Đề tài nghiên cứu khoa học Sở hữu công nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Việt Nam hiện nay đang đi trên con đường xây dựng đất nước định
hướng XHCN, giai đoạn công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước. Công
nghiệp hoá - hiện đại hoá là quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện các
hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội, từ sử
dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao
động cùng với công nghệ, phương tiện, phương pháp tiên tiến, hiện đại dựa
trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ, tạo năng
suất lao động cao. Như vậy, khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực
tiếp, tri thức thông tin trở thành yếu tố hàng đầu của sản xuất. Chính vì điều
này mà ngày nay người ta vẫn thường nói nền kinh tế hiện đại mà Việt
Nam cũng như tất cả các quốc gia trên thế giới đang theo đuổi là nền kinh
tế tri thức, trong đó mỗi sản phẩm hàng hóa, dịch vụ được sản xuất ra đều
đòi hỏi chứa đựng trong nó hàm lượng chất xám ngày càng cao.
Mục tiêu phát triển nền kinh tế của chúng ta là nền kinh tế thị trường
định hướng XHCN. Trong kinh tế thị trường, tự do kinh doanh là các hình
thức, phương tiện để phát huy sức sáng tạo, tinh thần kinh doanh mạnh mẽ
của người dân. Một quyền tự do cơ bản nhất để đi đến phồn vinh là quyền
sở hữu tài sản rõ ràng , và cốt lõi nhất có lẽ là tài sản trí tuệ. Vì trong nền
kinh tế toàn cầu hoá, sự khác biệt và chênh lệch lớn nhất giữa các nền kinh
tế là trí tụê. Nếu có trí tuệ, có ý tưởng hấp dẫn, bạn sẽ có tiền vốn từ rất
nhiều nhà đầu tư Tài chính quốc tế đang sẵn sàng bỏ vốn vào những dự án
có lãi và có khả năng thuyết phục. Chỉ cần phân tích cuộc cạnh tranh giữa
các nhà cung cấp điện thoại di động, thiết bị điện tử dân dụng chúng ta có
thể thấy phần thắng luôn thuộc về các sản phẩm có trí tuệ, có giải pháp
thông minh. Năng lực cạnh tranh được quyết định chủ yếu bởi trí tuệ chứ
không phải cơ bắp.
Nhưng có lẽ khái niệm sản phẩm trí tuệ là quá trừu tượng đối với mỗi
người dân, và chính vì lẽ đó quyền sở hữu trí tuệ cũng được xem là một
điều gì quá lạ lẫm và xa vời. Với ý nghĩ đó, rất nhiều người cũng không ý
tôi cũng xin thu thập và đưa ra một số khuyến nghị cho sự hoàn thiện hệ
thống pháp luật đó.
Trong quá trình nghiên cứu, chúng em xin chân thành cảm ơn Trung
tâm thư viện trường Đại học Kinh Tế Quốc Dân, thầy Nguyễn Hữu Mạnh
cùng các thầy cô trong khoa Luật Kinh tế và các bạn trong lớp đã giúp đỡ
chúng em hoàn thành đề tài này. Do còn thiếu kinh nghiệm trong nghiên
cứu, chắc chắn đề tài sẽ còn thiếu xót , chúng em rất mong nhận được ý
kiến đóng góp của thầy cô và các bạn để đề tài hoàn thiện hơn!
Trang 2
Đề tài nghiên cứu khoa học Sở hữu công nghiệp
I – KHÁI QUÁT CHUNG VỀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ VÀ SỞ HỮU CÔNG
NGHIỆP
1. Khái niệm về sở hữu trí tuệ và sở hữu công nghiệp
Lịch sử phát triển của loài người gắn liền với hoạt động sáng tạo của
con người.Trong quá trình phát triển, hoạt động kinh tế, thương mại càng
phát triển thì thành quả do hoạt động trí tuệ của con người sáng tạo ra càng
ngày càng có ý nghĩa quan trọng. Chính vì vậy, quan niệm về sở hữu của
con người ngày càng phát triển, mở rộng thêm ra.
Ban đầu, đối tượng của sở hữu là cơ sở vật chất (đất đai nhà cửa, tư
liệu tiêu dùng, tư liệu sản xuất) dần dần đối tượng của sở hữu được mở
rộng ra bao gồm kết quả sáng tạo của con người, dần dần hình thành khái
niệm sở hữu trí tuệ.
“Sở hữu trí tuệ” là một thuật ngữ mang nghĩa rộng được mô tả “sự
sáng tạo của tư duy”. Sự sáng tạo này là tài sản vô hình mà pháp luật cần
phải bảo hộ thông qua việc trao cho chủ nhân của nó một số quyền nhất
định, nhằm mục đích khuyến khích những sáng tạo hữu ích đó vì lợi ích
chung của toàn xã hội.Cho đến hôm nay, ở Việt Nam đối tượng của sở hữu
trí tuệ gồm ba lĩnh vực:quyền tác giả,quyền sở hữu công nghiệp và giống
cây trồng và vật nuôi.
