Lời nói đầu
Chúng ta biết rằng duy trì ổn định kinh tế vĩ mô là yêu cầu cần thiết để
tăng trởng kinh tế và là mục tiêu hàng đầu, tập trung các chính sách kinh tế
của chính phủ. Một trong những công cụ mà chính phủ sử dụng để tác động
vào nền kinh tế đó là chính sách tỉ giá.
Tỷ giá hối đoái xuất hiện cùng với sự xuất hiện của thơng mại quốc tế
trên cơ sở sản xuất, trao đổi và sử dụng những lợi thế khác nhau trong phân
công lao động quốc tế. Trong điều kiện nền kinh tế thế giới ngày nay, khi mà
các quá trình quốc tế hoá đã bao trùm tất cả các hoạt động sản xuất kinh
doanh và trong cuộc sống thì sự gia tăng của hiệp tác quốc tế nhằm phát huy
và sử dụng những lợi thế so sánh của mình làm cho việc quản lý tỷ giá hối
đoái ngày càng quan trọng trong đời sống kinh tế của mỗi quốc gia. Vì vậy
việc quản lý tỷ giá hối đoái đòi hỏi phải có sự quan tâm sâu sắc của chính phủ
để có thể đa ra những chính sách tỷ giá hợp lý nhất, phù hợp với điều kiện của
nền kinh tế để có thể cạnh tranh đợc trên thị trờng quốc tế từ đó đạt đợc mục
tiêu phát triển kinh tế.
Để có thể hiểu biết thêm về tỷ giá hối đoái, về những ảnh hởng của nó
đến thị trờng, đến nền kinh tế vĩ mô, trong khuôn khổ đề tài này, em xin trình
bày một số vấn đề về tỷ giá hối đoái, ảnh hởng của nó và một số biện pháp
để có thể nâng cao hiệu quả hoạt động của tỷ giá hối đoái trong giai đoạn
hiện nay. Trong đề án này có những nội dung chính nh sau:
Chơng I : Tổng quan chung về hệ thống tỷ giá hối đoái
Chơng II: Hệ thống tỷ gía hối đoái ở Việt Nam
Chơng III: Những giải pháp hoàn thiện tỷ giá hối đoái
Vì chuyên môn và kiến thực tế còn hạn chế cộng với những hạn chế
trong việc thu thập tài liệu, do đó trong đề án này không tránh khỏi những
khiếm khuyết. Vì vậy, em mong đợc sự chỉ bảo tận tình của các thầy cô và các
bạn, giúp em có cách nhìn sâu hơn về vấn đề và hoàn thành tốt hơn cho những
công trình tiếp theo.
Cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ và đóng góp ý kiến quý
báu của các thầy, cô giáo trong khoa đặc biệt là thầygiáo-Tiến sĩ Nguyễn Hữu
đề này phải phân biệt đợc tỷ giá hối đoái danh nghĩa và tỷ giá hối đoái thực.
2
Tỷ giá hi đoái danh nghĩa là một khái niệm tiền tệ phản ánh mức giá tơng đối
của hai đồng tiền trong khi tỷ giá hối đoái thực lại phản ánh mức giá tơng đối
giữa hai loại hàng hoá. Chính xác hơn, tỷ giá hối đoái thực là mức giá tơng đối
của những hàng hoá mậu dịch tơng ứng với các hàng hóa phi mậu dịch. Nh
vậy điểm cân bằng của tỷ giá thực sẽ tơng ứng với giá so sánh giữa hàng hoá
thơng mại hoá và hàng hoá không thơng mại hoá đem lại đồng thời sự cân
bằng nội và cân bằng ngọai. Cân bằng nội có nghĩa là thị trờng hàng hoá
không thơng mại hoá đợc thanh toán liên tục, cân bằng ngoại có nghĩa là thâm
hụt cán cân vãng lai đợc tài trợ một cách bền vững từ luồng vốn nớc ngoài.
Một trong những nhân tố quan trọng nhất của tỷ giá hối đoái thực (RER)
là vị trí cạnh tranh quốc tế của quốc gia có đồng tiền tơng ứng. Tỷ giá hối đoái
thực giảm xuống phản ánh mức tăng chi phí sản xuất của những hàng hoá mậu
dịch trong nớc. Nếu không có sự tăng giá tơng ứng ở các quốc gia khác thì
việc đó đồng nghĩa với việc suy giảm vị trí cạnh tranh đó : họ sản xuất hàng
hoá mậu dịch kém hiệu quả hơn các nớc khác.
