thực tiễn hoạt động của tổ chức bhtg và bttg ở việt nam - Pdf 10

Lời mở đầu

ở Việt Nam hiện nay, nền kinh tế phát triển khá mạnh mẽ và có những bớc
tiến vợt bậc so với những năm 1986 trở về trớc. Việc kinh doanh, hợp tác, đầu
t diễn ra sôi nổi ở khắp mọi nơi. Số lợng các cá nhân, tổ chức tham gia các
hoạt động này với mục đích kiếm lời ngày càng tăng. Tuy nhiên, có một bộ
phận dân chúng không muốn tham gia các loại hình này vì một số nguyên
nhân khác nhau (nguyên nhân chủ yếu là do có sự rủi ro) lại gửi tiền vào các
tổ chức tín dụng. Nhng đó cũng không phải là biện pháp an toàn nhất để đảm
bảo cho lợng tiền gửi vì thực tế cho thấy có sự đổ bể của nhiều qũy tín dụng,
sự vỡ nợ của nhiều ngân hàng đã gây tâm lý e ngại cho ngời gửi tiền. Chính vì
vậy việc thành lập tổ chức BHTG ở Việt Nam là một việc làm sáng suốt trong
giai đoạn hiện nay và cả trong tơng lai. BHTG là loại hình bảo hiểm còn rất
mới mẻ ở Việt Nam. Do vậy, việc đánh giá những tác dụng tích cực cũng nh
những hạn chế của nó cần phải dợc xem xét trong một thời gian dài.
Bên cạnh đó, trong bài viết này, em cũng nêu ramột loại hình bảo hiểm
khác là BTTG mà hiện nay đang đợc hoàn thiện dần để mau chóng đi vào hoạt
động. Trong quá trình thực hiện đề tài, đợc sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của cô
cộng với việc tìm hiểu, tham khảo tài liệu đã giúp em rất nhiều trong định h-
ớng, t duy. Nhng do còn nhiều hạn chế trong kiến thức chuyên ngành cũng nh
kiến thức xã hội nên bài viết này của em không tránh khỏi những thiếu sót.
Em rất mong nhận đợc sự góp ý của cô.
Em xin chân thành cảm ơn.

Chơng I: Những lí luận chung về bảo hiểm và
bảo toàn tiền gửi
I. Một số quan niệm về bảo hiểm và bảo toàn tiền gửi:
Trong quá trình tìm hiểu hoạt động của các tổ chức BH và BTTG, ta cần
tìm hiểu một số khái niệm có liên quan nh: thế nào là BHTG, BTTG, tổ chức
BHTG, tổ chức BTTG là gì ?
1

hớng tới quyền lợi của chủ ngân hàng là chính, qua đó đảm bảo cho ngời gửi
tiền. Mục tiêu này cũng phù hợp với tôn chỉ và mục tiêu hoạt động của bản
thân Hiệp hội ngân hàng. Nghĩa là khi hội viên Hiệp hội ngân hàng có nguy
cơ mất khả năng thanh toán thì quỹ BTTG thờng trả tiền gửi cho ngời gửi tiền
thông qua việc trợ giúp TCTD mà họ đã gửi tiền vào.
2
Tuy nhiên cũng có trờng hợp bảo vệ trực tiếp cho ngời gửi tiền nh hệ thống
BTTG của Hiệp hội Ngân hàng thơng mại Đức: khi xảy ra tình trạng thiếu khả
năng chi trả tại một ngân hàng nào đó (ngân hàng này phải là hội viên của Hiệp
hội ngân hàng) thì Qũy thờng chi trả trực tiếp cho ngời gửi tiền.
2. Nguồn vốn hoạt động:
2.1. Vốn tự có:
Vốn điều lệ của tổ chức BHTG do Nhà nớc cấp.
Vốn tự có của Quỹ BTTG do các ngân hàng thành viên của Hiệp hội
ngân hàng đóng góp từ nguồn vốn tự có của mình.
2.2. Phí bảo hiểm (bảo toàn):
Đặc điểm chung trong việc đóng góp của cả hai hệ thống bảo hộ là phí
bảo hiểm (bảo toàn) của các ngân hàng đợc hạch toán vào chi phí hoạt
động.Tuy nhiên, mỗi hệ thống có cách xử lý riêng:
Đối với tổ chức BHTG:
Phí đã đóng không còn là sở hữu của ngời đóng và không đợc hoàn lại.
Mức phí đóng cho các công ty BHTG thờng rất cao nh các số liệu sau đây cho
thấy: Nhật 0,132%; Tây Ban Nha và Phần Lan 0,15%; Canada, Iran và Đan
Mạch 0,2%; Thụy Điển 0,4 -0,6%. Tuy nhiên, ở nhiều nớc mức trích đều có
ngỡng: ở Mỹ, khi vốn bảo hiểm của Qũy lên tới 0,3% tổng tiền gửi thì ngừng,
ở Ailen, khi vốn của Qũy đạt 1% tổng tiền gửi thì không trích nữa; ở Thụy
Điển, khi vốn của Qũy đạt đến 2,5% tổng tiền gửi thì sẽ giảm xuống 0,15%
thay vì 0,4- 0,6%.
Đối với Qũy BTTG:
* Vốn để bảo toàn đợc hình thành từ các phần:

