Luận văn tốt nghiệp
Lời nói đầu
Sau hơn 15 năm đổi mới chuyển sang nền kinh tế thị trờng theo định h-
ớng xã hội chủ nghĩa, Đảng và Nhà nớc đã đem lại những thay đổi to lớn, sâu
sắc và toàn diện trên toàn bộ các mặt, lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội
đặc biệt là sự ổn định về chính trị của đất nớc. Đóng góp cho sự thành công và
phát triển của đất nớc không thể không kể đến vai trò của hệ thống Ngân hàng
thơng mại (NHTM) Việt Nam nói chung, Ngân hàng nông nghiệp và Phát
triển nông thôn (NHNNo&PTNT) Việt nam nói riêng bởi đó là những nhân tố
quan trọng kích thích toàn bộ nền kinh tế dựa trên lĩnh vực tiền tệ, tín dụng,
ngân hàng. Từ đó tạo ra những điều kiện thuận lợi, tiền đề cho sự phát triển,
chuyển biến mới tích cực, mạnh mẽ, từng bớc hội nhập với khu vực và thế
giới.
Trong suốt quá trình phát triển của mình, NHNNo&PTNT Việt Nam luôn
giữ vị trí quan trọng là một Ngân hàng chủ đạo với hoạt động kinh doanh ngày
càng đóng vai trò chủ yếu trong việc điều tiết, thu hút, cung cấp vốn, dịch vụ
Ngân hàng cho phát triển nông nghiệp, nông thôn. Tuy nhiên, vẫn tồn tại
những bất cập, khó khăn làm hạn chế hiệu quả kinh doanh ngân hàng trong
việc đóng góp vào phát triển nông nghiệp, nông thôn theo định hớng công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc. Nh vậy buộc NHNNo&PTNT Việt Nam cần
có sự đổi mới để phù hợp với tình hình thực tiễn cũng nh nâng cao hiệu quả
hoạt động kinh doanh. Mà hoạt động đầu tiên, cần thiết nhất cho sự chuyển
đổi hoạt động kinh doanh của Ngân hàng đó là tín dụng Ngân hàng bởi hoạt
động tín dụng đợc xem nh là cơ sở, có vai trò quan trọng cho sự lớn mạnh của
các Ngân hàng, và bản thân hoạt động tín dụng Ngân hàng là một khái niệm
rủi ro do đó cần có những giải pháp cụ thể, tích cực giúp cho Ngân hàng kiểm
soát đợc các rủi ro, tạo cho NHNNo&PTNT Việt Nam lớn mạnh cả về chiều
rộng lẫn chiều sâu, đáp ứng có hiệu quả mọi yêu cầu của nền kinh tế.
Với đề tài Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng của
NHNNo&PTNT Việt Nam gồm các chơng:
Ch ơng I: Lý luận chung về hiệu quả hoạt động tín dụng của ngân hàng th-
hoạt động tín dụng vẫn luôn là hoạt động cơ bản. Hoạt động tín dụng chiếm tỷ
trọng lớn trong toàn bộ hoạt động của Ngân hàng thơng mại và là một trong
những hoạt động sinh lời chủ yếu của Ngân hàng thơng mại.
Tín dụng là quan hệ vay mợn, gồm cả cho vay và đi vay. Tuy nhiên, khi
gắn tín dụng với chủ thể nhất định nh ngân hàng (hoặc các trung gian khác),
ví dụ nh tín dụng ngân hàng thì chỉ bao hàm nghĩa là ngân hàng cho vay. Việc
xác định nh thế nào là rất cần thiết để định lợng tín dụng trong các hoạt
động kinh tế.
Tổ chức tín dụng: là doanh nghiệp đợc thành lập theo quy định của
Luật các tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật để hoạt động
kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ Ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử
dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán.
2. Các nguyên tắc tín dụng Ngân hàng:
Hoạt động tín dụng của Ngân hàng thơng mại dựa trên một số nguyên tắc
nhất định nhằm đảm bảo tính an toàn và khả năng sinh lời. Các nguyên tắc
nhà đợc cụ thể hoá trong các quy định của ngân hàng Nhà nớc và các Ngân
hàng thơng mại.