Quyền sở hữu công nghiệp (SHCN)là một bộ phận của quyền sở hữu
chính hiệu ra khỏi thị trường đó. Để tạo ra môi trường kinh doanh, cạnh
tranh lành mạnh trong điều kiện nền kinh tế thị trường, hội nhập với nền
kinh tế khu vực và kinh tế thế giới,tất yếu mỗi quốc gia đều phải tìm biện
pháp nâng cao hiệu quả của việc bảo hộ quyền SHCN của các tổ chức, cá
nhân nước mình cũng như của các tổ chức, cá nhân nước ngoài, xoá bỏ
tình trạng cạnh tranh hỗn loạn, chiếm đoạt bất hợp pháp thành quả lao
động sáng tạo của nhau.
Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nói chung và SHCN nói riêng với nội
dung đảm bảo độc quyền khai thác, sử dụng tài sản trí tuệ trong một thời
hạn nhất định giúp chủ sở hữu thu lợi từ tài sản mà mình tạo ra và áp dụng
nhanh chóng các kĩ thuật tiến bộ, tạo ra những sản phẳm mới đáp ứng nhu
cầu ngày càng cao của xã hội có được những thông tin cần thiết về đối
tượng đó. Và như vậy, người ta sẽ chỉ tiến hành nghiên cứu, triển khai để
tạo ra những thành quả mới chứ không tạo ra những gì đã có, nhờ đó tránh
cho xã hội phải lãng phí các nguồn lực. Như vậy, bảo hộ SHCN sẽ thúc
đẩy hoạt động sáng tạo, đổi mới kĩ thuật sản xuất, khuyến khích cạnh tranh
lành mạnh giữa các chủ thể thuộc mọi thành phần kinh tế.
SHCN ngày càng đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế quốc
tế hiện đại. trong xu thế hội nhập ngày nay, việc bảo hộ SHCN không chỉ
còn là vấn đề riêng của một quốc gia mà còn là yêu cầu cấp thiết đặt ra trên
bình diện quốc tế. Hợp tác bảo hộ quyền SHCN ngày càng được các quốc
gia quan tâm, thúc đẩy và thực thi rộng rãi.Việc đăng kí bảo hộ một đối
Trang 4
Đề tài nghiên cứu khoa học Sở hữu công nghiệp
tượng sở hữu ở nước ngoài chính là nằm giành độc quyền khai thác, sử
dụng đối tượng SHCN ở nước đó. Vấn đề này có ý nghĩa thực tiễn to lớn,
thể hịên rõ nhất là đối với nhãn hiệu hàng hoá. Sản phẩm xuất khẩu mang
nhãn hiệu trong nước, nếu không đăng kí bảo hộ nhãn hiệu đó ở nước nhập
khẩu thì khi đạt được uy tín với người tiêu dùng, nhãn hiệunày chắc chắn
sẽ có người bắt chước, thị trường tiêu thụ có thể bị giảm hoặc mất hoàn
khác. Thiệt hại của Việt Nam sẽ bằng thiệt hại mà Hoa Kỳ và các bên liên
Trang 5
Đề tài nghiên cứu khoa học Sở hữu công nghiệp
quan phải gánh chịu do tình trạng vi phạm sở hữu công nghiệp tại Việt
Nam.
Lí luận và thực tiễn đã chỉ ra rằng, hoạt động sáng tạo và sở hữu
các sản phẩm trí tuệ ngày càng quan trọng, xuất phát từ vai trò trung tâm
thông tin và kiến thức trong xã hội hậu công nghiệp. Bảo hộ quyền SHCN
trong phạm vi quốc gia và ở tầm quốc tế là những biện pháp hữu hiệu để
thúc đẩy hoạt động sáng tạo, động viên hoạt động nghiên cứu phát triển,
góp phần thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài và thúc đẩy hoạt động chuyển
giao công nghệ hợp pháp.
Hiện nay Việt Nam đang rất quyết tâm chấn chỉnh tình hình thực thi
quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền Sở hữu công nghiệp nói riêng.
Trước hết là nhằm khuyến khích hoạt động sáng tạo, phục vụ phát triển nội
tại của Việt Nam, Nếu không bảo hộ hiệu quả thì không phát triển được
khoa học công nghệ trong nước, không ai muốn sáng tạo. Ngoài ra, việc
này cũng nhằm bảo hộ lợi ích chính đáng của các tổ chức, cá nhân nước
ngoài đến làm ăn tại Việt Nam, góp phần thu hút đầu tư nước ngoài trong
quá trình hội nhập. Kinh nghiệm của các nước đã trải qua giai đoạn phát
triển công nghiệp cho thấy, nếu tăng cường bảo hộ sở hữu trí tuệ lên 10%
thì đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ tăng 50% và các công nghệ cao sẽ tăng
trưởng 40%. Chỉ một vài con số như vậy cũng đủ thấy vấn đề bảo hộ
quyền sở hữu trí tuệ quan trọng đến mức nào đối với hoạt động thu hút đầu
tư.
