giá trị truyền thống trong điều kiện hiện nay ở nước ta dưới góc độ triết học, đặc biệt là giá trị sinh thái truyền thống - Pdf 10

Lời nói đầu

Kế thừa, đổi mới và phát triển là đặc trng mang tính quy luật của mọi
quá trình phát triển diễn ra trong tự nhiên, xã hội và t duy. Theo quan điểm
của chủ nghĩa duy vật biện chứng, phát triển chính là sự vận động theo
khuynh hớng đi lên từ thấp đến cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện, Kết
quả của quá trình vận động đó là sự ra đời sự vật mới, hoàn thiện hơn sự vật
cũ. Trong quá trình này, những yếu tố tích cực của cái cũ đợc giữ lại, cải biến
để tham gia vào cái mới với t cách là yếu tố cấu thành của nó. Có thể nói,
không có một sự vật mới nào lại ra đời từ h vô, mỗi sự vật mới ra đời luôn
kế thừa những yếu tố, những mặt của cái cũ mà nó phủ định. Cứ nh vậy, mọi
sự vật, hiện tợng trong tự nhiên, xã hội, t duy luôn vận động, phát triển không
ngừng. đó chính là quy luật chung của sự phát triển.
Sự vận động của truyền thống và những giá trị truyền thống cũng không
nằm ngoài quy luật đó. Trong các giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc
Việt Nam, giá trị văn hoá sinh thái có một vị thế đặc biệt, đợc thể hiện một
cách độc đáo trong t tởng, đạo đức và lối sống của con ngời Việt Nam. Các
giá trị văn hoá sinh thái truyền thống Việt Nam càng có ý nghĩa hơn trong bối
cảnh toàn cầu hoá hiện nay, khi mà vấn đề bảo vệ môi trờng sống đang là một
trong những vấn đề gay cấn nhất, bức xúc nhất, đồng thời cũng khó giải quyết
nhất của thời đại.
Phần lớn khi nói tới giá trị truyền thống, mọi ngời thờng hay nghĩ tới giá
trị đạo đức truyền thống mà không nghĩ tới giá trị sinh thái truyền thống. Do
đó, đây là đề tài đầu tiên đề cập đến vấn đề sinh thái truyền thống ở Việt
Nam. Đề tài này có một giá trị to lớn, đã giải quyết tốt mối quan hệ giữa
truyền thống và hiện đại, giữa văn hoá và trí tuệ, tạo ra sức mạnh to lớn và
đảm bảo chắc chắn cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nớc trong kỷ
nguyên mới. Tuy nhiên, đề tài cũng còn nhiều hạn chế, thiếu sót.
Nhờ sự hớng dẫn và giúp đỡ tận tình của giảng viên TS. Dơng Thị Liễu
mà tôi có thể hoàn thành đề tài này. Vì vậy, em xin gửi đến cô lời cảm ơn
chân thành nhất.

định sự vật cũ. Điều đó cũng có nghĩa là sự phủ định là tiền đề, điều kiện cho
sự phát triển liên tục, cho sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ. Đó là phủ định
biện chứng.
1.2. Phủ định biện chứng
Phủ định biện chứng là phạm trù triết học dùng để chỉ sự phủ định tự
thân, sự phát triển tự thân, là mắt khâu trong quá trình dẫn tới sự ra đời sự
vật mới, tiến bộ hơn sự vật cũ.
2. Các đặc trng cơ bản của phủ định biện chứng

Phủ định biện chứng có hai đặc trng cơ bản sau đây: thứ nhất, nó mang
tính khách quan, là điều kiện của sự phát triển; thứ hai, nó mang tính kế thừa,
là nhân tố liên hệ giữa cái cũ và cái mới.
2.1.Tính khách quan
Phủ định biện chứng mang tính khách quan do nguyên nhân của sự phủ
định nằm ngay trong bản thân sự vật. Đó chính là kết quả giải quyết những
mâu thuẫn bên trong sự vật. Nhờ việc giải quyết những mâu thuẫn mà sự vật
luôn phát triển, vì thế, phủ định biện chứng là một tất yếu khách quan trong
quá trình vận động và phát triển của sự vật. Đơng nhiên, mỗi sự vật có phơng
thức phủ định riêng tuỳ thuộc vào sự giải quyết mâu thuẫn của bản thân
chúng. Điều đó cũng có nghĩa, phủ định biện chứng không phụ thuộc vào ý
muốn, ý chí của con ngời. Con ngời chỉ có thể tác động làm cho quá trình phủ
định ấy diễn ra nhanh hay chậm trên cơ sở nắm vững quy luật phát triển của
sự vật.