- Khách hàng phải cam kết hào trả vốn (gốc) và lãi với thời gian xác
định: Các khoản tín dụng của ngân hàng chủ yếu có nguồn gốc từ các khoản
tiền gửi của khách hàng và các khoản ngân hàng vay mợn. Ngân hàng phải
cáo trách nhiệm hoàn trả cả gốc và lãi nh đã cam kết với các tổ chức, cá nhân
Bùi Ngọc Sơn - Ngân hàng 42A
Luận văn tốt nghiệp
cung ứng. Do vậy, Ngân hàng luôn yêu cầu ngời nhận tín dụng phải thực hiện
đúng cam kết này. Đây là điều kiện để ngân hàng tồn tại và phát triển.
- Khách hàng phải cam kết sử dụng tín dung theo đúng mục đích đợc
thoả thuận với ngân hàng, không trái với các quy định của pháp luật và các
quy định khác của Ngân hàng cấp trên. Luật pháp quy định phạm vi hoạt động
cho các ngân hàng. Bên cạnh đó mỗi ngân hàng có thể có mục đích và phạm
vi hoạt động riêng. Mục đích tài trợ đợc ghi tại điều khoản Mục đích sử
Cho vay vốn lu động
Cho vay ngắn hạn các công trình xây dựng
Cho vay kinh doanh chứng khoán
Cho vay kinh doanh bán lẻ
Cho vay trên tài sản (cho vay đối với các khoản phải thu , bao thanh
toán và cho vay trên cơ sở hàng dự trữ)
Các khoản cho vay kinh doanh dài hạn:
Cho vay kỳ hạn ma thiết bị và các tài sản cố định khác
Cho vay luân chuyễn
Cho vay theo dự án
Cho vay tài trợ hoạt động mua lại công ty
b. Phân loại theo hình thức:
Gồm chiết khấu, cho vay, bảo lãnh và cho thuê
+ Chiết khấu giấy tờ có giá (trái phiếu, kỳ phiếu, thẻ tiết kiệm ) là việc
ngân hàng ứng trớc tiền cho khách hàng tơng ứng với giá trị của giấy tờ có giá
trừ đi phần thu nhập của ngân hàng để sở hữu một giấy tờ có giá cha đến hạn
(hoặc một giấy nợ). Đây là hình thức trao đổi trái quyền.
Tuy nhiên đối với ngân hàng, việc bỏ tiền ra hiện tại để thu về một khoản
lớn hơn trong tơng lai với lãi suất xác định trớc đợc coi nh là hoạt động tín
dụng. Ngân hàng tuy cung ứng tiền cho ngời bán, song thực chất là thay thế
ngời ma trả tiền trớc cho ngời bán.
+ Cho vay: là việc ngân hàng đa tiền cho khách hàng với cam kết
khách hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi trong thời gian xác định.
+ Bảo lãnh là việc ngân hàng cam kết thực hiện nghĩa vụ tài chính hộ
khách hàng của mình. Mặc dù không phải xuất tiền ra, song ngân hàng đã
cho khách hàng sử dụng uy tín của mình để thu lời.
+ Cho thuê: là việc ngân hàng bỏ tiền mua tài sản để cho khách hàng
thuê theo những thoả thuận nhất định. Sau thời gian nhất định, khách hàng
phải trả cả gốc và lãi cho ngân hàng.
c. Phân loại theo tài sản đảm bảo:
ro theo các dầu hiệu rủi ro từ thấp đến cao cho các khoản mục tài sản, băo
gồm cả nội và ngoại bảng, cho vay, bảo lãnh, chứng khoán. Cách phần loại
này giúp ngân hàng thờng xuyên đánh giá lại tính an toàn của các khoản tín
dụng, trích lập dự phòng tổn thất kịp thời.
e. Phân loại khác:
- Theo nghành kinh tế (công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải, xây
dựng )
- Theo đối tợng tín dụng (tài sản lu động, tài sản cố định)
- Theo mục đích (sản xuất, tiêu dùng )
Các cách phân loại này cho thấy tính đa dạng hoặc chuyên môn hoá
trong cấp tín dụng của Ngân hàng. Với xu hớng đa dạng, các ngân hàng sẽ mở
Bùi Ngọc Sơn - Ngân hàng 42A
Luận văn tốt nghiệp
rộng phạm vi tài trợ song vẫn có thể duy trì những lĩnh vực mà ngân hàng có
lợi thế.
II. Hiệu quả hoạt động tín dụng Ngân hàng:
Chuyển sang kinh doanh trong điều kiện kinh tế thị trờng thì khả năng tạo
ra nguồn vốn cho mỗi hoạt động kinh doanh đóng một vai trò rất quan trọng
trong sự phát triển kinh tế xã hội. Với các thức hoạt động vay để cho vay
làm cho các Ngân hàng thơng mại luôn tìm mọi cách để huy động vốn và cho
vay với khả năng tối đa. Chứng tỏ, tín dụng Ngân hàng vừa là một công cụ vừa là
một hoạt động kinh doanh chủ yếu và quan trọng của các Ngân hàng thơng mại.