3. Thực trạng pháp luật nước ta về bảo hộ quyền sở hữu công
nghiệp
3.1 Quá trình hình thành các quy định về quyền SHCN tại Việt Nam
trước khi có Bộ luật Dân sự 1995
Xuất phát điểm của Việt Nam là một nước nghèo và chậm phát triển
Nhà nước đều có quyền áp dụng vào sản xuất và có nghĩa vụ trả thưởng
cho tác giả.Đối với sáng chế độc quyền: Chủ sáng chế là cá nhân, tổ chức
thuộc mọi thành phần kinh tế được độc quyền sử dụng sáng chế, cho phép
người khác sử dụng sáng chế. Chủ sáng chế có quyền chuyển nhượng
quyền sở hữu sáng chế cho các chủ thể khác theo hợp đồng.
Nghị định số 31/CP tuy có qui định tác giả hoặc người thừa kế hợp
pháp có quyền lựa chọn một trong hai hình thức là Bằng sáng chế và Bằng
sáng chế độc quyền. Nhưng trên thực tế, bằng sáng chế là hình thức bảo hộ
được nhà nước khuyến khích và là hình thức bảo hộ chính Bằng độc
quyền sáng chế chủ yếu dành cho nước người nước ngoài có nhu cầu bảo
hộ sáng chế tại Việt Nam.
Tuy còn có những hạn chế nhất định, nhưng Nghị định số 31/Cp đã là
văn bản pháp luật mở đầu cho hoạt động SHCN ở Việt Nam hình thành và
phát triển amnh mẽ như trong giai đoạn hiện nay. Cùng với việc thành lập
Cục sáng chế, nước ta đã tham gia công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu
công nghiệp và trở thành thành viên của Tổ chức sở hữu trí tuệ thé
giới(WPO), theo đó việc triển khai toàn diện hoạt động SHCN đã từng
bước được đẩy mạnh; các văn bản pháp luật lần lượt được ban hành nhằm
Trang 7
Đề tài nghiên cứu khoa học Sở hữu công nghiệp
điều chỉnh từng nhóm đối tượng của quyền SHCN theo cơ chế đồng bộ và
thống nhất, đã mở ra những hành lang pháp lí thuận lợi cho những sáng tạo
những giải pháp kĩ thuật mới được hình thành. Hàng loạt các Nghị định
của Hội đồng Bộ trưởng ( nay là Chính Phủ) được ban hành :
- Nghị định số 197-HĐBT ngày 14-2 -19982 về nhãn hiệu hàng
hoá:
- Nghị định số 85-HĐBT ngày 13/5/1985 về kiểu dáng công nghiệp;
- Nghị định số 200-HĐBT ngày 28-12-1988 về giải pháp hữu ích ;
- Nghị định số 201-HĐBT ngày 28-12-1988 về mua bán quyền sử
dụng sáng chế , giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng
thực hiện.
Vào thời kỳ đó, biện pháp xử lý các xâm phạm quyền Sở hữu công
nghiệp chủ yếu là biện pháp hành chính. Mặc dù về mặt nguyên tắc, Toà
án sẵn sàng xét xử các tranh chấp và các vụ kiện về Sở hữu công nghiệp,
nhưng do các quy định pháp luật chưa phải là luật, toà án lại chưa có kinh
nghiệm trong xét xử các vụ việc này, vì vậy việc tham gia xét xử của toà
trên các cơ sở văn bản pháp luật cũng rất hạn chế. Thời gian này, một loạt
các đối tượng được đề cập tới trong Hiệp định TRIPS chưa được bảo hộ tại
Việt Nam như thông tin bí mật, chỉ dẫn địa lý, thiết kế bố trí mạch tích
hợp, quyền chống cạnh tranh khụng lành mạnh. Ngoài ra, còn một số
qui định có tính nguyên tắc về xác lập và bảo hộ quyền SHCN cũng chưa
được cụ thể hoá đúng mức cũng đã gây không ít khó khăn không những
cho người nộp đơn, mà còn gây lúng túng cho cơ quan nhận và xử lí đơn,
các qui dịnh về xử lí vi phạm chưa rõ ràng và nhát quán, những qui định về
trình tự , thủ tục, chế độ thủ tục , chế độ xét nghiệm đơn và cấp văn bằng
bảo hộ cũng đã bộc lộ những hạn chế nhất định, không còn phù hợp với
hoạt động SHCN trong điều kiện mới, đòi hỏi phải xây dựng một hệ thống
pháp luật sở hữu trí tuệ nói chung và SHCN nói riêng ngày một đồng bộ và
hoàn chỉnh
Tóm lại, việc ban hành các văn bản pháp luật về hoặc liên quan đến
việc bảo hộ quyền SHCN nêu trên chứng tỏ ngay từ trước khi bắt đầu công
cuộc đổi mới, Nhà nước đã quan tâm và ngày càng quan tâm nhiều hơn tới
vấn đề bảo hộ quyền SHCN. Các văn bản nêu trên đã tạo cơ sở pháp lí ban
đầu cho việc bảo hộ quyền SHCN, cho công tác đăng kí bảo hộ quyền
SHCN, góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy phát triển khoa học, công
nghệ phuc vụ sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước
Xã hội càng phát triển, sản xuất càng phát triển đòi hỏi một hệ thống
pháp luật về SHCN ngày càng hoàn thiện. Ngày 28/10/1995, tại kỳ họp thứ
8 Quốc hôj thông qua Bộ luật dân sự nước CHXHCN Việt nam, chính thức
thiết lập chế độ pháp lí cao nhất cho việc xác lập, bảo hộ và thực thi quyền
60/CP ngày 6/6/1997 hướng dẫn thi hành các qui định của Bộ luật dân sự
về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài (Điều 13 về bảo hộ quyền SHCN
của các chủ thể nước ngoài). Thông tư số 23/TC- TCT ngày 9/5/1997
hướng dẫn thu, nộp và quản lí phí, lệ phí SHCN.