Chẳng hạn, trong lịch sử triết học, sự phát triển của phép biện chứng duy
vật là quá trình phủ định biện chứng liên tục từ phép biện chứng tự phát thời
cổ đại qua phép biện chứng duy tâm của triết học cổ điển Đức đến phép biện
chứng duy vật. Sự phát triển của các học thuyết khoa học là kết quả của
những sự phủ định liên tục những trí thức về sự vật, hiện tợng hay quá trình
của thế giới.


Những điều phân tích trên cho thấy, phủ định biện chứng không chỉ là sự
khắc phục cái cũ, sự vật cũ, mà còn là sự liên kết giữa cái cũ với cái mới, sự
vật cũ với sự vật mới, giữa sự khẳng định với sự phủ định, quá khứ với hiện
thực. Phủ định biện chứng là mắt khâu tất yếu của mối liên hệ và sự phát
triển.

Quá khứ không bao giờ lại biến mất hoàn toàn.Trong dòng chảy vô tận
của thời gian, những nhân tố của quá khứ sẽ để lại dấu ấn nhất định ở hiện tại.
Những nhân tố của quá khứ sẽ tham gia vào việc tạo lập cái hiên tại, tạo nên
sợi dây liên hệ sinh động giữa quá khứ và hiện tại.

Song, ngay cả đối với nhân tố tích cực của cái bị phủ định đợc giữ lại, nó
vẫn đợc duy trì dới dạng lọc bỏ. Chẳng hạn, trong khi phủ định chủ nghĩa t
bản với t cách là một chế độ lỗi thời, chũ nghĩa xã hội cũng kế thừa toàn bộ
những thành quả của sự phát triển tiến bộ xã hội đã đạt đợc trong chủ nghĩa t
bản. Song, những yếu tố đợc giữ lại đó cũng phải đợc cải tạo, đợc biến đổi
trên cơ sở những nguyên tắc của chủ nghĩa xã hội để trở thành những yếu tố
nội tại của xã hội xã hội chủ nghĩa.

3. Quy luật phủ định của phủ định. Hình thức xoáy ốc
của sự phát triển

Phủ định biện chứng mới nói lên một giai đoạn, một nấc thang trong quá
trình phát triển. Với t cách là kết quả của phủ định làn thứ nhất, cái mới
cũng chứa đựng trong bản thân mình xu hớng dẫn tới những lần phủ định tiếp
theo phủ định của phủ định. Chỉ có thông qua phủ định của phủ định mới
dẫn tới việc ra đời một sự vật, trong đó có sự lặp lại một số đặc trng cơ bản
của cái xuất phát ban đầu, nhng trên cơ sở cao hơn. Đến đây mới hoàn thành
một chu kỳ phát triển. Khuynh hớng chung nh vậy của sự phát triển đợc khái

sự phát triển nh là một quá trình diễn ra theo vòng tròn khép kín.

Phủ định của phủ định với t cách là một quy luật cơ bản của phép biện
chứng lần đầu tiên đợc trình bày trong triết học Hêghen. Nhng quy luật đó đ-
ợc xây dựng trên cơ sở duy tâm khách quan và theo công thức ba đoạn một
cách máy móc.

Việc quan sát thấu đáo các quá trình tự nhiên, xã hội và t duy đã chỉ ra
rằng, sự vận động diễn ra theo rất nhiều xu hớng.Tính vô cùng tận của thế
giới vật chất cũng biểu hiện cả trong tính vô cùng tận của các khuynh hớng
vận động, trong đó, sự vận động theo vòng tròn khép kín chỉ là một trong
những khuynh hớng có thể có, đó không phải là khuynh hớng duy nhất.

Sự phát triển biện chứng thông qua những lần phủ định biện chứng, nh
trên đã nói, là sự thống nhất giữa loại bỏ, giữ lại (kế thừa) và phát triển. Mỗi
lần phủ định biện chứng đợc thực hiện sẽ mang lại những nhân tố tích cực
mới. Do đó, sự phát triển thông qua những lần phủ định biện chứng sẽ tạo ra
xu hớng tiến lên không ngừng, sự vật sẽ ngày càng phát triển.

Quy luật phủ định của phủ định biểu hiện sự phát triển của sự vật là do
mâu thuẫn trong bản thân sự vật quyết định. Mỗi lần phủ định là kết quả đấu
tranh và chuyển hoá giữa các mặt đối lập trong bản thân sự vật giữa mặt
khẳng định và mặt phủ định. Sự phủ định lần thứ nhất đợc thực hiện một cách
căn bản làm cho sự vật cũ chuyển thành cái đối lập với mình. sự phủ định lần
thứ hai đợc thực hiện dẫn tới sự vật mới ra đời. Sự vật này đối lập với cái đợc
sinh ra ở lần phủ định thứ nhất. Nh vậy, về hình thức, sẽ trở lại cái xuất phát,
song, thực chất, không phải giống nguyên nh cũ, mà dờng nh lặp lại cái cũ,
nhng trên cơ sở cao hơn. Đặc điểm quan trọng nhất của sự phát triển biện
chứng thông qua phủ định của phủ định chính là sự phát triển dờng nh quay
trở lại cái cũ, nhng trên cơ sở cao hơn.