1. Khái niệm hiệu quả hoạt động tín dụng
- Hiệu quả tín dụng đợc hiểu theo đúng nghĩa là vốn cho vay của Ngân
hàng đợc khác hàng sử dụng vào quá trình sản xuất kinh doanh, dịch vụmột
cách hiệu quả để tạo ra một số tiền lớn hơn để hoàn trả Ngân hàng cả gốc và
lãi, trang trải các chi phí khác và có lợi nhuận. Nh vậy, qua một quá trình chu
chuyển vốn (T - H - T') nh trên Ngân hàng sẽ thu hồi đợc vốn gốc và lãi, còn
khách hàng sử dụng vốn có hiệu quả. Xét về tổng thể, Ngân hàng vừa tạo ra đ-
ợc hiệu quả kinh tế vừa tạo ra hiệu quả xã hội. Trong thực tế, hiệu quả tín
ởng kinh tế: Thông qua nghiệp vụ cho vay vốn bằng hình thức chuyển khoản
(không dùng tiền mặt) trên thị trờng ngân hàng có khả năng mở rộng tiền ghi
sổ gấp nhiều lần số tiền thực có trong lu thông. Đảm bảo hiểu quả tín dụng sẽ
tạo điều kiện cho các Ngân hàng cung cấp các loại hình thanh toán phù hợp
với yêu cầu kinh tế
* Thứ ba: Tín dụng là công cụ để thực hiện các chủ trơng chính sách của
Đảng và Nhà nớc về phát triển kinh tế xã hội: Khi hiệu quả tín dụng đợc nâng
cao sẽ góp phần tăng hiệu quả sản xuất xã hội, đầu t đúng hớng để khai thác
khả năng tiềm tàng về tài nguyên, lao động, vốn, đảm bảo sự chuyển dịch cơ
cấu kinh tế, phát triển cân đối giữa các nghành, vùng trong cả nớc theo định h-
ớng phát triển kinh tế mà Đảng và Nhà nớc đã lựa chọn.
b. Hiệu quả hoạt động tín dụng đối với khách hàng:
Trong quá trình sản xuất kinh doanh mỗi khách hàng đều có những thời
cơ và thách thức trong những thời điểm nhất định. Khi những dự án, cơ hội
kinh doanh có hiệu quả trong khi nguồn vốn tham gia của bản thân có hạn.
Nếu nguồn vốn vay Ngân hàng đáp ứng kịp thời, thời hạn cho vay hợp lý thì
sau một quá trình kinh doanh khách hàng trả nợ vay đúng hạn (gốc + lãi) đảm
bảo các nghĩa vụ với nhà nớc, có lãi, tạo việc làm cho xã hội thì đồng vốn
Ngân hàng đã phát huy hiệu quả.
Một yếu tố quan trọng quyết định thành công trong sản xuất kinh doanh
là phải sử dụng nguồn vốn có hiệu quả, tăng nhanh vòng quay vốn để giảm chi
phí lãi suất tín dụng trên cơ sở đó để giảm giá thành phí lu thông. Do vậy các
chủ thể kinh tế phải chủ động tìm kiếm và thực hiện nhiều biện pháp để nâng
cao chất lợng sử dụng vốn, tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm để hàng
hoá bán nhanh từ đó thu hồi vốn có hiệu quả nhằm trả nợ đúng hạn
Bùi Ngọc Sơn - Ngân hàng 42A
Luận văn tốt nghiệp
Hay nói cách khác hiệu quả tín dụng góp phần thúc đẩy phát triển sản
xuất kinh doanh, và làm lành mạnh tài chính của khách hàng. Hiệu quả tín
dụng đợc đảm bảo cũng có nghĩa là Ngân hàng tồn tại và phát triển và nhờ vậy
Total Assets). Tỷ lệ vốn tự có trên tổng số tài sản có lớn hơn 10% là chỉ số tốt.
Tỷ lệ này thấp hơn quy định có thể do Ngân hàng phát triển nhanh do thua lỗ
hay thu nhập trong một thời kỳ nào đó.