Trong đó, đáng chú ý là Nghị định 12/1999/NĐ-CP ngày 06/03/1999
về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp. Theo
đó, các hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp sẽ bị xử phạt bằng
hỡnh thức phạt tiền, tịch thu tang vật, huỷ bỏ hàng hoỏ vi phạm và buôc
bồi thường cho chủ SHCN. Do chỉ đề cập các khía cạnh dân sự của cá mối
quan hệ về SHCN nên bộ luật dân sự không bao quát hết được các khía
cạnh kinh tế, hành chính, các biện pháp bảo đảm thực hiện quyền SHCN.
Trang 10
Đề tài nghiên cứu khoa học Sở hữu công nghiệp
Ngoài các văn bản nêu trên, vấn đề bảo hộ quyền SHCN còn
được đề cập ở các mức độ khác nhau trong nhiều văn bản pháp luật khác
hiện hành như Bộ luật hình sự năm 1999; Luật đầu tư nước ngoài tại Việt
Nam (năm 1996) Luật khuyến khích đầu tư trong nước( năm 1998) Bộ
luật Hình sự sửa đổi năm 2002 cũng đó đưa ra hành vi vi phạm quyền
SHCN ở mức độ nghiêm trọng cấu thành một loại tội phạm hỡnh sự, loại
tội phạm này cú thể bị phạt tiền hoặc phạt tự. Tuy nhiên phần lớn các văn
bản có liên quan nói trên chỉ khẳng định việc bảo hộ quyền SHCN, còn
bảo hộ như thế nào thì phải căn cứ vào các qui định của Bộ luật dân sự và
các văn bản qui định cụ thể hoá, hướng dẫn thi hành Bộ luật dân sự.
3.3 Phân biệt Luật điều chỉnh sau khi có sự ra đời của Bộ luật Dân sự
năm 2005 và Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005
Để thực hiện chủ trương hội nhập kinh tế khu vực,Việt Nam đã trở
thành thành viên của ASEAN vào năm 1995, do vậy cũng như các nước
trong tổ chức này, Việt Nam đã kí Hiệp định khung ASEAN về lĩnh vực sở
hữu trí tuệ, trong đó cps những qui định về quyền SHCN. Tiếp theo đó,
Việt Nam và Hoa Kỳ đã kí Hiệp định thương mại song phương Việt Nam -
phù hợp với các đặc trưng của loại quan hệ đó và các qui định này sẽ được
ưu tiên áp dụng so với BLDS. Điều này sẽ giúp cho tình trạng chồng chéo
được giải quyết một cách triệt để, hệ thống pháp luật sẽ minh bạch hơn, có
thể dự đoán trước và do đó khả năng áp dụng cũng cao hơn.
Theo đó, những quan hệ không thuộc đối tượng điều chỉnh của Bộ luật
Dân sự sẽ được điều chỉnh trong Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 như:Những
qui định về thủ tục hành chính, thủ tục xác lập quyền và thủ tục bảo hộ
quyền SHCN bằng biện pháp hành chính , các qui định về trình tự thủ tục
tố tụng liên quan đến quyền SHCN Việc xác định rõ đối tượng và pham
vi điều chỉnh của luật dân sự và Luật sở hữu trí tuệ là thật sự quan trọng
và cần thiết, vừa đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật, vừa
đảm bảo cho việc triển khai, họat động SHCN và bảo vệ quyền SHCN ở
Việt Nam có hiệu quả cao nhất.
Có thể nhận định rằng:”Pháp luật về quyền SHCN của Việt Nam chỉ
trong một thời gian không dài đã được xây dựng từ con số không đến có và
cho đến thời điểm hiện nay là khá đầy đủ và toàn diện”. Những bước tiến
của Pháp luật Việt Nam về quyền SHCN trong những năm đổi mới (1986-
2006) đã tạo điều kiện thuận lợi để đẩy mạnh nền kinh tế Việt Nam phát
triển, đồng thời cũng tạo ra những cơ hội mới trong quá trình hội nhập
quốc tế.
Trang 12
Đề tài nghiên cứu khoa học Sở hữu công nghiệp
II PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP VÀ
THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT
1. Pháp luật thực định về SHCN
Đứng trước chương trình công nghiệp hoá , hiện đại hoá đất nước,
Việt Nam đã luôn quan tâm đến những lợi ích ổn định lâu dài, những yếu tố
tích cực có ảnh hưởng lớn đến công cuộc đổi mới toàn diện đất nước trong
suốt quá trình hội nhập khu vực và quôc tế. Nhu cầu gia nhập WTO của
Việt Nam là rất cần thiết, do vậy Việt Nam đã quan tâm và ban hành
Trang 13
Đề tài nghiên cứu khoa học Sở hữu công nghiệp
c) Có khả năng áp dụng công nghiệp.”