3. Các nhân tố tác động lên quá trình hình thành tỉ giá.
Trên thực tế, sự hình thành quan hệ tỷ giá là tác động của nhiều yếu tố
khách quan và chủ quan. Tuy có những mâu thuẫn trong phơng pháp nghiên
cứu, tiếp cận và đánh giá vai trò, tính chất, phơng thức cờng độ, tốc độ tác
động của các yếu tố cụ thể, song nhìn chung có một số yếu tố quan trọng, trực
tiếp cấu thành NP và tác động lên quá trình hình thành tỷ giá hối đoái, đó là :
-Sức mua của các đơn vị tiền tệ và tốc độ lạm phát ở các nớc
-Trạng thái cán cân thanh toán ảnh hởng đến cung cầu ngoại tệ, thông
qua đó tác động lên mức tỉ giá và kéo theo sự dao động của tỷ giá lệch khỏi
sức mua của đồng tiền
-Chênh lệch mức giá giữa các nớc, giữa thị trờng tín dụng nội địa và quốc
tế
-Thực trạng hoạt động của các thị trờng tài chính, ngoại hối và các xu h-
chính phủ sẽ mua và bán vàng nhiều bằng mức mà nhân dân muốn giao dịch
tại giá trị ngang giá này và chính phủ tuân theo quy tắc nhằm gắn liền đồng
tiền trong nớc với số vàng nhà nớc có. Chính phủ chỉ có thể phát hành tiền
bằng cách mua vàng của công chúng, tức là nếu công chúng chuyển đổi tiền
giấy của họ thành vàng thì lợng tiền lu hành sẽ giảm đi. Dới chế độ bản vị
vàng khả năng của chính phủ trong việc tăng mức cung tiền bị hạn chế nghiêm
4
ngặt bởi yêu cầu là chỉnh phủ phải nắm giữ một giá trị vàng tơng đơng trong
kho bạc.
Chế độ bản vị vàng là một chế độ ổn định, đồng tiền rất ít khi bị mất giá,
việc thanh toán nợ nần giữa các quốc gia cũng đợc thực hiện bằng vàng nh vậy
nó thực sự đẩm bảo một cơ chế tự động điều chỉnh sự mất cân đối trong thơng
mại và thanh toán quốc tế. Vì vậy chế độ này đã đợc sử dụng hầu nh suốt thế
kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 ở các nớc. Bản vị vàng có một u điểm lớn và một nhợc
điểm đáng kể. Bằng cách gắn chặt, nếu không phải là hoàn toàn mức cung tiền
nội địa với mức dự trữ vàng, bản vị vàng thực sự đã loại trừ việc phát hành tiền
liên tục trên quy mô lớn và tỉ lệ lạm phát một cách thờng xuyên cao. Tuy
nhiên do cơ chế chủ yếu để phục hồi công ăn việc làm đầy đủ là sự giảm giá
và tiền lơng nội địa mà phải mất nhiều năm để điều chỉnh hoàn toàn theo mức
giảm đáng kể về tổng cầu cho nên thời kì của bản vị vàng là thời kì trong đó
các nền kinh tế riêng lẻ dễ bị tổn thơng dẫn tới những giai đoạn suy thoái lâu
dài và sâu sắc.
2. Chế độ tỷ giá cố định Bretton Woods :
Dới chế độ bản vị vàng, tỷ giá hối đoái danh nghĩa đợc cố định một cách
vô thời hạn. Bây giờ chúng ta sẽ bàn về hệ thống điều chỉnh hạn chế, trong đó
các tỷ giá hối đoái thông thờng đợc cố định nhng một đôi lúc các nớc đợc
phép thay đổi tỷ giá hối đoái của mình. Hệ thống này đợc ra đời gần cuối thế
chiến thứ hai trong một hội nghị đa quốc gia đợc tổ chức ở Brentton Woods
New Hampshire để hoạch định" một hệ thống tỷ giá hối đoái có trật tự thuận
lợi cho luồng thơng mại tự do". Theo hệ thống này tỉ giá chính thức giữa đồng
Tuy nhiên tỷ giá hối đoái cố định trong trờng hợp thiếu tin cậy sẽ bị ảnh
hởng rất lớn của đầu cơ, điều này có thể dẫn tới sự phá vỡ hoàn toàn sự ổn
định tiền tệ, ổn định kinh tế hay ảnh hởng tới dự trữ ngoại hối; tỉ giá hối đoái
cố định có thể làm ngời ta phải từ bỏ đầu cơ, do đó thị trờng sẽ buồn tẻ, khó
có thể xác định đâu là tỉ giá hối đoái tối u, hay hợp lý cho một nền kinh tế,
mặc dù cả chính phủ và nhân hàng trung ơng đều cần thiết phải hiểu hơn ai
hết đâu là mức cân bằng. Tỉ giá hối đoái danh nghĩa cố định có thể là quan
trọng nhng nó không quyết định tỉ giá hối đoái thực tế mà nó chỉ đợc coi là
chỉ số hay mục tiêu quan trọng mà thôi. Duy trì tỉ giá hối đoái cố định đòi hỏi
ngân hàng trung ơng phải luôn sẵn sàng can thiệp vào thị trờng ngoại hối để
đảm bảo mức tỉ giá hối đoái cố định.Tuy nhiên, khó có thể đa ra về mức độ
cần can thiệp nh thế nào để tác dộng vào nền kinh tế nhằm đạt đợc mục tiêu
can thiệp. Ngân hàng trung ơng cần thiết phải duy trì một mức nhất định về dự
trữ ngoại hối, nh vậy chi phí về quản lý tài sản sẽ lớn. Tỉ giá hối đoái này cũng
6
phụ thuộc vào chính sách tiền tệ của quốc gia khác, và đó là điều đôi khi gây
bất lợi do việc gắn đồng tiền bản tệ vào một đồng ngoại tệ nào đó.