Bùi Ngọc Sơn - Ngân hàng 42A
Luận văn tốt nghiệp
3.2. Tỷ lệ d nợ trên nguồn vốn huy động
Tỷ lệ tổng d nợ trên
nguồn vốn huy động
=
Tổng đ nợ cho vay
Tổng nguồn vốn huy động
Đây là một công cụ đo lờng đáng tin cậy về hoạt động cho vay của Ngân
hàng. Hệ số này xác định hiệu quả đầu t của một đồng vốn huy động, nó giúp
nhà phân tích so sánh khả năng cho vay của Ngân hàng với tổng vốn huy
động. Tỷ lệ này bình quân đầu ngời trong cả nớc thờng là 80%. Tuy nhiên tỷ
lệ này biến đổi từ 30% trong những khu vực kinh tế trì trệ đến 100% tại các
trung tâm tiền tệ lớn hay các Ngân hàng khu vực. Khi tỷ lệ cho vay trên tổng
nguồn vốn huy động thấp - thí dụ dới 40% thì điều đó có nghĩa là Ngân hàng
không tìm kiếm đợc nhiều khách hàng và dự án vay vốn có hiệu quả hoặc
Ngân hàng dè dặt trong hoạt động cho vay của mình. Đây là một thực tế thờng
thay đổi với những Ngân hàng nhỏ.
3.3. Tỷ lệ d nợ cho vay có bảo đảm trên tổng d nợ
Tỷ lệ này đánh giá mức độ an toàn trong hoạt động tín dụng của Ngân
hàng. Tỷ lệ này càng cao càng tốt, nó đảm bảo khả năng thu hồi nợ vay của
Ngân hàng trong trờng hợp có những biến động lớn của nền kinh tế hoặc
những rủi ro bất khả kháng xảy ra đối với khách hàng, dự án vốn dẫn đến ngời
vay gặp khó khăn không có khả năng trả nợ.
Tỷ lệ này có tính chất đặc thù riêng ở Việt Nam nhất là trong thời điểm
hiện nay Chính phủ và Ngân hàng Nhà nớc Việt Nam cho phép các tổ chức tín
dụng tự quyết định và chịu trách nhiệm về việc cho vay không có bảo đảm của
giảm bớt các chi tiêu.
3.6. Thu nhập từ tiền lãi ròng
Tiền lãi ròng cho vay là khoản thu nhập cao nhất của Ngân hàng, gồm có
hai phần:
+ Thu nhập trực tiếp từ lãi cho vay, đầu t.
+ Lãi suất phải trả cho tất cả các loại tiền gửi, chứng chỉ tiền gửi và tiền
vay trực tiếp.
Đây là một tỷ lệ đợc tính trên tổng tài sản có và phải ở mức từ 4 - 5%.
Theo kinh nghiệm, Ngân hàng nào có tỷ lệ này thấp hơn 3% là Ngân hàng sắp
gắp khó khăn. Một điểm khác có thể làm rõ thu nhập từ tiền lãi ròng thấp là
mục ghi tài sản bán đi có lời trong bản kê thu nhập và chi phí của Ngân hàng.
Nhiều Ngân hàng làm nh vậy nhng tiền lời thu đợc từ mục này không thể tạo
sự khác biệt sau cùng về lỗ, lãi. Nếu Ngân hàng cứ tiếp tục làm nh vậy từ năm
này qua năm khác thì đó là dấu hiệu của sự tụt dốc nhanh chóng.
3.7. Quan hệ với khách hàng
Một trong những đặc trng quan trọng của tín dụng đó là lòng tin, điều đó
cũng có nghĩa là quan hệ tín dụng là sự kết hợp giữa 3 yếu tố: Nhu cầu của
khách hàng, khả năng của Ngân hàng và sự tin tởng lẫn nhau giữa Ngân hàng
và khách hàng. Vì vậy, quan hệ khách hàng trong đó có sự tín nhiệm là nhân
Bùi Ngọc Sơn - Ngân hàng 42A
Luận văn tốt nghiệp
tố quan trọng nhất ảnh hởng tới hiệu quả tín dụng. Sự tín nhiệm của Ngân
hàng càng cao khả năng thu hút khách hàng càng lớn, ngợc lại khách hàng có
uy tín với Ngân hàng đợc vay vốn dễ dàng hơn và với lãi suất u đãi hơn so với
các đối tợng khác.
Nh vậy, nếu các Ngân hàng có tín nhiệm, chất lợng phục vụ tốt, có chính
sách u đãi đối với từng loại khách hàng, sẽ thu hút đợc nhiều khách hàng tốt
tạo điều kiện tăng trởng và nâng cao hiệu quả tín dụng.