Theo Điều 60:“sáng chế được coi là có tính mới nếu chưa bị bộc lộ
công khai dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc bất cứ hình
thức nào khác ở trong nước và nước ngoài trước ngày nộp đơn đăng ký
sáng chế hoặc trước ngày ưu tiên trong trường hợp đơn đăng ký sáng
chế được hưởng quyền ưu tiên”.
Chủ thể của quyền SHCN phải nộp đơn đăng kí quyền SHCN. Theo
quy định của Luật Sở hữu trí tuệ 2005 thì người có quyền nộp đơn đối với
nhãn hiệu hàng hoá chỉ có thể là chủ sở hữu. Người nộp đơn chính là chủ
cơ sở sản xuất kinh doanh hợp pháp. Đối với sáng chế, kiểu dáng công
nghiệp, mạch tích hợp bán dẫn, thì người có quyền nộp đơn chính là tác
giả. Trong trường hợp tác giả là người tự bỏ kinh phí ra để tạo ra đối tượng
đó (có thể là cá nhân, tổ chức, hoặc là người được uỷ quyền, hoặc được
chuyển giao một cách hợp pháp); trường hợp tác giả tạo ra đối tượng đó mà
do một bên cấp kinh phí thông qua một hợp đồng về nghiên cứu phát triển,
nếu hợp đồng không thoả thuận gì khác thì người nộp đơn là người cấp
kinh phí; nếu tác giả tạo ra đối tượng đó mà là người lao động làm theo hợp
đồng thì người nộp đơn là người sử dụng lao động, nêu không có thoả
thuận gi khác. Nội dung đơn phải bao gồm đầy đủ nội dung pháp luật quy
định (có tài liệu kèm theo) phù hợp với yêu cầu của đối tượng SHCN. Ví
dụ như với sáng chế phải kèm theo bản mô tả về sáng chế và hướng dẫn sử
dụng đủ rõ để những nhà chuyên môn trong lĩnh vực đó phải đọc và hiểu
được, chứng minh được tính sáng chế, sáng tạo đó; với kiểu dáng công
nghiệp, tài liệu phải có ảnh chụp kèm theo Đơn đăng ký SHCN phải gửi
cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền, đó là Cục SHCN thuộc Bộ Khoa học
Công nghệ. Những quy định này được nêu rõ từ điều 100 đến 107 Luật Sở
hữu trí tuệ 2005.
Các đơn yêu cầu này sẽ được công bố trên công báo SHCN và trong
tranh chấp về quyền sở hữu tài sản , nên giải quyết theo các qui định trong
Luật Tố tụng dân sự 2004 có thể khởi kiện lên tòa dân sự nếu đó là tranh
chấp dân sự thuần tuý hoặc toà kinh tế nếu có bản chất là kinh doanh
thương mại
3
. Ngoài ra tranh chấp trong lĩnh vực SHCN còn xảy ra khởi
kiện về việc cấp văn bằng bảo hộ cho ngưòi không có quyền nộp dơn,
tranh chấp về thù lao tác giả, tranh chấp về chuyển giao quyền sở hữu và
quyền sử dụng các đối tượng SHCN. Tuỳ theo bản chất của tranh chấp mà
nó sẽ được giải quyết theo thủ tục hành chính hay toà án.
Trong những năm gần đây, tình trạng vi phạm, xâm phạm về SHCN
diễn ra khá phổ biến và ngày càng phức tạp, nhất là trong lĩnh vực sản
xuất hàng hoá , vi phạm nhãn hiệu hàng hoá , kiểu dáng công nghiệp.Măc
dù pháp luật trao cho các chủ thể quyền khởi kiện và thực tế những vụ vi
phạm xảy ra rất nhiều nhưng số vụ kiện của chủ thể bị vi phạm lên toà án là
rất ít.Việc xử li xâm phạm quyền SHTT nói chung và xâm phạm quyền
SHCN nói riêng cỏ thể bằng biện pháp hành chính và Hình sự. Theo Điều
211 của Luật SHTT năm 2005 các hành vi xử phạt hành chính bao gồm:
a) Thực hiện hành vi xâm phạm quyền SHTT gây thiệt hại cho
người tiêu dùng hoặc cho xã hội.
2
Xem từ Điều 121 đến Điều 144 Luật SHTT 2005
3
Xem điểu bộ Luật tố tụng dân sự 2004
Trang 15
Đề tài nghiên cứu khoa học Sở hữu công nghiệp
b) Không chấm dứt hành vi xâm phạm quyền SHTT mặc dù đã
được chủ thể quyền SHTT thông báo bằng văn bằng yêu cầu
chấm dứt hành vi đó.
c) Sản xuất, nhập khẩu, vận chuyển, buôn bán hàng hoá giả mạo
4
Xem pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính2./7/2002
Xem nghị định số12/1999/NĐ-CP(6/3/1999) qui định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực SHCN
Xem điều 213,214,215 Luật sở hữu trí tuệ
Trang 16
Đề tài nghiên cứu khoa học Sở hữu công nghiệp
3. Ngưòi phạm tội có thể bị phạt từ mười triệu đồng đén một trăm
triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ hành nghề hoặc làm công việc nhất
định từ một năm đén năm năm.