chất tiến lên của sự phát triển. Mỗi vòng mới của đờng xoáy ốc thể hiện
một trình độ cao hơn của sự phát triển, đồng thời dờng nh quay lại cái đã qua,
dờng nh lặp lại vòng trớc. Sự nối tiếp nhau của các vòng thể hiện tính vô tận
của sự phát triển, tính vô tận của sự tiến lên từ thấp đến cao.

Nghiên cứu quá trình phát triển của sự vật theo quy luật phủ đinhj của
phủ định, chúng ta không đợc hiểu một cách máy móc là mọi sự vật trong thế
giới hiện thực đều phải trải qua hai lần phủ định mới hoàn thành một chu kỳ
phát triển của chúng. Trong hiện thực, một chu kỳ phát triển của sự vật cụ thể
có thể bao gồm số lợng các lần phủ định nhiều hơn hai. Có sự vật trải qua hai
lần phủ định, có sự vật phải trải qua ba, bốn, năm lần phủ định, mới hoàn
thành một chu kỳ phát triển. Điều đó phụ thuộc vào tính chất của một quá
trình phát triển cụ thể, nhng ít nhất cũng phải hai lần.Chẳng hạn:

Vòng đời của con tằm : trứng - tằm nhộng ngài trứng. ở đây
vòng đời của tằm phải trải qua bốn lần phủ định.

Các nguyên tố hoá học trong bảng Hệ thống tuần hoàn do Menđêleep
thể hiện rõ điều khái quát nêu trên. Các nguyên tố hoá học phải trải qua rất
nhiều lần phủ định mới hoàn thành chu kỳ phát triển của chúng.

Mặt khác, trong số rất nhiều lần phủ định của một chu kỳ phát triển biện
chứng, tất cả các lần phủ định đó vẫn có thể khái quát lại là hai lần : phủ định
biện chứng lần thứ nhất là loại phủ định chuyển cái xuất phát thành cái đối
lập với mình, phủ định biện chứng lần thứ hai là loại phủ định chuyển cái
trung gian thành cái đối lập của nó, và do đó làm xuất hiện sự vật dờng nh lặp
lại cái xuất phát, nhng trên cơ sở mới cao hơn.

Từ sự phân tích đã đợc nêu ra ở trên, chúng ta khái quát về nội dung cơ
bản của quy luật phủ định của phủ định nh sau:


Theo quy luật phủ định của phủ định, mọi sự vật luôn luôn xuất hiện cái
mới thay thế cái cũ, cái tiến bộ thay thế cái lạc hậu; cái mới ra đời từ cái cũ
trên cơ sở kế thừa tất cả những nhân tố tích cực của cái cũ, do đó nó luôn luôn
biểu hiện là một giai đoạn phát triển cao của sự vật vận dụng vào xem xét sự
vật, điều này tránh cho chúng ta thái độ phủ định sạch trơn cái cũ.

Trong giới tự nhiên, cái mới xuất hiện một cách tự phát; còn trong xã
hội, cái mới ra đời gắn liền với hoạt động có ý thức của con ngời. Chính vì
thế, trong công tác, chúng ta phải biết phát hiện và quý trọng cái mới, phải tin
tởng vào tơng lai phát triển của cái mới. Khi mới ra đời, cái mới luôn còn yếu
ớt, ít ỏi; vì vậy, chúng ta phải ra sức bồi dỡng, tạo điều kiện cho nó chiến
thắng cái cũ, phát huy u thế của nó. Trong khi đấu tranh chống lại cái cũ,
chúng ta phải biết sàng lọc, bỏ thô lấy tinh, biết giữ lấy những gì là tích cực,
là có giá trị của cái cũ, cải tạo cái cũ cho phù hợp với những điều kiện mới,
phải chống thái độ h vô chủ nghĩa trong khi nhìn nhận lịch sử, đánh giá lại
quá khứ. Chẳng hạn, trớc tình trạng tạm thời khủng hoảng,thoái trào hiện nay
của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô cũ và Đông Âu, không chỉ có những
kẻ chống cộng, có cả một số ngời vốn là macxit cũng ra sức phủ nhận những
thành quả to lớn mà chủ nghĩa xã hội đã tạo dựng đợc ở những nớc trớc đó.
Họ không thấy đợc rằng, trong hơn 70 năm tồn tại, chủ nghĩa xã hội ở Liên
Xô đã để lại những giá trị tích cực có ảnh hởng lâu dài đối với lịch sử toàn thế
giới.

