứu: từ một hiện thực cụ thể (sự hiểu các tính qui định,
các đặc tính của nó chỉ mang tính cảm tính => có thể coi nh một phạm trù
rỗng). Qua quá trình trừu tợng hóa, dần dần sẽ đi đến điểm trừu tợng nhất
(về mặt lôgíc). Tới đó, bản chất hiện thực sẽ có thể đợc hiểu đợc xuất hiện.
Nhng để ngời khác có thể hiểu, phải trình bày. Sự trình bày lại đi theo một
quá trình hoàn toàn ngợc lại - đi từ một hiện thực cụ thể (nhng tới giờ đã
hoàn toàn là lý tính, đi từ cái trừu tợng nhất).
Để có một nhận thức cảm tính ban đầu, Mác cũng đã phải đọc một
khối lợng tài liệu khổng lồ, từ đó mới có thể trừu tợng hóa.
Quá trình t duy của Mác:
Từ 3 cặp phạm trù trên: Lao động tha hóa -> phân công lao động ->
khái niệm giá trị > đến một điểm nào đó, biến thành t bản (hiện thực của
t bản còn phong phú hơn nhiều so với khái niệm giá trị) -> các khái niệm
khác: Giá trị thặng d (tuyệt đối và tơng đối), lịch sử sản xuất (trong đó quan
trọng nhất là khái niệm giá trị thặng d tơng đối), vận động trong trạng thái
tĩnh của t bản (tức là lúc đó đã cố định t bản, cho t bản vận động khi các
điều kiện khác không đổi) từ đó đi đến lý thuyết mức lợi nhuận bình
quân giảm -> sự cáo chung của chủ nghĩa t bản. Cho đến đó, lại tái hiện lại
khái niệm ban đầu - T bản.
Thực chất, đi đến khái niệm giá trị là đã đến điểm trừu tợng nhất. Theo
Mác, phạm trù lao động đợc hiểu là lao động tha hóa (trở thành một phạm
trù triết học) (do sự tha hóa, "lao động chính là t bản" - do sản phẩm của lao
Tiểu luận
9
Đề tài: Logic của việc đi từ khái niệm sở hữu t nhân đến lao động tha hoá và
phân công lao động - Thực tiễn trong quá trình đổi mới kinh tế ở Việt Nam
động thuộc về t bản, trở thành t bản). T - H - T' (T và T' là t bản -> H cũng
là t bản).
Trớc hết phải hiểu về "tha hóa" (đợc trình bày rõ nhất trong triết học
của Hêgel). Tha hóa có nghĩa là một sự tồn tại, nhng đã đánh mất bản chất.
mang bản chất ngời, lại trở thành bản chất vật. Đã từng có một thời, tuy lao
động không phát triển nh lao động trong chủ nghĩa t bản, nhng lao động
mới đợc coi là lao động (ngời ta muốn lao động), còn trong chủ nghĩa t bản,
tuyệt nhiên lao động thuộc về ngời khác -> lao động là sự khổ sai.
Để hiểu chủ nghĩa t bản, phải xuất phát từ lao động tha hóa. Theo Mác, lao
động tha hóa chính là sở hữu t nhân (thuộc về A, tức là không thuộc những
ngời khác). Bởi lao động tha hóa là lao động thuộc về ngời khác, mà không
thuộc về mình. ở chỗ khác, ông lại viết: "Sở hữu t nhân là sản phẩm của lao
động bị tha hóa".
Cho nên, để có thể hiểu bản chất sở hữu t nhân, phải hiểu bản chất của
lao động tha hóa (hay tại sao lao động lại bị tha hóa ?).
Đó là một bớc tiến lớn về lý luận (muốn hiểu CNTB phải từ lao động
của con ngời). Trong KTCT trớc Mác, khi bàn về kinh tế thị trờng, chỉ bàn
tới của cải. Khi đã đạt đến phạm trù lao động tha hoá, Mác bắt đầu chuyển
sang phê phán. Ông đề cập tới rất nhiều các trờng phái nh trọng thơng,
trọng nông, KTCT t sản cổ điển Các trờng phái đó cũng đều đã đề cập đến
lao động. Qua những phân tích đó, Mác rút ra nhận xét: muốn hiểu đợc lao
động tha hóa, phải hiểu đợc phân công lao động và trao đổi.
Phân công lao động là một điểm then chốt để có thể hiểu Mác và đó là
một bớc nhảy thực sự. Cuốn "Bản thảo kinh tế - triết học" là nền tảng trong
cách đặt vấn đề của Mác.
Tiểu luận
11
Đề tài: Logic của việc đi từ khái niệm sở hữu t nhân đến lao động tha hoá và
phân công lao động - Thực tiễn trong quá trình đổi mới kinh tế ở Việt Nam
Cuốn tiếp theo, trình bày rõ hơn, hệ thống hơn và tiến gần thêm một
chút - tác phẩm "Hệ t tởng Đức" - cuốn trình bày hệ thống nhất về quan
điểm của Mác.