Thứ hai, tội vi phạm qui định về cấp văn bằng bảo hộ quyền SHCN
là một tội phạm được thực hiện bởi chủ thể là những cán bộ nhà nước có
thẩm quyền trong việc cấp văn bằng bảo hộ quyền SHCN và với lỗi cố ý.
Đây có thể coi là loại hành vi nguy hiểm cho xã hội tương đương với một
só tội phạm khác được qui định trong chương này như: Tội vi phạm các
quy định về quản lí đất đai(Điều 174), tội vi phạm các qui định về quản lý
rừng(Điều 176)v.v Dấu hiệu cấu thành tội phạm khi thoả mãn đồng thời
cả hai dấu hiệu là đã bị xử lí kỷ luật (hoặc bị xử phạt hành chính )về hành
vi này và gây hặu quả nghiêm trọng
5
Ngoài ra, còn một loại hành vi nguy hiểm cho xã hội trong lĩnh vực
SHCN chưa được pháp luật hình sự ghi nhận cụ thể đó là hành vi cạnh
tranh không lành mạnh. Một só dạng biểu hiện của loại hành vi này có thể
kể ra ở đây như: tiết lộ bí mật kinh doanh nhằm gây khó khăn hoặc gây
thiệt hại cho chủ sở hữu bí mật kinh doanh, sử dụng bất hợp pháp đối
tượng quyền SHCN để. sản xuất hàng hoá gây mất uy tín của đối thủ
cạnh tranh.v.v
Loại hành vi này có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của chủ sở hữu
công nghiệp và nếu dẫn đến hậu quả nghiêm trọng thì nên được xem là
hành vi nguy hiểm đáng kể cho xã hội. Do đó, cần quy định trong Bộ luật
tình trạng vi phạm sở hữu trí tuệ.
Việc quy định tập trung, thống nhất quyền SHCN trong một văn bản
có tính pháp lí rất cao là BLDS, và đặc biệt là sự ra đời của Luật Sở hữu trí
tuệ năm 2005 thực sự là một bước tiến lớn của quá trình hoàn thiện pháp
luật nước ta về bảo hộ quyền SHCN, tạo cơ sở pháp luật ngày càng đầy đủ
hơn cho việc xác lập và bảo hộ quyền SHCN của các cá nhân, tổ chức trong
và ngoài nước. Nhờ có việc đăng ký xác lập quyền đối với các đối tượng
SHCN này ngày càng không ngừng gia tăng. Những năm gần đây, số đơn
đăng ký bảo hộ các đối tượng SHCN của các tổ chức, cá nhân trong nước
và nước ngoài vẫn được nộp đều đặn tại cục SHCN với mức khoảng trên
10000 đơn các loại trong một năm. Ở đa số các tỉnh, thành phố đều có đơn
xin đăng ký bảo hộ quyền SHCN, trong đó 10 tỉnh, thành phố có số lượng
đơn đăng ký nhiều nhất là Thành phố Hồ Chí Minh, Hà nội, Đà Nẵng, Bến
Tre, Đồng Nai, Bình Dương, Hải Phòng, Cần Thơ, Tiền Giang, và Long
An. Tổ chức, cá nhân của hơn 80 nước trên thế giới có đối tượng SHCN
được bảo hộ tại Việt nam, chủ yếu là các nước phát triển như Hoa Kỳ,
Nhật, Anh, Italia và nước trong khu vực có quan hệ kinh tế nhiều với ta
như Hàn Quốc, Singapo, Thái Lan, Indonexia
Việc cho ra đời Luật Sở hữu trí tuệ đã khắc phục phần nào những hạn
chế của thời kỳ trước đó khi mà những quy định pháp luật về bảo hộ SHTT
và SHCN còn nằm rải rác và tản mạn trong rất nhiều văn bản mà phần lớn
đều là các văn bản dưới luật, hiệu lực thi hành thấp, gây khó khăn phức tạp
cho người vận dụng. Trước đây, việc quy định chất lượng tối thiểu để xác
định như thế nào là hàng kém chất lượng,hàng giả? Việc sai phạm quy chế
Trang 18
Đề tài nghiên cứu khoa học Sở hữu công nghiệp
nhãn mác đến mức nào bị coi là hàng giả, nhãn hiệu trùng đến bao nhiêu
phần trăm bị coilà hàng nhái? Tất cả đều chưa có quy định rõ ràng. Các
nghị định về tên thương mại, xuất xứ địa lý, bảo hộ bí mật thương mại,
sáng chế không có chế tài xử lý nên các vi phạm tuy bị nêu tên nhưng lại
nói trên chỉ bằng 20% thực tế số vụ vi phạm
7
.
