Lời nói đầu
Giáo dục đại học Việt Nam bớc sang thế kỷ XXI, vấn đề nâng cao chất lợng
đào tạo đại học đang đợc đặc biệt coi trọng bởi lẽ tuy qui mô của giáo dục đại học
ngày càng tăng nhng điều kiện đảm bảo chất lợng giáo dục còn thấp so với các
chuẩn mực quốc tế và khu vực. Để có thể đào tạo đợc nguồn nhân lực có chất lợng
cao, đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế thì đòi hỏi phải có đội ngũ giáo viên có trình
độ cao, có các phơng pháp và kỹ năng giảng dạy luôn đợc cập nhật ở tầm quốc tế.
Trong những năm gần đây, quá trình hội nhập và toàn cầu hoá ngày càng trở
nên phổ biến rộng rãi trên tất cả các lĩnh vực và giáo dục cũng không nằm ngoài xu
thế đó. Một hình thức giáo dục đào tạo mới ra đời đó là hình thức hợp tác đào tạo
Quốc tế. Hình thức này không chỉ mang đến môi trờng học tập phong phú hơn cho
những ngời muốn tham gia mà còn là một hình thức bồi dỡng và phát triển cán bộ
giảng viên cực kỳ hiệu quả và có ích.
Trờng Đại học Kinh tế Quốc dân là trờng đầu ngành của cả nớc về đào tạo
kinh tế và quản trị kinh doanh. Đi đôi với việc phát triển các chơng trình đào tạo
trong nớc, các chơng trình hợp tác đào tạo quốc tế ngày càng đợc mở rộng và đa
dạng hơn về hình thức. Đây thực sự là môi trờng tốt khuyến khích các giảng viên
trong trờng tham gia để nâng cao năng lực giảng dạy của mình lên tầm quốc tế hay
nói cách khác đây chính là một hình thức bồi dỡng và phát triển năng lực giảng dạy
của cán bộ giảng viên rất hiệu quả.
Để tạo ra một môi trờng bồi dỡng và phát triển năng lực giảng dạy của cán
bộ giáo viên ngày càng rộng rãi và hiệu quả hơn thì việc thu thập thông tin về
những lợi ích mà chơng trình hợp tác đào tạo quốc tế mang lại cho các giảng viên
nói riêng và cho nhà trờng nói chung là rất cần thiết. Vì lí do đó em xin lựa chọn đề
tài: Vận dụng phơng pháp điều tra xã hội học đánh giá ảnh hởng của đào tạo
Quốc tế trong việc nâng cao năng lực giảng dạy của giảng viên trờng đại học
Kinh tế Quốc dân.
Kết cấu luận văn gồm 3 chơng không kể lời nói đầu và kết luận
Chơng I: Một số vấn đề lý luận chung về điều tra xã hội học
Chơng II: Xây dựng phơng án điều tra đánh giá ảnh hởng của đào tạo
Quốc tế trong việc nâng cao năng lực giảng dạy của đội ngũ giáo viên.
(là những chỉ tiêu phi lợng hoá).
Do tính chất phức tạp của đối tợng nghiên cứu nên việc thu thập số liệu sẽ
gặp rất nhiều khó khăn, vì vậy ta phải kết hợp linh hoạt nhiều phơng pháp để có thể
thu thập số liệu một cách đầy đủ và chính xác nhất.
1.2. Đặc điểm của phơng pháp điều tra xã hội học:
Nhìn chung, phơng pháp điều tra xã hội học có một số đặc điểm nổi bật sau
đây:
Thứ nhất, phơng pháp điều tra xã hội học có một u điểm là rất thuận lợi
trong việc thu thập các thông tin định tính nh: quan điểm, thái độ, động cơ, tâm t,
nguyện vọng
Thứ hai, điều tra xã hội học phải áp dụng các nguyên tắc cơ bản của điều tra
Thống kê nói chung, phải sử dụng các phơng pháp xử lý số liệu thống kê và thậm
chí phải coi đó nh là một bộ phận nghiệp vụ cơ bản.
Thứ ba, trong điều tra xã hội học ngoài việc sử dụng các phơng pháp điều tra
thống kê còn phải kết hợp sử dụng các phơng pháp của xã hội học nh: phơng pháp
phân tích t liệu, phơng pháp thực nghiệm, phơng pháp trng cầu ý kiến và phải tính
đến các yếu tố tâm lý trong quá trình điều tra
1.3. Phân loại điều tra xã hội học
Cũng giống nh điều tra Thống kê, tuỳ theo từng tiêu thức phân loại mà điều
tra xã hội học đợc chia thành các loại khác nhau.
Theo phạm vi, đối tợng đợc điều tra thực tế điều tra xã hội học đợc chia ra
làm hai loại:
- Điều tra toàn bộ: là việc thu thập tài liệu về toàn bộ tổng thể nghiên cứu
(hay còn gọi là tổng thể điều tra). Điều tra toàn bộ có u điểm là: cung cấp tài liệu
đầy đủ nhất về tất cả các đơn vị của hiện tợng, cho biết qui mô của tổng thể lớn hay
nhỏ, rất có ích cho công việc nghiên cứu; nhng cũng có những hạn chế nhất định
nh : đòi hỏi một chi phí rất lớn vì vậy không thể tiến hành thờng xuyên đợc, ngoài
ra trong nhiều trờng hợp không thể tiến hành điều tra toàn bộ đợc. - Điều tra
3
không toàn bộ: là việc thu thập tài liệu của một số đơn vị đợc chọn ra từ tổng thể
2. Đo lờng và thang điểm trong điều tra xã hội học
4
2.1. Những vấn đề chung về đo lờng
a. Khái niệm chung về đo lờng
Để có thể đi từ nhận thức định tính về một hiện tợng xã hội đến định lợng về
hiện tợng đó, ta phải lợng hoá chúng tức là đo lờng chúng. Mục đích của việc đo l-
ờng là biến những đặc tính của sự vật thành một dạng để ngời nghiên cứu có thể
phân tích đợc.