Trong khi chống thái độ h vô chủ nghĩa, phủ định sạch trơn quá khứ,
chúng ta cũng phải khắc phục thái độ bảo thủ, kh kh giữ lại cả những cái lỗi
thời cản trở sự phát triển của lịch sử. Khi đề cập lệnh lạc này trên lĩnh vực văn
hoá, Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ơng khoá VIII nhận định
rằng, trong những năm gần đây, Nhiều hủ tục cũ lan tràn, nhất là trong việc
cới, việc tang, lễ hội .

kinh tế, xã hội mà dân tộc đó đã trải qua.
Chức năng của truyền thống là chuyển tải các chuẩn mực định hớng giá
trị của hành vi và hoạt động nhằm bảo tồn cốt cách của một nền văn hoá và
lối sống nhất định. Trong điều kiện giao lu văn hoá giữa các quốc gia, dân tộc
và rộng hơn là trên phạm vi toàn cầu, đòi hỏi các chủ thể xã hội phải có định
hớng hoạt động đúng đắn, nói cách khác là đề ra các chơng trình hoạt động
văn hoá thích hợp để sao cho hoà nhập mà không bị hoà tan, tức là không
đánh mất các giá trị truyền thống của mình trong tiếp biến văn hoá.
Hình thức tồn tại của truyền thống phụ thuộc vào khả năng chuyển tải
các chuẩn mực định hớng giá trị, với t cách là những mẫu tợng bền vững, lặp
đi lặp lại. Trong lễ nghi, tập quán, các giá trị truyền thống mang ý nghĩa biểu
tợng, dẫn dắt chủ thể vào môi trờng văn hoá và đến lợt mình, các giá trị
truyền thống ấy thông qua đó mà đợc bảo tồn, bổ sung thêm những cái mới,
có giá trị đã đợc thẩm định theo không gian, thời gian và chuyển tải cho các
thế hệ tiếp theo.

Phơng thức tác động vừa mang tính tự nhiên, vừa thông qua sự sàng lọc
của chủ thể hoạt động văn hoá. Mặc dù cả hai phơng thức tác động đều dựa
trên uy tín của truyền thống cái uy tín đã đợc chủ thể hoạt động thừa nhận
thông qua sự suy ngẫm, tiếp cận giá trị một cách có ý thức và trở thành yếu tố
quan trọng trong chơng trình hoạt động của nó. Nếu chủ thể hoạt động tiếp thu
truyền thống một cách vô thức hoặc có thể là mù quáng, thì truyền thống đó tác
động tới các yếu tố khác trong đời sống xã hội thờng chỉ đạt đợc ý nghĩa nhất
định nào đó chứ cha phải là giá trị, có khi lại trở thành phản giá trị.
2. Giá trị truyền thống trong lịch sử phát triển dân
tộc Việt Nam
Trong suốt lịch sử phát triển của dân tộc cho đến cuối thế kỷ XIX - đầu
thế kỷ XX, các giá trị truyền thống Việt Nam đã có một nội dung và vị thế ổn
định. Sự ổn định đó đợc quy định trực tiếp bởi tinh thần dân tộc với nòng cốt
là tinh thần yêu nớc đặc trng của Việt Nam, nhng sâu xa hơn và căn bản hơn,

vào thập kỷ thứ hai của thế kỷ XX và sức chinh phục mới mẻ, mạnh mẽ của
các học thuyết Tây phơng tràn vào Việt nam đã tạo ra xu hớng Tây hoá
ngày càng rộng rãi trong đời sống dân tộc. Do vậy, tình hình t tởng khi đó là
hết sức phức tạp, và trên thực tế, đã có một cuộc đấu tranh t tởng xung quanh
vấn đề giá trị. Các trí thức khi đó đồng nhất Nho giáo với giá trị truyền thống
của dân tộc. Thực chất của cuộc đấu tranh này là nhằm xác định vị thế của hệ
giá trị truyền thống mà Nho giáo là tiêu biểu trong đời sống tinh thần hiện đại
của dân tộc khi đó với sự hiện diện của các triết thuyết phơng Tây và số
phận nô lệ của Việt Nam. Qui mô của cuộc đấu tranh này dù chỉ giới hạn
trong lĩnh vực học thuật, nhng ý nghĩa của nó đã mở rộng ra nhiều phơng diện
khác nh chính trị, văn hoá, xã hội