Tại hội thảo giới thiệu công nghệ phòng chống hàng giả - hàng nhái do
Sở Khoa học Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức cuối năm 2004,
6
http:// www.noipvietnam.com/vn/transferindproprights.html
7
http:// www.vir.com.vn/Client/dautu/dautu. asp?CatID=48&DocID=454
Trang 19
Đề tài nghiên cứu khoa học Sở hữu công nghiệp
Honda đã công chiếu một bộ hình ảnh của hơn 20 cửa hàng san sát nhau tại
khu mua bán đường An Dương Vương-Hùng Vương (Quận 5) và khu Phan
Đăng Lưu-Hoàng Văn Thụ (Phú Nhuận) đang bày bán công khai các xe
máy có kiểu dáng tương tự kiểu dáng xe Wave của Honda mang số bằng
độc quyền Kiểu dáng công nghiệp số 4306. Theo lời ông Nguyễn Thanh
Bình, Đại diện Honda Việt Nam thì "Đây chỉ là 20 cửa hàng lớn nhấtvừa
được chụp ảnh, còn lại trên đại bàn Thành phố Hồ Chí Minh có hơn 100
cửa hàng vi phạm kiểu dáng công nghiệp, thậm chí có cửa hàng còn gắn
luôn nhãn mác Honda vào kiểu xe nhái để bán cho người tiêu dùng".
Hàng giả luôn là vấn nạn toàn cầu, gây đau đầu cho các nhà sản xuất
lớn trên thế giới. Mặc dù ở đâu cũng có người sản xuất hàng giả, song nó
tập trung nhiều ở một số nước, đặc biệt là những nước đang phát triển, với
Trung Quốc là nguồn cung cấp hàng giả lớn nhất thế giới.
Không đâu xa lạ, cuộc sống quanh ta mỗi ngày đều có sự hiện diện của
hàng giả, hàng nhái. Những chiếc xe Dream tàu, Wave tàu, những chiếc mũ
có gắn mác Nike, Adidas tất cả đều vi phạm kiểu dáng công nghiệp,
thương hiệu. Chỉ có điều chúng phổ biến đến mức chúng ta xem đó là
chuyện bình thường, là một chuyện tất yếu xảy ra thường ngày. Bất cứ một
loại hàng nào có khả năng thu hút khách thì chỉ sau một thời gian ngắn xuất
Những loại hàng giả như đồ chơi, dược phẩm, phụ tùng xe không
những gây thiệt hại về kinh tế, mà còn ảnh hưởng đến sức khoẻ, thậm chí
cả tính mạng của người dân. Ở Việt Nam, từ nguồn nước máy, nước giếng
khoan và thậm chí là nước ao hồ, các xưởng đem về lọc rồi đóng chai, dán
lên đó những cái tên như Levi, Lavu, Vitales để đánh lừa khách hàng.
Những chai Henesy sang trọng được các "chuyên gia hàng giả chế bằng
rượu nấu, cồn và phẩm màu không hiểu do vô tình hay cố ý cũng được bày
bán trong các cửa hàng, siêu thị được coi là rất đáng tin cậy đối với người
tiêu dùng. Trong năm 2005, lực lượng quản lý thị trường liên tiếp thu giữ
nhiều loại rượu giả, chủ yếu là Rermy Martin, Johney Worker, Hennesy,
XO Bên cạnh đó cũng có một số rượu nội bị làm giả như Vang Đà Lạt,
rượu nước cốt ngoại của Công ty rượu Quốc tế (Bình Dương)
Nhiều doanh nghiệp sử dụng các nguyên vật liệu đặc thù, rồi dùng cả
đội quân chuyên săn lùng hàng giả nhưng hiệu quả chẳng được là bao, bởi
người sản xuất thì quá tinh vi, còn các cơ quan chức năng cơ quan chức
năng thì dường như bất lực trong cuộc chiến này. Gần đây, các loại tem
chống hàng giả cũng bị làm giả nhan nhản. Tem điện thoại di động của
FPT, tem Halogram bảng màu đều được nhân bản y hệt.
Nguy hiểm hơn là có những mặt hàng bị làm giả còn có thể gây thiệt
mạng cho người tiêu dùng, nhất là trong lĩnh vực dược phẩm. Phần lớn
những thuốc rao bán giá rẻ như thuốc an thần, dị ứng, chống thiếu máu,
chống cholesterone… đều không được kiểm soát và không ai biết thực sự
chúng chứa những thành phần gì. Ngoài ra là các dụng cụ y tế như kim
tiêm, dao phẫu thuật, tay chân giả… cũng bị làm nhái nhiều. Không chỉ ở
các nước đang phát triển như Việt nam, tại các nước phát triển người ta
cũng mua phải thuốc giả như thuốc viêm phế quản giả ở Anh, thuốc chống
trầm cảm giả ở Bỉ, thuốc chống ung thư giả ở Hà Lan… Tổ chức Y tế thế
giới (WHO) cho biết thuốc giả đang có mặt tại tất cả các nước và chiếm
10% thị trường thuốc trên toàn cầu
Trang 21
là hàng giả không chỉ dừng ở những hàng hóa thông thường mà còn lan
rộng đến sản phẩm hàng hóa đặc biệt như thuốc chữa bệnh, xi măng, sắt
thép Có thể thấy bất cập lớn nhất hiện nay của chúng ta là vấn đề thực
thi quyền với hiệu lực, hiệu quả thấp của cơ chế bảo hộ.