100% tiền gửi cho ngời gửi tiền (gần giống với cách bù đắp của tổ chức BHTG
nhng mức độ bù đắp cao hơn).
Nh vậy, về thời điểm cứu giúp, hệ thống BTTG không chỉ giải quyết chi
trả tiền gửi cho ngời gửi tiền khi ngân hàng đã phá sản và đi vào thanh lý giải
thể nh cách làm của tổ chức BHTG, mà ngay khi ngân hàng gặp nguy cơ ban
đầu, mới mất khả năng trả nợ, Quỹ BTTG đã phải ứng cứu kịp thời, nhằm giải
toả cơn hoảng loạn của ngời gửi tiền, ngăn chặn sự lây lan sang các ngân hàng
khác. Với cách xử lý nh trên, các cuộc khủng hoảng cục bộ trong từng ngân
hàng riêng lẻ đợc giải quyết êm nhẹ, nhanh chóng, tránh đợc sự đổ vỡ dây
chuyền toàn hệ thống.
Về giới hạn bảo hộ còn tính đến yếu tố chỉ nội tệ, hay cả ngoại tệ và nội
tệ đều đợc bảo hiểm (bảo toàn).
4
3.2. Phơng pháp trợ giúp:
Tổ chức BHTG: với t cách là cơ quan quản lý Nhà nớc, NHNN theo dõi
và giúp đỡ thờng xuyên đối với các ngân hàng cho đến khi đặt họ vào tình
trang kiểm soát đặc biệt. Điều này có nghĩa là, việc hỗ trợ, giám sát, xử lý đợc
tiến hành với t cách Nhà nớc, có tính chất hành chính- kinh tế.
Vì là tổ chức tài chính công nên trong hệ thống BHTG thủ tục bù đắp
thiệt hại cho ngời gửi tiền hết sức chặt chẽ và phức tạp, nhiều khi có sự can
thiệp của Nhà nớc.
Qũy BTTG: thông qua tổ chức kiểm toán độc lập của Hiệp hội ngân
hàng, tình hình khó khăn của các ngân hàng sớm đợc phát hiện. Qua đó, tổ
chức kiểm toán có tiếng nói quan trọng về mức độ giúp đỡ, thời hạn phải trả
nợ, nhất là giải pháp vợt qua khó khăn để hồi phục.
Có thể nói rằng, đặc điểm nổi bật nhất của hệ thống BTTG là gắn kết với
hệ thống kiểm toán độc lập của Hiệp hội ngân hàng. BTTG và kiểm toán là hai
tổ chức đi đôi với nhau nh hình với bóng. Nếu không có kiểm toán thì Hiệp
hội ngân hàng không có cách nào tiếp cận và giúp đỡ có hiệu quả các ngân
hàng hội viên.

nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nớc.
Mặt khác, tổ chức BTTG còn góp phần chống độc quyền, đa dạng hoá
các hình thức đảm bảo tiền gửi, nâng cao tính cạnh tranh và chủ động hội
nhập với khu vực và quốc tế. Hơn nữa nó còn góp phần chống ỷ lại và dựa
dẫm vào sự bao cấp của Nhà nớc. Điều đó cũng góp phần nâng cao tính tự
chiụtrách nhiệm trong kinh doanh.
6
Chơng II: Thực tiễn hoạt động của tổ chức
BHTG và BTTG ở Việt Nam
I- Sự cần thiết thành lập tổ chức BH và BTTG ở Việt Nam:
Trong các hoạt động kinh tế, tín dụng là một trong những hoạt động phát
triển khá mạnh mẽ. Mặc dù hoạt động tín dụng đem lại lợi nhuận cao nhng
những rủi ro tín dụng nh: rủi ro mất khả năng thanh toán, rủi ro lãi suất, rủi ro
tỉ giá hối đoái có thể xảy ra bất cứ lúc nào gây tổn thất cho các qũy tín dụng
và để lại những hậu quả khôn lờng về nhiều mặt.
Đối với kinh tế: hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng có liên
quan trực tiếp đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân, các tổ chức, các doanh
nghiệp, ngời gửi tiền. Nếu có rủi ro gây thiệt hại lớn hoặc làm phá sản một vài
tổ chức tín dụng sẽ tạo tâm lý không an tâm đối với nhân dân, họ đua nhau rút
tiền làm phá sản hàng loạt ngân hàng và tổ chức tín dụng, làm cho nhiều
doanh nghiệp mất vốn và ảnh hởng đến nền kinh tế nói chung.
Đối với ngân hàng và các TCTD: rủi ro tín dụng ảnh hởng trực tiếp đến
hoạt động kinh doanh của họ nh: giảm lợi nhuận, thua lỗ hoặc mất khả năng
chi trả.
Đối với khách hàng: có thể mất vốn dẫn đến khó khăn trong sản xuất,
kinh doanh, trong cuộc sống hàng ngày
Để đối phó với những thiệt hại, tổn thất không lờng trớc đợc do các rủi ro
gây ra, có rất nhiều biện pháp khác nhau nhng biện pháp tốt nhất là lập ra các
tổ chức BH và BTTG. Nh vậy tổ chức BHTG và BTTG ra đời nhằm đảm bảo
an toàn tiền gửi cho những ngời gửi tiền, duy trì sự ổn định của các tổ chức tín

III. Hoạt động của tổ chức BHTG ở Việt Nam:
Tổ chức BHTG ở nớc ta mới đợc hình thành và đi vào hoạt động tháng 7/
2000. Quá trình nghiên cứu và cho ra đời tổ chức BHTG cũng là quá trình tiếp
cận với những vấn đề mới trong điều kiện hệ thống ngân hàng ở nớc ta đang
thực hiện việc chấn chỉnh và sắp xếp lại (trớc đó các qũy tín dụng nhân dân đã
tham gia bảo hiểm trong hệ thống bảo hiểm Việt Nam). Với nỗ lực không
ngừng của Nhà nớc và các cơ quan chuyên môn, tổ chức BHTG cũng đã đợc
thành lập dựa trên một số nội dung sau:
1. Các rủi ro đợc bảo hiểm:
Trong BHTG, các rủi ro sau đây đợc bảo hiểm:
1.1. Sự phá sản của các tổ chức tín dụng:
Phá sản là trờng hợp các tổ chức tín dụng không thể trả nợ một cách đầy
đủ hoặc không thể tiếp tục kinh doanh vì bị thiếu vốn. Trong trờng hợp này,
các công việc kinh doanh của qũy phải đợc giao cho ban thanh lý tài sản xử lý
các tài sản còn lại theo đúng quy định pháp lý về phá sản của Nhà nớc.
8
1.2. Sự giải thể bắt buộc của các tổ chức tín dụng:
Giải thể bắt buộc do không tuân thủ các nguyên tắc, luật lệ của Nhà nớc
hoặc có thể do chủ nợ đề nghị toà án ra lệnh tuyên bố giải thể vì tổ chức tín
dụng từ chối thanh toán và chỉ có cách này mới hi vọng thu hồi đợc tiền.
1.3. Phải chấp hành lệnh thanh lý vì một lý do khác với việc phá sản hay
mất khả năng thanh toán của tổ chức tín dụng:
Trờng hợp này xảy ra khi cơ quan có thẩm quyền xét thấy qũy mặc dù vẫn
có khả năng thanh toán nhng không đúng mục đích đã đề ra, không muốn toà án
can thiệp mà quyết định thanh lý qũy, không cho hoạt động tiếp. Trong trờng hợp
này, bảo hiểm sẽ giải quyết bồi thờng cho những ngời gửi tiền nhng sẽ đợc thế
quyền để đợc hởng số tiền thanh lý tài sản hay đòi nợ.
2. Các rủi ro loại trừ:
Những rủi ro loại trừ (không thuộc phạm vi bảo hiểm) là những rủi ro gây ra
sự phá sản, thanh lý hay giải thể một tổ chức tín dụng trong các trờng hợp:

cá nhân. Do đó, đồng Việt Nam của các pháp nhân không đợc bảo hiểm.
Thêm vào đó, chỉ có tiền Việt Nam đợc bảo hiểm,còn tiền gửi ngoại tệ không
đợc bảo hiểm. Đây cũng là vấn đề gây tranh cãi hiện nay.
3.2. Phí bảo hiểm:
Phí bảo hiểm là số tiền TCTD phải trả cho ngời bảo hiểm để bảo hiểm có
số d tiền gửi có kì hạn của quý tại thời điểm cuối mỗi qúy. Phí bảo hiểm mà
TCTD trả cho ngời bảo hiểm theo từng qúy đợc tính theo công thức:
R
P = m x x 90
365
Trong đó: P: phí bảo hiểm theo qúy
m: số d tiền gửi có kì hạn
90: số ngày của một qúy
365: số ngày trong năm
R: tỷ lệ phí bảo hiểm
Nghị định số 89/ 1999 NĐ quy định tỷ lệ phí bảo hiểm là 0,15% / năm
tính trên tổng số d bình quân của các cá nhân gửi tại TCTD tham gia BHTG.
Đây là mức phí khoán chung cho tất cả các đối tợng tổ chức nhận tiền gửi
dân c, mà cha có tiêu chí phân loại, đánh giá các tổ chức tín dụng đã đề ra
mức phí thích hợp. Đây, bảo hiểm chỉ bảo hiểm các khoản tiền gửi có kì hạn.
Do đó, khi báo cáo số d tiền gửi, các TCTD phải phân loại: những tài khoản
10
tiền gửi không kì hạn và có kì hạn. Trên cơ sở phân loại đó, cuối mỗi qúy, các
TCTD có thể tính phí bảo hiểm và trả cho ngời bảo hiểm.
Phơng pháp tính phí bảo hiểm đợc tính 4 kì trong một năm theo các qúy
và đợc nạp vào ngày cuối của ngày đầu tháng quý tiếp theo. Nh vậy có nghĩa
theo phơng pháp tính phí này thì số d bình quân của các tháng trong qúy trớc
chỉ sử dụng để bảo hiểm cho khách hàng, còn số d qúy sau tại TCTD tham gia
BHTG. Đối với các TCTD Nhà nớc hiện nay thì phí đóng BHTG là lớn nhất,
nhng việc BHTG phải can thiệp thì hầu nh ít xảy ra do có những đặc thù riêng