Một khi có phân công lđ thì mỗi ngời đều có 1 phạm vi hoạt động nhất
định mang tính chất độc chuyên (chuyên môn hóa cố định vào 1 việc) và hệ
Trao đổi là trao đổi chủ yếu giữa lao động của con ngời với sản
phẩm tự nhiên.
Với trình độ phân công lao động thì không cần trí tuệ cao (chỉ
cần xoá mù chữ) không có nhu cầu tách lao động trí óc ra khỏi
chân tay.
Sự thống trị của ngời có sở hữu với ngời không có sở hữu đợc
thực hiện dựa vào quan hệ cá nhân trực tiếp thông qua cộng
đồng.
So sánh với trình độ phân công lao động công nghiệp:
Không phải lực lợng tự nhiên quyết định mà chủ yếu nhờ vào
công cụ do lao động tạo ra (công cụ là lao động vật hóa). Khi
đó, quan hệ lao động vật hóa quyết định quan hệ giữa ngời với
ngời, hay ngời có quyền sở hữu lao động vật hóa quyết định.
Bắt đầu phát triển trao đổi hàng hóa, thơng mại. Nhng không
phải nh trớc, mà bản chất quan hệ thơng mại ở trình độ này
không có biên giới. Chênh lệch về giá cả khiến cho hoạt động
thơng mại vợt qua mọi quốc gia. Khi đã có sự trao đổi, nó giả
định các cá nhân độc lập với nhau (độc lập, tự do trong lựa
chọn), hay nó đồng nghĩa với một mệnh đề: kinh tế thị trờng
dẫn tới sự tự do cá nhân (do bắt nguồn từ dân chủ trong kinh tế).
Quan hệ lao động chủ yếu là quan hệ giữa ngời với ngời.
Tiểu luận
13
Đề tài: Logic của việc đi từ khái niệm sở hữu t nhân đến lao động tha hoá và
phân công lao động - Thực tiễn trong quá trình đổi mới kinh tế ở Việt Nam
Giả định là phải có phân công lao động trí óc và lao động cơ
bắp, do đòi hỏi phải có tri thức (để có thể sáng tạo công cụ).
Sự thống trị của ngời có sở hữu với ngời không có sở hữu
không phải dựa vào quan hệ cá nhân trực tiếp thông qua cộng
đồng, mà sự thống trị thông qua một quan hệ vật chất cụ thể,
hóa của lao động). Phân công lao động -> Sở hữu t nhân -> lao động tha
hóa, nhng để hiểu lao động tha hóa, lại phải xem lại phân công lao động.
Chủ nghĩa Cộng sản nh định nghĩa của Mác là thủ tiêu sở hữu t nhân.
Muốn có điều đó, phải thay đổi tất cả các điều kiện trong đó lao động của
con ngời bị tha hóa -> phải thủ tiêu phân công lao động làm cho lao động bị
tha hóa. Nhng đó phải là một quá trình tự nhiên, tự thân nó nảy sinh yếu tố
xóa bỏ nó.
Khi Mác nói, sản phẩm của lao động không thuộc lao động (cá nhân)
mà nó thuộc về ngời khác - hay những t liệu sản xuất còn lại không thuộc
về một cá nhân (hay những cá nhân rời rạc - đa số cá nhân) mà thuộc về
một lực lợng nào đó khác với từng cá nhân, hay thuộc về xã hội (dới hình
thái những nhà t bản) và hình thái chiếm hữu t liệu sản xuất này là t nhân.
Mâu thuẫn giữa lao động mang tính cá nhân và lực lợng sản xuất mang
tính xã hội. Để có thể xóa bỏ mâu thuẫn đó, tất yếu chỉ có xóa bỏ sơ hữu t
nhân.
Phân công lao động phát hiện ra phạm trù giá trị - đây là điểm mấu
chốt nhất để có thể hiểu học thuyết Mác. Bớc chuyển này rất phức tạp và ít
đợc Mác viết một cách trực diện. Trong sự phân công lao động này, con ng-
ời bị cố định trong một công việc, trở thành một bộ phận trong cỗ máy xã
hội. Kiểu phân công lao động đó mới dẫn tới lao động tha hóa (sau này còn
nghiên cứu về kiểu phân công lao động khác)
Tiểu luận
15
Đề tài: Logic của việc đi từ khái niệm sở hữu t nhân đến lao động tha hoá và
phân công lao động - Thực tiễn trong quá trình đổi mới kinh tế ở Việt Nam
III. Giải quyết vấn đề sở hữu t nhân, lao động tha
hoá để tạo động lực phát triển kinh tế trong
sự nghiệp đổi mới:
1. Trong mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội trớc đây , vì nhiều lý do
khách quan và chủ quan đã dẫn tới việc xoá bỏ một cách nhanh chóng các
hình thức sở hữu khác ở mỗi dân tộc phụ thuộc vào điều kiện lịch sử - cụ
thể ở mỗi nớc, vào tình hình trong nớc và quốc tế, vào nhân tố chủ quan,
tìm cách vận dụng qui luật khách quan, vào nhân tố tích cực trong hệ thống
chính trị mỗi nớc.