Tình trạng xâm phạm đối với các quyền SHCN ở nước ta có nhiều
nguyên nhân. Trong đó đặc biệt là vấn đề nhận thức của toàn xã hội về tầm
quan trọng của bảo hộ quyền SHCN và ý thức tôn trọng pháp luật của
người dân; sự thiếu quan tâm của các doanh nghiệp, thiếu hiểu biết của
người dân về SHCN. Hầu hết các doanh nghiệp chịu đầu tư vào việc chống
Trang 22
Đề tài nghiên cứu khoa học Sở hữu công nghiệp
hàng giả, hàng nhái chủ yếu là các công ty có vốn đầu tư nước ngoài. Các
doanh nghiệp Việt Nam thì hầu như chưa quan tâm, chỉ khi bị thiệt hại
nặng nề mới bắt tay vào cuộc. Thực tế là nhiều doanh nghiệp không thể
lường trước được việc nhãn hiệu hàng hóa uy tín của mình đã có người
khác nhanh chân đăng ký bảo hộ "giúp" một cách hợp pháp. Thậm chí
nhiều sản phẩm hàng hóa giả và nhái nhãn mác của họ đã được sản xuất và
tung ra thị trường với số lượng lớn gây sự nhầm lẫn khó phân biệt cho
người tiêu dùng. Nhiều doanh nghiệp phải làm lại từ đầu, bằng cách xây
dựng một nhãn hiệu mới, điều này đồng nghĩa với việc họ tự đánh mất
mình. "Trước thực tế trên, nhiều doanh nghiệp nhằm tránh những "vết xe
đổ" đi trước, vội vàng làm thủ tục đăng ký bảo hộ sở hữu công nghiệp cho
cả những sản phẩm/dịch vụ chưa thực sự chiếm lĩnh được thị trường". ví dụ
về trường hợp của Vinataba. Sản phẩm của hãng này khó có thể cạnh tranh
tại thị trường nước ngoài như Mỹ, Nhật Bản hoặc ở một số nước Đông
Nam Á nhưng lại xin đăng ký bảo hộ nhãn hiệu tại các thị trường này.
"Đây là một việc làm kiểu "lo bò trắng răng", khi chưa có điều kiện cũng
như cơ hội xuất khẩu ra nước ngoài thì doanh nghiệp chưa cần thiết phải
làm như vậy".
Ngược lại với kiểu "lo xa" như trên, một số doanh nghiệp vẫn thờ ơ và
Theo các chuyên gia về quản lý thương mại, hiện nay có 5 cơ quan
được Chính phủ giao trách nhiệm thực thi bảo hộ SHTT: UBND các cấp,
cơ quan công an (công an kinh tế), Cục quản lý thị trường, Hải quan, Bộ
Khoa học Công nghệ và Môi trường. Trong các cơ quan này, ngoại trừ Hải
quan là lực lượng thực thi bảo hộ SHTT cũng như SHCN tại biên giới, còn
lại các cơ quan tập trung thực thi bảo hộ trong thị trường nội địa. Nhưng
các cơ quan này lại không có sự phối hợp với nhau, không có cơ quan nào
đóng vai trò chủ trì, điều phối chung, chưa có một cơ quan nào được giao
trách nhiệm chính về một ngành hàng hay địa giới ngành hàng hay địa giới
hành chính khi xảy ra các vi phạm.
III- MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VỀ SHCN Ở VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP
1. Quá trình hội nhập và quan điểm hoàn thiện, phát triển của Đảng và
Nhà nước về vấn đề SHCN
Đường lối phát triển kinh tế của nước ta trong hai mươi năm đầu của
thế kỷ XXI được thể hiện một cách toàn diện trong Báo cáo chính trị tại
Đại hội IX của Đảng. Tiếp đó, Hội nghị Trung ương 6 khoá IX khẳng định
tiếp tục thực hiện những quan điểm đã nêu trong Nghị quyết Trung ương 2
khoá VIII về khoa học và công nghệ. Đồng thời, những quan điểm trong
chiến lược phát triển khoa học và công nghệ đến năm 2010 cũng liên quan
chặt chẽ với vấn đề pháp luật về SHCN.
Theo đó, Đại hội đưa ra quan điểm tiếp tục tạo lập đồng bộ các yếu tố
thị trường, đặc biệt quan tâm các thị trường quan trọng nhưng hiện chưa có
hoặc còn sơ khai như: thị trường lao động, thị trường chứng khoán, thị
trường bất động sản, thị trường khoa học và công nghệ. Để tạo lập đồng bộ
các yếu tố thị trường, việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật kinh tế cần
Trang 24
Đề tài nghiên cứu khoa học Sở hữu công nghiệp
tiếp tục tiến hành, bổ sung và hoàn thiện các lĩnh vực pháp luật như: pháp
luật về tài chính, ngân hàng, các giao dịch bảo đảm; pháp luật về sở hữu
nghệ lành mạnh, nếu không xử lý kịp thời và nghiêm khắc các vi phạm
quyền SHCN và các hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Tóm lại, việc
tăng cường bảo hộ và thực thi quyền SHCN, chống cạnh tranh không lành
mạnh và kiểm soát độc quyền liên quan tới quyền SHCN, cùng với các quy
định pháp luật hợp lý về chuyển giao công nghệ sẽ thúc đẩy sự hình thành
Trang 25