Ngoài các ý kiến yếu ớt, kém sức thuyết phục của các nhà Nho thủ cựu
mong muốn duy trì nền cổ học, thời kỳ này đã có ba xu hớng mới trong việc
nhận định, đánh giá về Nho giáo.
Xu hớng thứ nhất chịu ảnh hởng của khoa học, kỹ thuật và các triết
thuyết phơng Tây, ngời ta đã phủ nhận hoàn toàn vị trí và vai trò của Nho giáo
trong đời sống hiện thời của dân tộc, coi Nho giáo là lỗi thời, thủ cựu, không
đủ năng lực chấn hng dân tộc theo kịp với các dân tộc văn minh khác. Đại
diện cho xu hớng này là Phan Khôi một nhà nho theo Tây học. Ông cho
rằng do ảnh hởng của thuyết Trung dung mà xã hội nớc ta hoá ra một cái xã
hội ơng ơng dở dở, trắng không ra trăng, đen không ra đen, ở đời thì giữ
cách không khôn không dại, xử sự thì chuộng cái lối không mềm không
cứng, vì thế nên bỏ cái thuyết Trung dung này đi. Với lập luận nh vậy, theo
ông, các giá trị truyền thống đã không còn chỗ đứng trong đời sống dân tộc
khi đó và cách thức tốt nhất để phát triển dân tộc là triệt đẻ trừ bỏ các giá trị
truyền thống và tiếp thu hết khả năng các giá trị mới của thời đại dựa trên
thực nghiệm chủ nghĩa, nền dân chủ và khoa học phơng Tây.
Xu hớng thứ hai , khi thấy nguy cơ các giá trị truyền thống có thế bị mai
một do sự sùng bái các giá trị mới ngoại nhập, muốn cứu vãn tình thế bị nô

đích thực hiện đại của nhân loại trên cơ sở hiểu rõ giá trị truyền thống của
dân tộc. Với ông, những giá trị mới của nhân loại khi đó, không gì khác ngoài
học thuyết của Mác.
Nền văn hoá mới mà Đảng Cộng Sản Việt Nam chủ trơng xây dựng gồm
có ba nguyên tắc dân tộc hoá, đại chúng hoá và khoa học hoá, trong đó,
nguyên tắc dân tộc hoá đợc đặt lên hàng đầu.
3. Nội dung và vị thế của giá trị truyền thống Việt Nam
trong giá trị nhân loại
Cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, trong thế bị động khi chạm trán với
xu hớng xâm chiếm phơng Đông của các nớc t bản phơng Tây, ở Việt Nam đã
có sự khủng hoảng về giá trị kéo dài gần nửa thế kỷ. Do yêu cầu đấu tranh
giành lại và bảo vệ độc lập dân tộc, các giá trị truyền thống đã có sự biến đổi
sâu sắc, trong đó chỉ một số giá trị tiếp tục đợc thừa nhận và phát huy nh tinh
thần yêu nớc, tình đoàn kết dân tộc, các giá trị đạo đức truyền thống,
Những giá trị đó đợc kết hợp với các giá trị của chủ nghĩa xã hội nh nam nữ
bình đẳng, tinh thần cộng sản chủ nghĩa, ý thức bảo vệ tài sản xã hội chủ
nghĩa, tạo nên một hệ giá trị mới. Các giá trị Nho giáo cũ tuy không đợc
thừa nhận về mặt chính thống, nhng trên thực tế, chúng vẫn tác động ngấm
ngầm trong đời sống xã hội. Hệ giá trị mới này có độ bền vững tơng đối lớn
trong suốt thời kỳ chiến tranh, nhng bắt đầu có dấu hiệu bất cập với xã hội từ
sau khi đất nớc thống nhất, cả nớc đi lên chủ nghĩa xã hội. Các dấu hiệu đó
ngày càng trỏ nên mạnh mẽ và có nguy cơ trở thành khủng hoảng về giá trị,
đặc biệt trong những năm gần đây, trớc ảnh hởng của quá trình toàn cầu hoá.
Tuy nhiên, với việc vận dụng chủ nghĩa Mác Lênin vào sự nghiệp giải
phóng dân tộc của Việt Nam, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã bằng thực tiễn
cách mạng vẻ vang của mình xác lập vị thế của các giá trị truyền thống trong
mối quan hệ thống nhất, biện chứng truyền thóng hiện đại.
Trong Báo cáo Chính trị tại Đại hội toàn quốc lần thứ IX, Đảng đã xác
định: Xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc vừa là mục
tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội. Mọi hoạt động