Đối với các tổ chức tín dụng, việc tham gia BHTG sẽ làm tăng thêm lòng
tin của khách hàng và công chúng đối với các tổ chức mình, và từ đó sẽ tạo đà
cho các TCTD phát triển, mở rộng quy mô. Khi đó số lợng khách hàng tham
gia gửi tiền vào TCTD đó sẽ tăng, đồng thời với việc lợng tiền gửi tăng lên,
các TCTD có điều kiện ngày càng mở rộng các nghiệp vụ của mình. Nhờ đó
TCTD sẽ phát triển lớn mạnh, tăng cả về quy mô và hoạt động .
Đối với các cơ quan quản lý Nhà nớc về tiền tệ, tài chính và pháp luật,
gánh nặng của công tác thanh tra, giám sát hoạt động của các TCTD sẽ đợc
chia sẻ do tổ chức BHTG có chức năng và phải tham gia vào công tác kiểm tra
hoạt động tài chính của các TCTD (nhằm đảm bảo chi trả đúng cũng nh giảm
thiệt hại cho tổ chức BHTG)
2. Nhợc điểm:
Bên cạnh những u điểm không thể phủ nhận của tổ chức BHTG vẫn còn
một số tồn tại cần phải giải quyết:
Tổ chức BHTG Việt Nam là một tổ chức tài chính có t cách pháp nhân
nhng hiện nay chỉ có trụ sở chính tại Hà Nội, không có mạng lới tại các tỉnh.
Trong khi đó, tổ chức tham gia BHTG lại có khắp trong cả nớc
Với mô hình tổ chức đó đã trở ngại lớn cho mối quan hệ giữa tổ chức
BHTG Việt Nam và các TCTD. Trong thời gian đầu, NHNN tỉnh có thể giúp
đỡ BHTG Việt Nam hớng dẫn các TCTD triển khai việc lập hồ sơ đăng ký
tham gia BHTG, kiểm tra tính hợp pháp và hợp lệ của hồ sơ, hớng dẫn tính phí
BHTG. nhng về lâu dài thì những việc đó NHNN tỉnh không thể làm thay vì
không thuộc chức năng của NHNN
BHTG là loại hình bảo hiểm, bảo hiểm bắt buộc.Tổ chức BHTG là tổ
chức duy nhất, điều này sẽ nảy sinh sự bất bình đẳng trong cơ chế thị trờng và
sự độc quyền
Nghị định 89/1999 NĐ-CP quy định:tiền gửi đợc bảo hiểm là đồng
Việt Nam của các cá nhân gửi tại tổ chức tham gia BHTG .Nh vậy theo quy
định này thì tiền gửi của các pháp nhân không đợc bảo hiểm. Trong khi đó
ngân hàng thơng mại có quan hệ với rất nhiều các pháp nhân và họ có một

giữa lãi suất đầu ra và lãi suất đầu vào rất thấp. Với tỷ lệ phí 0,15 % sẽ làm
cho chi phí đầu vào cao và cơ hội giảm lãi suất cho vay sẽ khó có thể thực
hiện đợc dẫn đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng càng gặp nhiều khó
khăn hơn.
Tỷ lệ này là không phù hợp vì mức độ rủi ro của mỗi loại hình TCTD là
khác nhau, do mục đích và tính chất hoạt động khác nhau, do trình độ quản lý,
điều hành, kinh nghiệm khác nhau Chẳng hạn Ngân hàng Thơng mại quốc
doanh Trung ơng với quy mô huy động vốn của cá nhân có thể lên đến hàng
chục nghìn tỷ, do đó phí bảo hiểm có thể lên tới con số rất lớn, trong khi đó
13
mức độ rủi ro không đáng kể (do là Ngân hàng Nhà nớc, đợc Nhà nớc bảo
trợ ). Ngợc lại ở Ngân hàng cổ phần thì mức độ rủi ro cao hơn nhiều do mới
ra đời.
Qua việc phân tích cụ thể những hạn chế trong tổ chức và hoạt động của
BHTG cho thấy vấn đề đặt ra là các cơ quan quản lý Nhà nớc, đặc biệt là
Ngân hàng Nhà nớc Việt Nam cần phải quan tâm theo dõi, nghiên cứu và đa
ra một số giải pháp thích hợp nhằm giảm thiểu những tác hại có thể xảy ra,
đồng thời phát huy trọn vẹn mặt tích cực của loại hình BHTG còn rất mới mẻ
ở nớc ta.