2. Ngày nay, công cuộc đổi mới ở nớc ta đang tìm những hình thức kinh tế
để khắc phục tính chất trái tự nhiên của chế độ công hữu hình thức trớc đây,
để chuyển một cách tự nhiên phù hợp giữa chế độ sở hữu về t liệu sản xuất
với sự phát triển kinh tế theo định hớng XHCN.
Chúng ta đã tìm cách khắc phục chế độ công hữu hình thức trớc đây
nhằm khơi dậy những động lực, làm cho nền kinh tế khởi sắc, sống động.
Trong nông nghiệp; thực hiện khoán 100 (theo chỉ thị 100 của Ban Bí Th),
những công cụ cầm tay đã hoàn toàn thuộc về sở hữu của ngời lao động.
Đến khoán 10 (theo Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị ), quyền sở hữu về trâu,
bò, cày, bừa, máy móc và quyền sử dụng ruộng đất lâu dài đã đợc trao cho
nông dân. Ngày nay, hộ nông dân đã trở thành đơn vị sản xuất tự chủ,
nhiều hộ ở một số vùng đã trở thành đơn vị sản xuất hàng hoá. Với t cách
ngời chủ t liệu sản xuất, quan hệ với thị trờng, ngời lao động đã quan tâm
đến hiệu quả t liệu sản xuất và sức lao động.
Ngoài ra, trong xã hội T bản chủ nghĩa, ngời lao động: Tách rời T liệu
sản xuất và sức lao động, không có quyền tổ chức quản lý, không có quyền
phân phố và chi phối sản phẩm lao động mà mình làm ra.
Trong khi đó lao động tha hoá: Lao động là bản chất con ngời, con ng-
ời bằng lao động và cũng chính lao động đã làm biến đổi chính bản thân
Tiểu luận
17
Đề tài: Logic của việc đi từ khái niệm sở hữu t nhân đến lao động tha hoá và
phân công lao động - Thực tiễn trong quá trình đổi mới kinh tế ở Việt Nam
con ngời. Thì giờ đây nó trở thành lực lợng đối lập với con ngời, thống trị
con ngời.
Sản phẩm của lao động -> Lực lợng thống trị con ngời.
động theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc. Trong khi cần phải
thúc đẩy lực lợng sản xuất còn thấp kém phát triển thì tất yếu phải thừa
nhận các hình thức sở hữu, sở hữu t nhân, lao động tha hoá và phân công
lao động đa dạng tồn tại đan xen, hoà quyện với nhau, bổ xung và cùng
phát triển.
Hiện nay việc hoàn thiện cơ sở lý luận và tổng hợp thực tiễn của các
vấn đề lớn nói chung và một phần khía cạnh các vấn đề: sở hữu t nhân, lao
động tha hoá và phân công lao động là vấn đề bức xúc cần giải quyết, để n-
ớc ta phát huy đợc "nội lực", lại mở cửa, hoà nhập tranh thủ sự giao lu hợp
tác quốc tế và chống đợc 4 nguy cơ: tụt hậu, chệch hớng, diễn biến hoà
bình, tham nhũng và buôn lậu Tất cả nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp
để nâng cao đời sống nhân dân, phát triển bền vững đất nớc, nâng cao thế
và lực của Việt Nam trên trờng quốc tế./.
Tài liệu tham khảo
1. C.Mác và Ănghen: Tuyên ngôn của Đảng cộng sản toàn tập, tập 4
Tiểu luận
19
Đề tài: Logic của việc đi từ khái niệm sở hữu t nhân đến lao động tha hoá và
phân công lao động - Thực tiễn trong quá trình đổi mới kinh tế ở Việt Nam
2. C.Mác và Ănghen: Toàn tập, tập 5, tập 2
3. V.I Lênin toàn tập 32,36,43,44,45 - NXB tiến bộ Matxcơva
4. Văn kiện Đại hội Đảng VI,VII, VIII
5. Bài giảng Kinh tế Kinh điển 06/2001- Khoa Kinh tế Đại học Quốc
Gia Hà Nội
6. Kinh tế chính trị Mác - Lênin, tập 1, 1997, NXB Giáo dục.
7. Kinh tế chính trị Mác - Lênin, tập 2, 1990, NXB Giáo dục.
8. Những nhận thức kinh tế chính trị trong giai đoạn đổi mới ở Việt
Nam, 1998, NXB Chính trị quốc gia.
9. Tạp chí nghiên cứu kinh tế, 243 - tháng 8/1998
10.Tạp chí nghiên cứu kinh tế, 244 - tháng 9/1998