3.8. Nhóm các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tín dụng không thể định lợng
Bên cạnh những chỉ tiêu đánh giá hiệu quả có thể tính toán nh trên, còn
nghĩa quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả tín dụng. Xuất phát từ nhận
định trên, chúng ta cần xem xét đến những nguyên nhân ảnh hởng tới hiệu quả
tín dụng.
4.1. Nhìn từ góc độ ngời cho vay
Trong cơ chế thị trờng cũng nh các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh
khác, Ngân hàng muốn tồn tại và phát triển thì tất yếu phải giải quyết các mâu
thuẫn trong quá trình khách hàng giữa ngời mua và ngời bán, giữa thế mạnh
của mình có với các Ngân hàng khác. Trong quá trình giải quyết các mâu
thuẫn đó các ngân hàng cạnh tranh nhau quyết liệt và tất yếu có ngân hàng
giành u thế trong cạnh tranh, có ngân hàng phải chịu những rủi ro thất bại.
Qua theo dõi, điều tra chúng ta thấy, các rủi ro tín dụng xuất phát từ phía
Ngân hàng, phần lớn do một số nguyên nhân sau:
- Do việc mong muốn mở rộng tín dụng một cách quá tải, vợt qua khả
năng quản lý, kiểm soát của ngân hàng. Ngân hàng thơng mại hoạt động trong
cơ chế thị trờng cạnh tranh gay gắt với mục tiêu lợi nhuận là trên hết nên các
ngân hàng ra sức mở rộng mạng lới khách hàng , tìm kiếm khách hàng mới để
tăng trởng khối lợng tín dụng; nhiều khi để lôi kéo khách hàng, ngân hàng đã
bỏ qua nhiều điều kiện cần thiết, hoặc hạ thấp những tiêu chuẩn tín dụng đầu t,
giải quyết cho khách hàng vay vốn khi không đợc thẩm định kỹ lỡng và không
đủ thông tin, nên cho vay vợt nhiều lần vốn tự có của doanh nghiệp, cho vay
không đủ tài sản đảm bảo nợ vay và chính những món vay đó khi không hoàn
trả đợc sẽ gây thiệt hại lớn cho ngân hàng.
- Về chính sách, thể lệ, chế độ tín dụng ngân hàng ban hành nhiều khi
cha đợc kịp thời; cũng có quá nhiều văn bản chồng chéo, quy định trùng lắp
hoặc cha chặt chẽ nên việc áp dụng vào thực tế gặp nhiều vớng mắc, ảnh hởng
tới hiệu quả tín dụng. Thêm vào đó, việc xây dựng hệ thống thông tin tín
dụng, thông tin về khách hàng, khoản vay cha đợc sự thực coi trọng; sự kiểm
tra, kiểm soát cha thờng xuyên, kịp thời, khách hàng cung cấp thông tin thiếu
chính xác dẫn đến tình trạng quá tải về d nợ, vợt quá khả năng quản lý, kiểm
soát của ngân hàng; có nhiều khoản nợ khách hàng sử dụng vốn kém hiệu quả,
ngân hàng chính là ngời phải gánh chịu thiệt hại sau cùng.
4.2. Nhìn từ góc độ ngời đi vay.
Trong môi trờng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần cạnh tranh khốc
liệt, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp chứa đựng rất nhiều rủi
ro, từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ sản phẩm. Trong quan hệ tín dụng,
doanh nghiệp là ngời đợc ngân hàng tín nhiệm trao quyền sử dụng vốn. Vì
vậy, rủi ro trong hoạt động kinh doanh của khách hàng cũng chính là rủi ro
của ngân hàng. Điều khẳng định này buộc chúng ta phải tiến hành xem xét
vấn đề về ngời cho vay có liên quan thế nào tới hiệu quả tín dụng.
Bùi Ngọc Sơn - Ngân hàng 42A
Luận văn tốt nghiệp
- Trình độ quản lý, kỹ năng kinh doanh của khách hàng còn nhiều hạn chế,
trong khi đây chính là yếu tố hết sức quan trọng, quyết định hiệu quả hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp. Một số doanh nghiệp khi vay vốn họ lập phơng
án sản xuất kinh doanh rất hiệu quả, chứng minh đầu vào và đầu ra khả thi, nh-
ng do không tính hết đến biến động của thị trờng nên bị thua lỗ. Trong một số
món vay trung và dài hạn để nhập máy móc thiết bị, do phân tích dự án không
chính xác dẫn đến máy móc nhập về không phát huy đợc tác dụng gây thiệt hại
lớn, không thể hoàn trả tiền vay cho ngân hàng. Một điều thấy rõ nữa là năng
lực quản lý của bộ máy lãnh đạo doanh nghiệp còn bị hạn chế nhiều mặt và
kinh nghiệm thực tiễn nên không có khả năng xử lý kịp thời những khó khăn
trong kinh doanh dẫn đến tình trạng thua lỗ của doanh nghiệp.