14
Chơng III: Kiến nghị và giải pháp
I- Một số kiến nghị nâng cao hiệu quả của hoạt động
BHTG ở nớc ta:
Để khắc phục những hạn chế và phát huy mặt tích cực của BHTG, kinh
nghiệm thực tiễn của các nớc tiên tiến trên thế giới đã chỉ ra một số biện pháp
mà chúng ta có thể học hỏi, tham khảo. Cụ thể là:
Tổ chức BHTG cần có mạng lới ở các địa phơng. Trớc mắt, nên có ở
từng khu vực và lâu dài phải có ở tất cả các tỉnh (đủ số lợng và mạnh về chất l-
ợng) để có thể thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình với các tổ chức tham

tranh vừa phải cho các hệ thống ngân hàng.
Duy trì môi trờng cạnh tranhlành mạnh, thích hợp.
Sự cạnh tranh buộc các TCTD hoạt động có hiệu quả hơn và phục vụ
khách hàng tốt hơn. Tuy nhiên, sự cạnh tranh quá mức sẽ dẫn đến nhiều nguy
cơ và làm tăng sự liêu lĩnh của các TCTD. Khi mức lợi nhuận giảm mạnh do
cạnh tranh khốc lịêt sẽ dễ hớng các TCTD lao vào các hoạt động có rủi ro cao.
Do vậy, cần tạo môi trờng cạnh tranh lành mạnh bằng cách duy trì thích hợp
số lợng cácTCTD, kiểm soát việc cho ra đời các TCTD mới cũng nh việc mở
thêm các chi nhánh, phòng giao dịch và một số biện pháp ngăn ngừa nh đã
nêu trên.
NHNN cần quy định cụ thể các thông tin, số liệu về hoạt động mà các
TCTD bắt buộc phải công khai cho công chúng biết.Thực hiện tốt điều này sẽ
đem lại nhiều lợi ích cho bản thân TCTD và cho cả xã hội.
Đối với cổ đông, ngời gửi tiền, khách hàng có đợc nhiều thông tin chính
xác về chất lợng và hoạt động của TCTD sẽ giúp cho họ có đợc quyết định
đúng đắn trong việc đầu t,giao dịch với ngân hàng.
Đối với các TCTD, việc công khai chất lợng hoạt động của mình sẽ làm
giảm bớt sự liều lĩnh, bất hợp pháp (nếu có) trong tổ chức mình.
Đối với cơ quan quản lý và pháp luật sẽ giảm đợc khối lợng công việc
giám sát, theo dõi, đồng thời phát hiện nhanh và ngăn chặn kịp thời các hành
vi, nguy cơ có thể xảy ra.
Hiện nay, thực hiện công tác này vẫn còn khá yếu kém ở Việt Nam và
cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến vụ đổ bể kinh tế lớn và thua lỗ
nặng của một vài ngân hàng.
Nghị định 89/1999 NĐ-CP và thông t 03/2000 TTNHNN nên bổ sung,
sửa đổi một số nội dung sau:
- Đối tợng bảo hiểm ngoài cá nhân phải có pháp nhân.
- Không chỉ bảo hiểm tiền gửi là VNĐ mà cả ngoại tệ.
- Mức phí bảo hiểm không dàn đều mà tuỳ vào mức độ rủi ro của các
TCTD theo hớng phí bảo hiểm thấp thì rủi ro thấp và ngợc lại.Nh vậy, một

nhất vào một quỹ bảo toàn hay bảo hiểm tiền gửi.
2. Hình thức sở hữu:
Tài sản của Quỹ BHTG thuộc sở hữu chung của các thành viên, bao gồm
vốn điều lệ đóng góp ban đầu, phí bảo hiểm phải đóng hàng năm, khoản sinh
lời tích luỹ đợc. Một thành viên đã đóng góp, khi không tham gia nữa, có
quyền rút phần tài sản tơng ứng hiện có của Qũy với một số đều kiện nhất
định.
17
3. Nguồn vốn của Qũy BTTG:
3.1. Vốn tự có:
Vốn này dùng để xây dựng trụ sở và mua sắm phơng tiện làm việc. Đó là
vốn điều lệ do thành viên đóng góp.
3.2. Phí bảo toàn:
Bao gồm:
Vốn góp: trích từ vốn huy động của thành viên tham gia (tính theo tỷ
lệ % trên số tiền gửi đợc bảo toàn).
Lệ phí bảo toàn:
Nguyên tắc lệ phí:
+ Số tiền gửi đợc bảo toàn càng lớn, lệ phí càng thấp.
+ Thành viên mới tham gia phải đóng góp phí lần đầu cao hơn so với
thành viên cũ.
+ Mức rủi ro càng lớn, phí càng cao.
+ Qũy càng lớn, phí càng thấp.
Tiền lời: do sử dụng vốn nhàn rỗi của qũy đem lại.
4. Phơng tiện bảo toàn:
4.1. Giới hạn bảo hộ:
Tiền gửi VNĐ và ngoại tệ bao gồm: tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn và
không kỳ hạn của dân c; kỳ phiếu và trái phiếu ngân hàng đích danh; các
chứng chỉ tiền gửi ngân hàng đích danh.
Không đợc bảo toàn tiền gửi VNĐ và ngoại tệ bao gồm: kỳ phiếu và trái