khẳng định một cách trực tiếp từ mối quan hệ qua lại và tác động lẫn nhau
giữa con ngời Việt Nam truyền thống với những điều kiện thiên nhiên vốn có.
Môi trờng thiên nhiên Việt Nam với đặc điểm vừa đẹp, vừa hào phóng,
lại vừa rất khắc nghiệt là nền tảng đầu tiên để hình thành nên bản sắc văn hoá
dân tộc nói chung, văn hoá sinh thái nói riêng. Những điều kiện đó giữ vai trò
quan trọng trong việc định hớng hoạt động của con ngời và đồng thời quyết
định cả xu hớng vận động của các giá trị truyền thống trong suốt chiều dài
lịch sử dân tộc. Nói cách khác, các giá trị văn hoá sinh thái truyền thống là
kết quả của quá trình con ngời Việt Nam sống, hoạt động và thể hiện mình
trong những điều kiện cụ thể, đặc thù của thiên nhiên Việt Nam.
Trong hệ giá trị văn hoá sinh thái truyền thống, nổi lên một số giá trị cơ
bản sau đây:
Giá trị về triết lý sống:
Triết lý sống chung nhất của ngời phơng Đông nói chung, ngời Việt
Nam nói riêng, là sống hài hoà với thiên nhiên, đợc xây dựng trên cơ sở kết
hợp nhuần nhuyễn giữa triết học nhân sinh phơng Đông vốn chịu ảnh hởng
sâu sắc của đạo Phật, đạo Nho và đạo Lão với lối t duy thực tế và lối sống
thực dụng của ngời dân lao động luôn sống gắn bó với thiên nhiên. Triết lý
sống này đợc thể hiện ở ba quan niệm cơ banr phản ánh ba mức độ khác nhau
của mối quan hệ giữa con ngời và thiên nhiên:
Một là, quan niệm Thiên - Địa - Nhân hoà đồng hay Thiên - Nhân
hợp nhất. Đây là quan niệm sơ khai nhất của con ngời về mối quan hệ của
họ với thiên nhiên. Con ngời và thiên nhiên là một khối liên thông bền chặt,
không thể tách rời. Điều này đợc thể hiện rõ rệt trong lĩnh vực lao động sản
xuất. Do nớc ta là một nớc mà nghề nông là chủ yếu, nên lao động sản xuất
phụ thuộc rất nhiều vào thiên nhiên. Chính điều đó đã gắn kết con ngời Việt
Nam từ ngàn xa với thiên nhiên. Do đó, ngay trong những câu tục ngữ từ xa
xa, ta đã thấy đợc vai trò của thiên nhiên đối với lao động sản xuất:
Trông trời, trông đất, trông mây
Trông ma, trông nắng, trông ngày, trông đêm

Con ngời Việt Nam yêu thiên nhiên, sống gắn bó với thiên nhiên vì họ
hiểu những giá trị, những lợi ích to lớn mà thiên nhiên mang đến cho họ:
rừng vàng, biển bạc, tắc đất, tắc vàng, Lối ví von thiên nhiên nh vàng,
nh bạc không chỉ có nghĩa là thiên nhiên giàu có. mà còn chứng tỏ rằng thiên
nhiên trong tâm khảm ngời Việt Nam là vô cùng quý giá, là nguồn sống,
nguồn của cải vật chất mà con ngời phải tôn trọng, bảo vệ, giữ gìn không chỉ
cho các thế hệ hôm nay, mà còn cho các thế hệ mai sau. Thiên nhiên còn là
nguồn cảm hứng thẩm mỹ vô hạn đối với con ngời:
Đờng vô xứ Nghệ quanh quanh
Non xanh nớc biếc nh tranh hoạ đồ
Thiên nhiên càng trở nên sinh động hơn, đẹp hơn, thi vị hơn khi hoà
quyện với hình ảnh ngời lao động:
Cô kia tát nớc bên đàng
Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi
hay
Trên đồng cạn, dới đồng sâu
Chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa
Với nguồn cảm hứng thẩm mỹ sâu sắc trớc thiên nhiên, con ngời đã khám
phá ra, xây dựng nên những công trình kiến trúc nh đền, chùa, miếu mạo tuy
không đồ sộ, hoành tráng nhng sâu lắng hài hoà với khung cảnh thiên nhiên và
phù hợp với tâm thức của ngời Việt nh các di tích lịch sử, chùa Hơng (động H-
ơng Tích), chùa Non nớc, chùa Tây Phơng, đền Hùng, động Phong Nha, Côn
Sơn, các lăng tẩm ở cố đô Huế, Đấy thực sự là những hệ sinh thái nhân
văn đẹp, hài hoà giúp con ngời th giãn, thởng ngoạn cảnh đẹp và sự linh thiêng
trong các dịp lễ, hội để có thể phục hồi về sức lực và sự công bằng về tinh thần
sau những ngày lao động nặng nhọc, vất vả.
Con ngời Việt Nam yêu thiên nhiên, bởi vì yêu thiên nhiên còn là cội
nguồn của tình yêu Tổ quốc, hay nói cách khác, lòng yêu nớc bắt nguồn từ
tình yêu thiên nhiên. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: Việt Nam có hai
tiếng Tổ quốc, ta cũng gọi Tổ quốc là đất nớc, có đất và có nớc thì mới thành