- Khách hàng sử dụng vốn vay sai mục đích, không đảm bảo độ an toàn
trong sử dụng vốn gây lãng phí thậm chí mất vốn. Ví dụ nh nhiều doanh
nghiệp dùng tiền vay của ngân hàng quay vòng không đúng đối tợng kinh
doanh, không đúng với phơng án, mục đích khi xin vay, trong khi đó hoạt
động kinh doanh gặp những biến động lớn về thị trờng tiêu thụ, nhu cầu tiêu
dùng do không tính toán, dự đoán trớc nên thua lỗ, ứ đọng hàng hoá, vốn và
không có khả năng trả đợc nợ đúng hạn; thậm chí khách hàng còn dùng vốn
vay ngắn hạn đầu t vào tài sản cố định hoặc kinh doanh bất động sản nên
Muốn tồn tại, đứng vững và phát triển trong cơ chế thị trờng, doanh
nghiệp buộc phải tự mình bơn chải, tính toán xây dựng phơng án sản xuất kinh
doanh, phải vay vốn ngân hàng để đầu t cho sản xuất thay cho việc chờ nguồn
cấp vốn từ ngân sách Nhà nớc. Tuy nhiên, với năng lực tài chính hạn chế lại
phải vay vốn ngân hàng gần nh toàn bộ để phục vụ cho hoạt động sản xuất
kinh doanh kể cả vay 100% vốn ngắn hạn và vốn đầu t dài hạn, chi phí sản
xuất, khấu hao cơ bản, lãi vay tính trong giá thành sản phẩm rất lớn cộng
thêm với áp lực của các khoản vay nợ làm cho năng lực cạnh tranh và tính
năng động của doanh nghiệp rất yếu; "loay hoay trong tấm lới vô hình đó", chỉ
những biến độ rất nhỏ của thị trờng, của nền kinh tế làm cho các doanh nghiệp
kinh doanh thua lỗ và thực sự khó khăn trong việc hoàn trả vốn vay gây thiệt
hại cho ngân hàng.
4.3. Nhìn từ góc độ môi trờng kinh tế.
Bất kỳ một loại hình kinh doanh nào đều chịu sự chi phối của môi trờng
xung quanh nó. Môi trờng kinh tế gây không ít ảnh hởng tới hoạt động của
ngân hàng thơng mại, đặc biệt là hoạt động tín dụng. Trong kinh doanh tín
dụng, nếu ngân hàng không dự đoán đợc sự biến động sẽ dẫn đến làm ăn kém
hiệu quả và gây ra rủi ro không nhỏ.
- Sự biến động giá của tiền tệ trong quá trình kinh doanh tín dụng cũng là
một loại rủi ro với ngân hàng. Nó chính là hao mòn vô hình của khoản tiền mà
ngân hàng cho vay. Khi ngời đi vay hoàn trả tiền vay cho ngân hàng (bao gồm
cả gốc lẫn lãi) thì có nghĩa là giá trị chuyển nhợng tạm thời sau một thời gia
nhất định đã quay về với số lợng lớn hơn. Tuy nhiên, lợng giá trị chênh lệch
giữa lợng giá trị mà ngân hàng bỏ ra trớc đó mới chỉ phản ánh đợc sự lớn lên
về mặt lợng còn giá trị thực tăng lên hay không còn phụ thuộc vào sự biến
Bùi Ngọc Sơn - Ngân hàng 42A
Luận văn tốt nghiệp
động giá trị đồng tiền trong thời gian cấp tín dụng. Biểu hiện của sự tổn thất ở
đây chính là vốn của ngân hàng không đợc bảo toàn trên thực tế và những rủi
ro do sự giảm giá cuả đồng tiền khó nhận biết và đánh giá đợc nó. Ngân hàng
mại (mua bán chịu) trở thành phổ biến trong giao dịch thơng mại, nhng cha có
luật lu thông kỳ phiếu thơng mại nên xảy ra tình trạng chiếm dụng vốn, công nợ
dây da, lừa đảo, trốn thuế, lậu thuế, sử dụng vốn vay ngân hàng không đúng mục
đích mà pháp luật không thể kiểm soát đợc.