5. Tổ chức quản lý:
BTTG là hình thứcliên kết tơng trợ của các ngân hàng thơng mại thành
viên Hiệp hội ngân hàng, Quỹ do Hiệp hội lập nên và quản lý cùng với một tổ
chức phụ trợ là công ty kiểm toán, cũng trực thuộc Hiệp hội. Trong khuôn khổ
đó, tổ chức bộ máy và phơng thức vận hành Quỹ nên theo hớng sau:
Quỹ BTTG là một tổ chức trực thuộc Hiệp hội ngân hàng, có t cách
pháp nhân, hạch toán độc lập, có bộ máy tổ chức quản lý riêng, hoạt động
theo Luật công ty.
Quỹ BTTG đặt dới sự chỉ đạo trực tíêp của Hiệp hội ngân hàng.
Ban điều hành Quỹ gồm: Giám đốc, phó giám đốc và một số bộ phận
nghiệp vụ nh: Đầu t phát triển nguồn vốn, tổng hợp và trợ giúp các ngân hàng,
quản lý tài sản thanh lý và công nợ của các TCTD, pháp chế, kế toán.
19
Kết luận
Qua những phân tích trên đây, chúng ta có thể thấy đợc phần nào cơ cấu
tổ chức cũng nh quy cách hoạt động của tổ chức BHTG và BTTG. Chỉ mới
xem xét tổng quát đã có thể nhận ra nhiều điều thú vị qua hai loại hình trên.
Mỗi loại hình bảo hiểm hay bảo toàn đều có những u việt riêng, có thể bổ
sung cho nhau ngay trong mỗi quốc gia. Nhng dù BH hay BTTG, không thể
đảm bảo giải quyết đợc tình trạng khủng hoảng cả hệ thống ngân hàng. Đây là
một tình huống và là một thách thức cho tất cả các quốc gia khi gặp phải trờng
hợp này. Lúc đó phải có giải pháp khác.
Trong điều kiện nớc ta, tổ chức BHTG còn rất non trẻ, cần đợc tiếp tục
tăng cờng với góc độ phía Nhà nớc. Hoạt động của tổ chức BHTG nh sự phân
tích trên đây cho thấy có mặt u việt nhng cũng có mặt hạn chế. Trong bài viết
này, em đi sâu tìm hiểu những hạn chế của tổ chức BHTG Việt Nam để từ đó
đề ra một loại hình tổ chức khác - tổ chức BTTG - có thể bổ sung hoàn thiện
những tồn tại của BHTG. Trong lĩnh vực này, Hiệp hội ngân hàng nên tiếp tục
nghiên cứu mô hình Qũy BTTG để tìm ra những u việt của loại hình, không
chồng chéo với BHTG, khai thác đợc những tiềm năng của Hiệp hội, của hội

2. Nhợc điểm: 12
Chơng III: Kiến nghị và giải pháp 15
I- Một số kiến nghị nâng cao hiệu quả của hoạt động BHTG ở nớc ta: 15
II- Kiến nghị thành lập tổ chức BTTG ở Việt Nam: 17
1. Đối tợng tham gia: 17
2. Hình thức sở hữu: 17
3. Nguồn vốn của Qũy BTTG: 18
4. Phơng tiện bảo toàn: 18
5. Tổ chức quản lý: 19
Kết luận 20
Tài liệu tham khảo 21
22


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status