* Tỷ giá hối đoái thả nổi:
Là tỷ giá hối đoái đợc hình thành trên cơ sở diễn biến cung cầu. Có hai
loại tỷ giá thả nổi là thả nổi tự do và thả nổi có quản lý. Chúng ta biết rằng
nền kinh tế cân bằng dài hạn là phải cân đối cả bên trong lẫn bên ngoài (tức là
đầy đủ việc làm, xuất khẩu ròng bằng không và tài khoản vãng lai cân bằng)
Nhu cầu nhập khẩu phụ thuộc vào mức sản lợng trong nớc và tỷ giá hối đoái
thực tế. Nhu cầu xuất khẩu phụ thuộc vào mức sản lợng ở nớc ngoài và tỉ giá
hối đoái thực tế. Do đó khi nền kinh tế trong nớc và nớc ngoài đều ở trong tình
trạng cân đối hoặc ở mức sản lợng tiềm năng,thì chỉ có một tỉ giá chính thức
duy nhất đồng thời tơng ứng với sự cân bằng bên ngoài.ở bầt kì mức tỉ giá hối
đoái nào cao hơn nền kinh tế nội địa cũng có sức cạnh tranh kém hơn. Nhập
khẩu sẽ cao hơn và xuất khẩu sẽ thấp hơn, nền kinh tế sẽ bị thâm hụt trong tài
khoản vãng lai. Ngợc lại ở bất kì một mức tỷ giá hối đoái thực tế nào thấp hơn
hay cố định cũng đều có những u điểm và hạn chế. Việc lựa chọn một cơ chế
tỉ giá cố định hay thả nổi ở mức nào đó chắc chắn sẽ phụ thuộc vào từng quốc
gia với những diều kiện kinh tế và thị trờng khác nhau hay nói chung là phụ
thuộc vào lý do riêng nhằm mục đích phát huy những điểm mạnh và khắc
phục những hạn chế của mỗi cơ chế ở mỗi môi tròng kinh tế xã hội khác nhau.
Những quốc gia chủ trơng thả nổi tỉ giá hối đoái cho rằng: Nếu áp dụng cơ
chế này, thị trờng ngoại hối có tính minh bạch cao, thị tròng hoạt động hiệu
quả, và hơn nữa thị trờng phải để tự nó tự điều chỉnh. Chính sách tiền tệ phải
đợc thiết lập một cách độc lập, phù hợp với tình hình kinh tế trong nớc (nghiã
là đạt đợc sự ổn định mức giá chung của nền kinh tế), và tỉ giá hối đoái cần
phải đợc thả nổi theo bất kì hớng nào mà do thực tế đem lại mức tỉ giá hối
đoái đó.
Trong khi đó , những quốc gia chủ trơng cố định tỉ giá (tức là chủ trơng
gắn vào một hay một số đồng tiền chủ chốt, hoặc các đối tác kinh doanh chính
của nớc đó) với mục tiêu dung hoà các yếu tố chính trị, kinh tế và thơng mại.
Các nhà kinh tế công nhận tầm quan trọng và lợi ích của việc gắn đồng tiền
này trong việc thực hiện một chính sách tiền tệ chặt chẽ và tỉ giá hối đoái cố
định đợc a thích hơn bất kì một dạng thả nổi nào, vì tỉ giá hối đoái cố định
không đợc coi là công cụ độc lập hữu hiệu của chính sách tiền tệ trong dài
hạn. Những lợi ích do tỉ giá cố định đem lại đợc coi là nhiều hơn cái giá phải
trả cho những hậu quả mà nó gây ra cho nền kinh tế.
8
Các nhà nghiên cứu về tỉ giá hối đoái thờng tập trung vào vai trò của tỉ
giá trong việc bảo đảm cho nền kinh tế một mức sản lợng kinh tế cao, trong
điều kiện có rất nhiều bất ổn, hay các cú sốc trong nớc và quốc tế tác động
đến nền kinh tế. Và vì vậy, các nhà khoa học cho rằng, cơ chế tỉ giá hối đoái
thả nổi có khả năng đối phó tốt nhất đối với các cú sốc trong một nền kinh tế.