Bùi Ngọc Sơn - Ngân hàng 42A
Luận văn tốt nghiệp
- Hiệu lực các cơ quan hành pháp cha đủ đáp ứng đợc yêu cầu giải quyết
các tranh chấp, tố tụng về hợp đồng kinh tế, hợp đồng dân sự, phát mại tài sản
thế chấp
- Quản lý của Nhà nớc đối với doanh nghiệp còn nhiều sơ hở, Nhà nớc
cho phép nhiều doanh nghiệp đợc sản xuất kinh doanh với nhiều chức năng,
nhiệm vụ vợt quá trình độ, năng lực quản lý, quy mô hoạt động quá lớn so với
khả năng nguồn vốn tự có của doanh nghiệp dẫn đến vay vốn lớn gấp nhiều
lần vốn tự có làm nảy sinh những điều kiện đa đến rủi ro, thua lỗ trong hoạt
động kinh tế của doanh nghiệp.
Chơng II: Thực trạng hiệu quả tín dụng của
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn Việt nam
I Khái quát về Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn Việt Nam:
1. Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng nông nghiệp và
phát triển nông thôn Việt Nam:
Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thông Việt Nam là một Ngân
hàng thơng mại (NHTM) quốc doanh lớn, kinh doanh tổng hợp, có xu hớng
mỡ rộng tất cả các nghiệp vụ tài chính, ngân hàng hiện đại do đó Ngân hàng
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đóng một vai trò quan trọng trong sự
nghiệp phát triển kinh tế của đất nớc.
Từ Ngân hàng phát triển Nông nghiệp Việt Nam đợc thành lập theo
Nghị định 53/ HĐBT (26/03/1988) của Hội đồng Bộ trởng (nay là Chính phủ),
đến ngày 14/11/1990 đổi tên là Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam theo Quyết
NHNNo&PTNT Việt Nam đã trở thành một trong những NHTM quốc doanh
đa năng đang từng bớc hiện đại hoá công nghệ kinh doanh và xây dựng một
NHTM Nhà nớc có đủ sức cạnh tranh trên thị trờng theo Pháp lệnh Ngân
hàng, Công ty tài chính và Hợp tác xã tín dụng của Nhà nớc, NHNNo&PTNT
Việt Nam đã trỡ thành NHTM có đủ t cách pháp nhân, hạch toán kinh tế độc
lập, tự chịu trách nhiệm về tài chính.
Vào thời gian này, NHNNo&PTNT Việt Nam có chi nhánh tới cấp huyện
thị, xã và hàng ngàn chi nhánh nhỏ đợc trải rộng trên toàn lãnh thổ Việt Nam.
Về tổ chức bộ máy, NHNNo&PTNT Việt Nam đã tập trung vào lĩnh vực nông
nghiệp trên khắp mọi miền của Tổ quốc, tạo mọi thuận lợi giúp dân đợc vay
vốn. Hơn thế nữa, bằng hoạt động nghiệp vụ của mình, NHNNo&PTNT Việt
Nam đã triển khai các chính sách của Đảng và Nhà nớc tới ngời dân, kể cả
những vùng xa xôi, hẻo lánh.
Mặc dù đầu những ngày thành lập nhận bàn giao nợ tồn đọng 800 tỷ
đồng, chiếm 51% tổng số vốn, hoạt động thuần tuý là tín dụng. Trong đó có
92% là d nợ quốc doanh hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực nông lâm 6%
Hợp tác xã nông nghiệp, Hợp tác xã mua bán, trên địa bàn không có môi trờng
kinh doanh. Hơn 3.000 xí nghiệp quốc doanh dịa phơng tỉnh và huyện là
khách hàng của Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp đang chờ giải thể, 12.000
Bùi Ngọc Sơn - Ngân hàng 42A
Luận văn tốt nghiệp
Hợp tác xã tự tan rã đã làm tăng tỷ lệ nợ quá hạn khó đòi, chiếm 51% tổng d
nợ. D nợ bình quân chỉ có 40 triệu đồng/ ngời, hoạt động thua lỗ, bên bờ vực
thẳm. Nhng đến cuối năm 1991 đã cho 294.724 hộ nông dân với 224 tỷ đồng
đã tạo cho NHNNo&PTNT Việt Nam có những kinh nghiệm trong thực tế để
mỡ rộng cho vay nền kinh tế cả về chiều rộng lẫn chiều sâu.