các sinh vật
Chuồn chuồn bay thấp thì ma
Bay cao thì nắng, bay vừa thì râm
trạng thái của mây, gió, sấm, chớp
Ráng mỡ gà, ai có nhà phải chống
Mống dài thì lụt, mống cụt thì ma
đã dần dần hình thành nên một kho tri thức kinh nghiệm dân gian vô
cùng phong phú, đa dạng và có phần đúng đắn. Cái vốn kinh nghiệm sống đó
trở thành vốn tri thức cần thiết cho con ngời ở mọi thế hệ, nó hóng dẫn, quy
định nếp sống, nếp ăn, nếp mặc, nếp ở, của con ngời Việt Nam.
Một biểu hiện rõ nét nữa của sinh thái truyền thống là ở cách khám,
chữa bệnh dân gian. Các danh y nổi tiếng ở Việt Nam nh Tuệ Tĩnh, Hải Th-
ợng Lãn Ông khi tiếp thu nên y học Trung Quốc đã có những cải biến cho phù
hợp với cây thuốc Việt Nam, con ngời Việt Nam. Ngời Việt chữa bệnh không
chỉ bằng thuốc, mà còn bằng ăn uống, và vì vậy, thuốc chữa bệnh ở xung
quanh con ngời Cả thiên nhiên là một kho thuốc khổng lồ, một kho dợc
liệu khai thác không bao giờ hết. Đó cũng là một cách sống nơng nhờ thiên
nhiên của ngời Việt Nam.
4.2. Giá trị văn hoá sinh thái truyền thống ở Việt Nam trong bối cảnh
toàn cầu hoá
*Thực trạng và một số vấn đề cấp bách đang đặt ra trong lĩnh vực môi
trờng sống.
Toàn cầu hoá diễn ra nh một xu thế khách quan trong thời đại hiện nay.
Toàn cầu hoá diễn ra trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Bên cạnh những
mặt tích cực, toàn cầu hoá cũng có mặt tiêu cực. Một trong những thách thức
đó là nguy cơ đánh mất những giá trị truyền thống, đánh mất bản sắc văn hoá,
tức là đánh mất đi những gì là tinh tuý, thiêng liêng nhất của dân tộc.
Mặt khác, trên đất nớc ta đang diễn ra một quá trình đổi mới toàn diện
và sâu sắc. Nền kinh tế thị trờng cùng với quá trình đẩy mạnh công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đang có tác động mạnh mẽ lên mọi mặt của đời sống xã hội.

trình sáng tạo mang tính nhân văn cao cả của con ngời và cộng đồng. Nguyên
lý đó đợc Hồ Chí Minh trình bày rõ trong nhiều triết luận về văn hoá. Ngời
khẳng định: lịch sử nhân loại là do ngời lao động sáng tạo ra, cho nên trong
tất cả các lĩnh vực xã hội từ sản xuất, học tập lý luận đến sự lãnh đạo của
Đảng - đều cần đến sự sáng tạo, đều phải thấm đậm tinh thần nhân văn từ con
ngời, do con ngời và vì con ngời. Ngời lu ý phải đề cao cảnh giá trớc những
hiện tợng phản sáng tạo, cũng có nghĩa là phản văn hoá: Thói quen và truyền
thống lạc hậu cũng là kẻ địch to, nó ngấm ngầm ngăn trở cách mạng tiến bộ.
Quy luật về sự kế thừa di sản văn hoá và gữ gìn, phát triển văn hoá dân
tộc cũng đợc Hồ Chí Minh nhìn nhận một cách biện chứng: Nói là khôi phục
vốn cũ thì nên khôi phục cái gì tốt, còn cái gì không tốt thì phải loại dần ra.
Cách đánh giá của Ngời về cái mới trong sự phát triển văn hoá cũng rất công
bằng, khoa học và thể hiện thái độ tích cực; những gì cũ nhng tốt, vẫn có giá trị
thì phải đợc phát triển thêm. Trong rất nhiều bài nói, bài viết của mình, Ngời
đều căn dặn nhất định phải xây đắp cho đợc một nền văn hoá dân tộc và phải
biết cách kế thừa di sản văn hoá dân tộc. Di sản này là cái gốc không có gì thay
thế đợc. Song, phải có một nhãn quan thấu đáo để thể hiện sự nhuần nhuyễn
giữa logic và lịch sử mới có thể thấy đợc và làm tốt điều đó.
Do đó, triết lý sống hài hoà với thiên nhiên là một giá trị vĩnh hằng và
luôn đúng, là mặt tốt của giá trị văn hoá sinh thái truyền thống mà chúng ta
cần giữ gìn và phát huy. Phát huy ở chỗ chuyển lối sống từ thái cực chỉ biết
phụ thuộc, nơng nhờ vào thiên nhiên, sang thái cực chinh phục, khai thác
thiên nhiên bằng bất cứ giá nào nhằm thoả mãn những lợi ích trớc mắt của
con ngời. Lối sống mới đã phủ định lối sống cũ, thể hiện trình độ cao hơn của
sự phát triển. Triết lý sống hài hoà với thiên nhiên vẫn còn là nguyên lý chủ
đạo trong lối sống văn hoá sinh thái của ngời Việt Nam. Chữ hài hoà giờ
đây phải đợc hiểu: có khai thác thiên nhiên, thậm chí phải khai thác kịp thời,
mạnh mẽ các nguồn tài nguyên thiên nhiên và môi trờng để phát triển đất n-
ớc; song, mặt khác, cần phải biết bù đắp kịp thời cho thiên nhiên và phải
biết dừng khi đã đến giới hạn cho phép, hay đến ngỡng chịu đựng của từng