Vì sự thay đổi tỉ giá hối đoái sau mỗi cú sốc sẽ là cách hữu hiệu nhất nhằm
khôi phục lại mức sản lợng trở lại trạng thái cân bằng. Trong khi đó các nhà
kinh tế học cũng thừa nhận cơ chế tỉ giá hối đoái cố định có khả năng đối phó
Một công cụ nữa mà ngân hàng trung ơng có thể sử dụng nữa là phá giá
đồng tiền. Phá giá hay nâng giá là việc giảm bớt hay tăng lên tỉ giá hối đoái
mà đợc chính phủ cam kết ủng hộ, đây là một phơng pháp điều chỉnh tỉ giá
hối đoái danh nghĩa (theo hớng làm giảm giá nội tệ so với đồng ngoại tệ). Ph-
ơng pháp này đã đợc khẳng định về mặt lý thuyết và đã đợc hầu hết các nớc
trên thế giới áp dụng.
Trong ngắn hạn, khi giá cả và tiền lơng điều chỉnh một cách chậm chạp
việc phá giá làm tăng giá trong nớc của hàng nhập khẩu và làm giảm giá ngoài
nớc của hàng xuất nớc đó. Cả hai loại tác động này đều cải tiến mức cạnh
tranh quốc tế, các nguồn lực sẽ đợc thu hút vào nền kinh tế nội địa và đặc biệt
là đợc thu hút vào các ngành xuất khẩu mà giờ có thể cạnh tranh có hiệu quả
hơn trên thị trờng nớc ngoài. Tuy nhiên việc phá giá có thể không cải thiện đ-
ợc tài khoản vẵng lai trong thời gian trớc mắt thậm chí có thể dẫn đến thâm
hụt nhng khi xét về lâu dài, khi những ngời mua và ngời bán điều chỉnh lợng
xuất khẩu và nhập khẩu thì sẽ tạo ra thặng d trong tài khoản vãng lai của cán
cân thanh toán.
Trong dài hạn, nếu nền kinh tế không thực sự phát triển, việc phá giá sẽ
làm tăng mức tiền lơng và giá danh nghĩa để cho phù hợp với mức giá nhập
khẩu cao hơn làm cho tất cả các biến số thực tế khác không thay đổi. Cuối
cùng là phá giá sẽ không có tác động gì cả.
Nh vậy phá giá thờng đợc các chính phủ sử dụng để điều chỉnh kinh tế
trong ngắn hạn, nhng nếu không xem xét một cách kĩ lỡng thì việc phá giá sẽ
gây ra những hậu quả khôn lờng. Thứ nhất phá giá sẽ làm tăng lạm phát vì nó
làm tăng giá vật t, thiết bị nhập,thu hẹp lãi của các doanh nghiệp sản xuất, sẽ
ảnh hởng đến nguồn thu tài chính và làm cho lạm phát sẽ khó kiểm soát hơn,
đồng thời lạm phát tăng sẽ làm tăng tỷ giá, càng phá giá càng không kiểm soát
nổi tiền tệ. Thứ hai là phá giá sẽ dẫn đến tăng giá hàng nhập, hạn chế tốc độ
phát triển kinh tế, tăng tỉ lệ thất nghiệp. Mặt khác khi nội tệ giảm giá sẽ làm
cho nhiều chủ đầu t dịch chuyển tài sản từ nội tệ sang đồng ngoại tệ, lúc này
cầu về ngoại tệ tăng cũng có nghĩa là giá nội tệ ngày càng giảm. Để cân bằng
Nh vậy không phải phá giá cũng mang lại kết quả nh ý muốn có khi
không đẩy mạnh đợc xuất khẩu mà lại gây ra hiệu quả khó lờng. Mặt khác,
xuất khẩu tăng hay giảm không chỉ phụ thuộc vào tỉ giá mà còn phụ thuộc vào
nhiều nhân tố khác, ví dụ nh đồng YEN tăng giá liên tục so với đồng USD
trong mấy thập kỉ qua nhng hàng hoá của Nhật vẫn tiệp tục cạnh tranh trên thị
11
trờng quốc tế và cả thị trờng Mĩ là bởi vì hàng hoá của Nhật có chất lợng cao
và giá thành thấp.
Về nguyên tắc, cũng có một số phơng pháp khác có thể sử dụng thay thế
cho biện pháp phá giá đồng tiền, mặc dù không phải lúc nào cũng đạt đợc mọi
kết quả mong muốn. Các biện pháp đó là đánh thuế nhập khẩu đồng thời với
hỗ trợ xuất khẩu; duy trì chế nhiều tỉ giá hối đoái danh nghĩa và các chính
sách về thu nhập.
12
Chơng II
Hệ thống tỷ giá hối đoái ở Việt Nam
I. Sơ lợc về hệ thống tỷ giá hối đoái ở Việt Nam từ năm
1955 đến nay.