Ngoài ra, qua đó cũng tạo cho NHNNo&PTNT Việt Nam dần đi sâu vào
quỹ đạo hoạt động của một NHTM hoạt động đích thực. Từng bớc
NHNNo&PTNT Việt Nam đã đứng vững trong cơ chế thị trờng phục vụ tốt
cho sự nghiệp phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn. Qua đó thấy rõ
đồng, chiếm 43,9% tổng d nợ; dịch vụ cho vay ngắn và trung hạn u đãi hộ
nghèo 7.022 tỷ đồng.
2. Cơ cấu tổ chức và mạng lới hoạt động của NHNN&PTNT Việt Nam
hiện nay:
Việc tổ chức quản lý thực hiện theo nguyên tắc tập trung tại Ngân hàng
NNO & PTNT Việt Nam, có phân cấp quản lý cho các chi nhánh tỉnh vì vậy
cơ cấu tổ chức đợc thực hiện theo 2 cấp:
+ Tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam
+ Tại các chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
tỉnh, thành phố.
Điều đó đợc thể hiện khái quát theo:
Bùi Ngọc Sơn - Ngân hàng 42A
Luận văn tốt nghiệp
Sơ đồ 1: Mô hình tổ chức quản lý của NHNN&PTNT Việt Nam:
Bùi Ngọc Sơn - Ngân hàng 42A
Hội đồng quản trị
Bộ phận giúp việc
Hội đồng quản trị
Ban kiểm soát
Hội đồng quản trị
Tổng giám đốc
Các phó Tổng giám đốc
Hội đồng tín dụng Hệ thống kiểm tra
kiểm toán nội bộ
Hệ thống các ban, phòng chức năng tại trụ sở chính
Luận văn tốt nghiệp
Sơ đồ 2: Hệ thống tổ chức của NHNN&PTNT Việt Nam:
Ngoài ra, NHNN&PTNT Việt Nam còn có một mạng lới hoạt động trong
nớc rộng lớn trên 65 tỉnh thành. NHNN&PTNT Việt Nam luôn chú trọng công
Phòn
g giao
dịch
Chi
nhánh
cấp II
Chi
nhánh
Phòn
g giao
dịch
Chi
nhánh
cấp III
Luận văn tốt nghiệp
II. Tình hình hoạt động kinh doanh tại NHNNo&PTNT Việt
Nam
1. Môi trờng hoạt động:
Trong giai đoạn nhiều biến động trên nền kinh tế thế giới nói chung và
nền kinh tế Châu á nói riêng đã gây ảnh hởng không nhỏ đến nề kinh tế Việt
Nam, đặc biệt cuộc khủng hoảng tiền tệ Đông Nam ấ năm 1997 đã lan toả trở
thành cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính Châu á năm 1998 và nền kinh tế
Việt Nam cũng đã bị chịu sức ép và tác động mạnh của sự khủng hoảng này.
Tổng sản phẩm trong nớc đầu năm 1999 chỉ tăng 4,8% so với năm 1998, đồng
bản tệ thì bị mất giá mạnh nhng với những biện pháp tích cực và hiệu quả
nhằm hạn chế ảnh hởng và sự tác động cuộc khủng hoảng lên nền kinh tế
Việt Nam thì đến năm 2002, Việt Nam có tốc độ tăng trởng GDP đạt 6,8%,
giá trị sản xuất công nghiệp 17,2%, giá trị các ngành dịch vụ tăng 6,7% và
đến năm 2003 thì tốc độ tăng trởng GDP của Việt Nam là 7,0%.
Sự phục hồi và phát triển của nền kinh tế có tác động đến hoạt động kinh
ới nhiều hình thức, với những mức lãi suất linh hoạt ở từng thời điểm nhất
định và nhiều thời hạn khác nhau để đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng gửi
tiền. Đồng thời không ngừng mở rông quan hệ hợp tác quốc tế nhằm tăng
nguồn vốn huy động từ: các tổ chức tài chính quốc tế, tổ chức tín dụng quốc
tế, nguồn vốn dịch vụ uỷ thác đầu t cho phát triển nông nghiệp nông thôn nên
đã đảm bảo nguồn để cho vay đáp ứng nhu cầu vay vốn của nền kinh tế.
Bùi Ngọc Sơn - Ngân hàng 42A