Nh vậy, có thể nói, những giá trị văn hoá truyền thống đó, về căn bản,
vẫn còn nguyên giá trị đối với ngày nay. Song, về nội dung cụ thể, các giá trị
ấy đang có những sự chuyển đổi cho phù hợp với những điều kiện cụ thể của
thời đại. Những sự chuyển đổi trong các giá trị văn hoá sinh thái ngày nay
đều nhằm vào mục tiêu phát triển lâu bền một chiến lợc phát triển mới của
nhân loại, một trong những xu hớng mà quá trình toàn cầu hoá đang hớng
đến.
lời kết

Thế giới đang chuyển đổi từng giờ, từng phút với tốc độ chóng mặt.
Cùng với sự phát triển ngày càng cao của khoa học kỹ thuật, của đời sống xã
hội là sự xuất hiện những giá trị hiện đại đối với từng quốc gia, từng dân tộc.
Đặc biệt là trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay, khi mà sự giao lu văn hoá
giữa các quốc gia là không có giới hạn, thì việc những giá trị truyền thống có
thể bị mai một là tất yếu. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để vẫn hội nhập vào xu
thế phát triển của thế giới, nhng vẫn giữ đợc cái riêng của dân tộc mình,
không tự đánh mất mình.
Muốn làm đợc điều này phải có khả năng phán đoán, phân biệt và đánh
giá. Dựa vào giá trị truyền thống dân tộc với t cách là cơ sở nền tảng, chúng ta
có thể thực hiện đợc điều trên. giá trị truyền thống là cùng một loại với giá trị
nhân loại. Giá trị nhân loại khi vào nớc ta sẽ cùng với giá trị truyền thống làm
nên giá trị mới của dân tộc. Giá trị nhân loại có thể là một nhân tố nâng cao
giá trị truyền thống, làm cho giá trị truyền thống mang bộ mặt hiện đại, đáp
ứng đợc yêu cầu của con ngời hiện đại nhiều hơn. Mặt khác, giá trị nhân loại
khi đợc con ngời dân tộc chấp nhận, đợc lặp đi lặp lại qua một vài thế hệ cũng
có thể trở thành giá trị truyền thống. Cứ nh thế, giá trị truyền thống ngày một
phong phú thêm, nâng cao hơn.
Giá trị sinh thái truyền thống cũng không nằm ngoài quy luật trên. Nhng
con ngời đang khai thác nguồn tài nguyên quá giới hạn cho phép, làm cạn kiệt
nguồn tài nguyên và gây ô nhiễm cho môi trờng sinh thái. Vậy làm thế nào để

1. Khái niệm về phủ định và phủ định biện chứng 2
1.1. Phủ định 2
1.2. Phủ định biện chứng 2
2. Các đặc trng cơ bản của phủ định biện chứng 2
2.1.Tính khách quan 2
2.2.Tính kế thừa 3
3. Quy luật phủ định của phủ định. Hình thức xoáy ốc của sự phát triển. 4
4.ý nghĩa phơng pháp luận 6
Chơng 2 7
Giá trị truyền thống trong điều kiện 7
hiện nay ở nớc ta 7
1. Giá trị truyền thống 7
2. Giá trị truyền thống trong lịch sử phát triển dân tộc Việt Nam 8
3. Nội dung và vị thế của giá trị truyền thống Việt Nam trong giá trị nhân
loại 10
4. Giá trị truyền thống trong điều kiện hiện nay ở nớc ta dới góc độ triết
học, đặc biệt là giá trị sinh thái truyền thống 11
4.1. Văn hoá sinh thái và những giá trị văn hoá sinh thái truyền thống
Việt Nam 11
4.2. Giá trị văn hoá sinh thái truyền thống ở Việt Nam trong bối cảnh
toàn cầu hoá 14
danh mục tài liệu tham khảo 17


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status