Trong giai đoạn từ năm 1955 đến 1989, mặc dù nhiều nớc trên thế giới
đang áp dụng cơ chế thả nổi và thả nổi có quản lý, nhng các nớc xã hội chủ
nghĩa, với cơ chế kế hoạch hoá tập trung, nhà nớc luôn can thiệp mạnh vào
mọi mặt hoạt động kinh tế, thì quả thực cơ chế hối đoái thả nổi không thể tồn
tại, và phát huy tác dụng, thay vào đó là tỉ giá cố định, Việt Nam cũng không
nằm ngoài khuôn khổ đó. Tỉ giá chính thức của VND đợc công bố vào ngày
25 / 11 / 1955, là tỷ giá giữa VND và đồng nhân dân tệ trung quốc là 1NDT
=1470 VND và giữa đồng Việt Nam với đồng Liên Xô là 1 Rúp bằng 735
đồng Việt Nam. Tỷ giá này đợc xác định bằng cách so sánh giá bán lẻ của 34
mặt hàng tiêu dùng tại thủ đô và một số tỉnh khác giữa hai nớc nhằm giả quyết
nhu cầu thanh toán giữa hai nớc trong những năm kháng chiến chống Pháp.
Sau đó các tỷ giá giữa đồng Việt Nam với các nớc khác đợc thiết lập dựa trên
chính thức đuợc Ngân hàng nhà nớc chính thức công bố căn cứ vào chỉ số lạm
phát, lãi suất trên thị trờng, cán cân thanh toán, tham khảo diễn biến giá trên
thị trờng tự do và giá vàng trên thị trờng quốc tế và trong nớc. Trên cơ sở tỉ giá
này, các ngân hàng thơng mại xây dựng cho mình một tỉ giá dùng để giao dịch
hàng ngày với biên độ giao động cho phép. Nhìn chung những giải pháp trên
đã góp phần cải thiện phần nào tình hình trên thị trờng ngoại hối, xoá bỏ tình
trạng bất hợp lý trong mua bán thanh toán, đặc biệt trong lĩnh vực nhập khẩu.
Sau năm 1990, tuy đã có những cải cách nhất định về mặt tỷ giá nhng tỷ
giá vẫn có những biến động mạnh mà điển hình là cơn sốc tỷ giá vào năm
1991, đồng Việt Nam bị mất giá 60 % so với đôla Mĩ. Nguyên nhân chính là
do ảnh hởng của tình hình cán cân thanh toán quốc tế, sự thâm hụt tài chính
của chính phủ và mức độ lạm phát nặng nề ở Việt Nam. chính vì vậy vào cuối
năm 1991 đầu năm 1992 chính phủ đã can thiệp để nâng giá đồng Việt Nam
trên thị trờng ngoại tệ. Sự can thiệp này có mục đích chống lạm phát bằng
cách giữ cho hàng nhập khẩu đợc ổn định vì từ năm 1990 trở lại đây, Việt
Nam đã nhập khẩu một số lợng lớn lợng nguyên, nhiên vật liệu để đáp ứng nhu
cầu phát triển và mở rộng sản xuất trong nớc, thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm của
nông nghiệp. Nếu để giá của đồng nội tệ tiếp tục giảm tất yếu sẽ làm cho giá
thành sảm phẩm sản xuất trong nớc tăng bởi vì các yếu tố đầu vào đã tăng. Trong
14
điều kiện nền kinh tế có nhiều nhân tố gây bất ổn địnhkhác thì việc giá thành
hàng hoá nhập khẩu tăng cao sẽ là nhân tố kích thích lạm phát.
Cuối năm 1992, nguồn ngoại tệ do ngoại kiều gửi về Việt Nam khá lớn
làm tăng cung về ngoại tệ, mặt khác ngân hàng nhà nớc kiên trì quan điểm ổn
định tỉ giá bằng cách can thiệp vào thị trờng ngoại tệ, nhu cầu về ngoại tệ của
các doanh nghiệp cơ bản đợc đáp ứng, lạm phát gần nh đợc chặn lại, tạo lòng
tin cho dân chúng và sự ổn định của đồng tiền Việt Nam, giải toả đợc tâm lý
đầu cơ. đó là những nguyên nhân cơ bản nhất khiến cho xu hớng lên giá của
đồng Đô la sẽ bị chặn lại, tỉ giá VND/USD không những không tăng mà còn
giảm xuống. Tuy nhiên vẫn còn một số tồn tại trong viêc điều chỉnh này về tỷ
Đến cuối năm 1992, đồng Việt Nam tăng 20 % so với đồng đô la vì thế
vào năm 1993, sức cạnh tranh của hàng Việt Nam trên thị trờng sẽ bị giảm
mạnh. Sau đó Nhà nớc lại tăng giá đồng đô la trong cuối quý I năm 1993 là
cho đồng Nhân dân tệ tăng gía, sức cạnh tranh của hàng Trung Quốc trên thị
trờng Việt Nam giảm
Tỷ giá năm 1993 của đồng Việt Nam so với đô la là
Tháng 12/92 1/93 3/93 6/93 7/93 9/93 12/93
VND/USD 10.720 10.500 10.500 10.580 10.680 10.750 10.835
Trong năm 1993, tỷ giá VNĐ/USD có xu hớng ổn định, Ngân hàng Nhà
nớc đã thành công trong việc giữ cho đồng Việt Nam không lên giá, điều này
giúp cho hàng hoá Việt Nam có thể cạnh tranh đợc, kích thích xuất khẩu đợc
giúp Việt Nam có thể hạn chế đợc ảnh hởng của đồng đô la với nền ngoại th-
ơng của mình
Ngày 20/09/1994, Thống đốc Ngân hàng nhà nớc ban hành quyết định số
203 / QĐ - NH9 về việc thành lập thị trờng ngoại tệ liên ngân hàng, Ngân
hàng Nhà nớc thực hiện vai trò là ngời mua bán cuối cùng trong ngày. Tỉ giá
chính thức vẫn đợc Ngân hàng Nhà nớc công bố, chỉ có biên độ dao động là
thay đổi. Trong 3 năm 9396, đồng đô la hầu nh không tăng theo giá trị thực
của nó trên thị trờng, trong khi thị trờng dờng nh đợc thả nổi theo cung cầu.
Nguyên nhân của tình trạng trên là lợng vốn của nớc ngoài đầu t vào Việt
Nam trong thời kỳ này tăng rất nhanh, chính sách thắt chặt tiền tệ của chính
phủ đã kiềm chế đợc lam phát ở mức vừa phải và do chênh lệch lãi xuất giữa
VNĐ và USD quá lớn nên rất nhiều nhà đầu t đã bán đô la để lấy VNĐ gửi tiết
kiệm lấy lãi
16
Tình trạng giá trị đồng nội tệ cao đã làm cho vào năm 1996, mức thâm
hụt cán cân thơng mại nớc ta lên đến 16 %, cao gấp rỡi so với các nớc có mức
độ nhập siêu cao nhất thế giới, nhu cầu về USD lại tăng gây sức ép giảm giá
VND
Nh vậy có thể nói toàn bộ việc điều hành tỉ giá hối đoái của Ngân hàng
giá VNĐ. Trớc tình hình đó chính phủ đã thực hiện phá giá từ 11113VND/
USD năm 1996 lên 13980 VND/ USD năm 1998
Việc điều chỉnh tỉ giá lần này là một quyết định kịp thời. Trong bối cảnh
cuộc khủng hoảng kinh tế khu vực, việc cố định một tỉ giá đợc coi là cao hơn tỉ
giá thực tế là một rủi ro quá lớn cho nền kinh tế Việt Nam, không những nó cản
trở xuất khẩu, khuyến khích xuất khẩu mà còn hạn chế" khả năng đề kháng của
nền kinh tế Việt Nam. Nhiều chuyên gia tỉ giá cho rằng, mức tỉ giá đó là phù hợp
trong giai đoạn đó. Việc tăng tỉ giá đã góp phần giảm tỉ nhập siêu từ 20,3 % năm
1997 xuông 17,6 % năm 98
Ưu và nh ợc điểm của việc phá giá trong giai đoạn này : Nó làm cho tốc
độ xuất khẩu tăng và nhập khẩu giảm, do vậy tỉ lệ nhập siêu giảm xuống
song" độ nhạy giữa việc thay đổi tỉ giá với việc thay đổi xuất nhập khẩu là
thấp. Bởi vì để đẩy mạnh xuất khẩu ngoài việc phụ thuộc vào tỉ giá còn phụ
thuộc vào nhiều nhân tố khác nh chất lợng, cơ cấu mặt hàng xuất khẩu, thủ tục
về xuất nhập khẩu mà ở Việt Nam vấn đề này còn rất bức xúc và thức tế đã
chứng tỏ điều đó.
Mặt khác việc tăng tỷ giá sẽ làm giá thành sản phẩm của các doanh
nghiệp tăng giảm sức cạnh tranh và đến lợt nó lại là yếu tố cản trở tăng xuất
khẩu và làm cho nợ nần của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu và các nhà đầu
t tăng lên. Trong năm 1998,sau khi nới rộng biên độ giao dịch, cầu ngoại tệ
trên thị trờng rất cao nên hầu nh việc mua bán ngoại tệ của các Ngân hàng th-
ơng mại thờng xuyên bám sát mức trần cho phép. Mặc dù vậy nhng giá trên
thị trờng tự do còn cao hơn nhiều, có lúc lên đến 14000 VND/ 1 USD, đây
chính là hậu quả của tình trạng găm giữ ngoại tệ do lo ngại về khả năng khủng
hoảng của VND. Đứng trớc tình hình này, những tháng đầu năm 1998, Ngân
hàng Nhà nớc đã đa ra một loạt các biên pháp nhằm ổn định thị trờng nh :
Quy chế về giao dịch ngoại hối, các nghiệp vụ mua bán ngoại tệ mới, quy
định về trạng thái ngoại tệ, trạng thái tiền đồng, đối với các tổ chức tín dụng
đợc phép kinh doanh ngoại tệ. Đặc biệt là 2 lần chủ động điều chỉnh tỉ giá :
lần thứ nhất vào 16/02/1998, Ngân hàng Nhà nớc(NHNN) quyết định nâng tỷ
tỉ giá đã hoàn thành ổn định trong thời gian này. Thế nhng đây là dấu hiệu cho
thấy xu hớng tự do hoá rõ rệt hơn tỉ giá hối đoái có sự điều tiết của Nhà nớc.
Tỉ giá thực tế ở thời điểm có quyết định mới (26/02/1999) có nhiều biểu hiện
phù hợp với sức mua, đối nội và đối ngoại của đồng tiền Việt Nam hoàn toàn
không có lý do phải có sự điều chỉnh. Bằng vào việc công bố hai loại tỉ giá : tỉ
giá chính thức và tỉ giá bình quân mua vào bán ra thực tế trên thị trờng ngoại
tệ liên ngân hàng nh trớc đây để chỉ còn công bố một tỉ giá gọi là tỉ giá giao
dịch bình quân (của đồng Việt Nam so với đôla Mỹ) trên thị trờng này đã đa
19
đến một sự thay đổi khác hẳn theo cách ổn định, công bố và điều hành tỉ giá
hối đoái lâu nay
Theo cách mới, NHNN chỉ công bố tỉ giá giao dịch bình quân trên cơ sở
tỉ giá thực tế bình quân trên thị trờng ngoại tệ liên ngân hàng của ngày giao
dịch gần nhất trớc đó. Căn cứ vào đó các NHTM đợc phép kinh doanh ngoại tệ
xác định tỉ giá mua bán ngoại tệ giao ngay không vợt quá 0,1 % so với tỉ giá
này. Qua tỉ giá áp dụng cơ chế này, tỉ giá giao dịch bình quân mà NHNN công
bố xoay quanh mức 13.888 VNĐ / 1 USD còn tỉ giá mua bán thực tế của các
NHTM nằm trong khoảng 13902 VNĐ / 1 USD (nghĩa là chỉ tăng khoảng
0,10,3 % so với trớc đây). Riêng tỉ giá của thị trờng tự do sau khi có đột
biến tăng nhẹ (khoảng 0,3 %) do yếu tố tâm lý vào những ngày đầu, nay đã trở
về mức cũ. Chênh lệch giữa thị trờng tự do và thị trờng ngoại tệ liên ngân hàng
không đáng kể (khoảng 0,1 %)
Quyết định số 65 còn quy định các NHTM đợc phép tăng tối đa 0,58 %
của tỉ giá giao dịch trần để xác định tỉ giá kỳ hạn 1 tháng, nhng nay theo quy
định số 289 / 2000 / QĐ - NHNN ngày 30/08/200, các ngân hàng chỉ đợc
phép tăng tối đa 0,2 %. Nh vậy các NH không lợi dụng đợc chênh lệch giữa tỉ
giá giao ngay và có kỳ hạn cho cuộc cạnh tranh mua bán ngoại tệ. Nhng muốn
giải pháp này hiệu quả cần phải có những quy định khác đi kèm.
20
Chơng III
định 65). Đây cũng là một trong những áp lực đối với tỉ giá
Việc bỏ hẳn ấn định TGHĐ danh nghĩa sẽ đa đến khó khăn nhất định
trong dự báo một số cân đối lớn của nền kinh tế nh : cán cân vay trả nợ nớc
ngoài, cán cân thanh toán vãng lai, tổng cung, tông cầu tiền tệ của nền kinh tế,
thu chi ngân sách Đặc biệt sẽ khó tính toán các mức lãi suất danh nghĩa
trong khi chính sách lãi suất rất cần ổn định lúc này để khuyến khích đầu t.
Hiện nay có nhiều quan điểm trái ngợc nhau trong điều hành TGHĐ và
quản lý ngoại hối
+ Có quan điểm cho rằng, phải bằng mọi biện pháp để ổn định tỉ giá,
thậm chí"đông cứng để tạo động lực cho sự ổn định kinh tế, giảm rủi ro cho
các hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo sức hấp dẫn thu hút các nhà đầu t nớc
ngoài, khuyến khích nhập khẩu máy móc, thiết bị và các công nghệ tiên tiến
phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tránh nguy cơ tụt hậu.
Đồng nội tệ mạnh chính là một điều kiện cho một nền kinh tế vững mạnh,
tăng trởng năng động
+ Có quan điểm lại phủ nhận hoàn toàn quan điểm trên, cho rằng trong
điều kiện đồng USD đang lên giá so với các đồng khác, nếu chúng ta giữ cố
định VNĐ thì sẽ làm cho hàng hoá và dịch vụ sản xuất trong nớc sẽ có giá cao
tơng đối so với các nớc trong khu vực, kéo theo một môi trờng đầu t kém hấp
dẫn. Do vậy, nhất thiết phải phá giá VNĐ ở mức cao hơn các nớc khu vực đã
làm
II. Các giải pháp để hoàn thiện chính sách tỷ giá hối đoái.
Nền kinh tế của nớc ta trong giai đoạn hiện nay vẫn là nền kinh tế trong
thời kì quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, chính vì vậy chúng ta càng cần phải
phát triển kinh tế ổn định, vững chắc với một cơ chế tỉ giá linh hoạt, không
cứng nhắc để có thể chống đối đợc các tác động tiêu cực từ phía thi trờng do
ảnh hởng cơ chế tỉ giá. Hiện nay nền kinh tế của Việt Nam tơng đối ổn định,
bội chi ngân sách có thể kiểm soát đợc, nhng nợ nớc ngoài cũng khá cao : nợ
các quốc gia khác, nợ các tổ chức quốc tế nh IMF, WB tổng số nợ là khoảng
hơn 20 tỉ đôla. Nếu tỉ giá thay đổi, cụ thể là nếu đồng đôla tăng giá thì gánh
thấy rủi ro cao trong đồng vốn bỏ ra, môi trờng đầu t trong nớc kém hấp dẫn,
vì thế đây chỉ là biện pháp tức thời. NHNN cũng có thể sử dụng cách thứ hai
là mua bán ngoại tệ trên thị trờng mở một cách liên tục để làm cho cầu không
tăng lên một cách đột ngột ảnh hởng đến tỉ giá.
Cần phải điều chỉnh mối quan hệ giữa tỷ giá và lãi suất : Giữa lãi suất và
tỷ giá luôn có mối quan hệ rất mật thiết với nhau và quan trọng hơn là sự
23
chênh lệch về lãi suất giữa việc gửi bằng ngoại tệ và gửi bằng ngoại tệ. Nếu lãi
suất tiền gửi ngoại tệ cao hơn gửi bằng nội tệ thì cầu ngoại tệ sẽ tăng và kéo
theo sự giảm giá của đồng nội tệ và ngợc lại.
Phải có sự quản lý đối với hàng hoá trong nớc : Điều tiết giá cả của hàng
hoá trong nớc, khuyến khích ngời Việt Nam dùng hàng Việt Nam, quản lý
chặt chẽ nguồn hàng sản xuất trong nớc cho phù hợp với yêu cầu của nguời
tiêu dùng, giúp đỡ quảng cáo và khuyến khích các dịch vụ sau bán và sẽ làm
cho đồng Việt Nam tăng giá khi hàng trong nớc vẫn bán đợc. Mặt khác nhà
nớc có thể giúp đỡ bằng cách tích cực tiếp cận và đổi mới công nghệ, kỹ thuật
phù hợp với mục tiêu công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nớc.
Điều chỉnh chính sách thuế quan và phi thuế quan một cách hợp lý nhằm
bảo hộ sản xuất trong nớc, tiến tới thực hiện cam kết xoá bỏ hàng rào thuế
quan. Chính sách bảo hộ nhập khẩu bằng cách tăng các mức thuế nhập khẩu,
hoặc dùng hạn ngạch, dán tem để có thể quản lý đợc nhập khẩu với các mặt
hàng xa xỉ hoặc các mặt hàng mà chúng ta đã sản xuất đợc, việc này sẽ làm
tăng mức giá cả của hàng nhập khẩu tơng đối so với hàng nội địa.
Khống chế mức lạm phát trong nớc : Lạm phát là nhân tố ảnh hởng cùng
chiều đến tỉ giá hối đoái danh nghĩa của đồng nội tệ. Lạm phát cao làm gia
tăng lãi suất tơng đối của tiền gửi bằng nội tệ so với đồng ngoại tệ kéo theo sự
giảm giá của đồng nội tệ, tức là lạm phát có tác động ngợc chiều với giá trị
của đồng bản tệ. Ngoài những ảnh hởng trực tiếp thì lạm phát còn có ảnh hởng
gián tiếp đến thị trờng ngoại hối. Do vậy muốn quản lý đợc thị trờng ngoại hối
và điều tiết tỉ giá hối đoái theo một mục tiêu nhất định thì Chính phủ cần