Do vậy đo lờng đợc hiểu là việc ấn định các con số cho các hiện tợng và sự
kiện theo các quy tắc nhất định.
Theo định nghĩa này cần chú ý một số điểm nh sau : thứ nhất, đo lờng là
hành động ấn định các con số cho các sự kiện và hiện tợng nhng hành động ấn định
các con số này phải theo những qui tắc nhất định và cùng với đó các qui tắc hớng
dẫn phải tạo nên sự phù hợp giữa hiện tợng đợc quan sát với con số đợc ấn định cho
nó; thứ hai, yêu cầu chung nhất của việc đo lờng đó là phải làm sao giải quyết đợc
vấn đề mà ngời nghiên cứu muốn : đo cái gì, đo nh thế nào ?
b. Những yêu cầu của việc đo lờng
Đo lờng các hiện tợng xã hội là một công việc rất khó khăn, phức tạp. Muốn
cho công việc đo lờng có chất lợng tốt, cần đảm bảo 6 yêu cầu sau:
- Thứ nhất, có độ tin cậy: nghĩa là phải thu đợc những kết quả tơng đơng và
phù hợp với nhau nếu sử dụng cùng một phơng pháp đo.
- Thứ hai, có giá trị: một công cụ đo lờng có giá trị khi nó đo lờng đúng
những gì cần đo.
- Thứ ba, có độ nhạy: nghĩa là việc đo lờng có thể chỉ ra sự biến động hay sự
khác biệt của các sự vật, hiện tợng dù rất nhỏ. Nếu thiếu độ nhạy, việc nghiên cứu
sẽ không đem lại kết quả có ý nghĩa đáng kể.
- Thứ t, phải có sự liên hệ với những thuật ngữ mô tả hiện tợng cần đo: tức là
trong đo lờng phải đặt thang đo có liên quan đến vấn đề cần đo.
- Thứ năm, phải có tính đa dạng: nghĩa là kết quả đo lờng có thể đợc đem ra
sử dụng cho nhiều mục đích thống kê khác nhau nh để giải thích, để hỗ trợ cho độ
Thang đo thứ bậc nói lên quan hệ hơn kém nhng sự chênh lệch giữa các biểu
hiện của tiêu thức không nhất thiết phải bằng nhau vì vậy thờng không thực hiện
đợc các phép tính cộng, trừ, nhân, chia mà chỉ nói lên đặc trng một cách tơng đối
căn cứ vào sự giải thích lớn hơn hay nhỏ hơn mà thôi.
c. Thang đo khoảng
6
Thang đo khoảng là thang đo thứ bậc có các khoảng cách đều nhau nhng
không có điểm gốc là số 0. Vì vậy, ta có thể đánh giá sự khác biệt giữa các biểu
hiện tiêu thức bằng thang đo này.
Trong thang đo khoảng, do quan hệ hơn kém giữa các con số có khoảng cách
bằng nhau nên ta có thể thực hiện đợc các phép tính cộng, trừ, tính đợc các tham số
đặc trng nh: trung bình, phơng sai nhng do không có điểm gốc là 0 nên không so
sánh đợc tỉ lệ giữa các trị số đo.
d. Thang đo tỉ lệ
Thang đo tỉ lệ là thang đo khoảng với một điểm không (0) tuyệt đối (điểm
gốc) để có thể so sánh đợc tỷ lệ giữa các trị số đo. Với thang đo này ta có thể thực
hiện đợc tất cả các phép tính với các trị số đo.
Thang đo tỉ lệ là loại thang đo tốt nhất vì nó có thể sử dụng đợc tất cả các
phép tính phân tích về mặt thống kê.
Tóm lại, theo tuần tự thang đo sau có chất lợng đo lờng cao hơn thang đo tr-
ớc, đồng thời việc xây dựng thang đo (xác định trị số cụ thể cho biểu hiện của tiêu
thức) cũng phức tạp hơn. Song không phải lúc nào cũng có thể sử dụng đợc thang
đo hoàn hảo mà phải tuỳ thuộc vào đặc điểm tiêu thức.
Việc xây dựng thang đo định danh rất đơn giản. Đối với các thang đo còn lại,
khi xây dựng, thông thờng ngời ta phải lấy ý kiến chuyên gia kết hợp với vận dụng
phơng pháp tính toán thông kê thích hợp.
2.3. Thang điểm trong điều tra xã hội học
Trong điều tra xã hội học, thang điểm là một công cụ quan trọng để nhận
biết đợc những thông tin đánh giá về vấn đề nghiên cứu. Do vậy thang điểm có ý
nghĩa rất quan trọng trong quá trình thu thập thông tin, nhất là đối với thông tin
ợc nhiều hơn so với việc chỉ chọn một điều mục.
Loại thang điểm này tuy đơn giản, có thể phân tích đợc thông tin tơng đối
sâu sắc mà lại dễ trả lời nhng cũng gặp một số khó khăn nh: Thứ nhất, trong quá
trình xây dựng thang điểm ngời nghiên cứu khó có thể liệt kê đợc dầy đủ hết các tr-
ờng hợp nên dữ liệu thu thập thiếu chính xác. Thứ hai, đối với loại thang điểm này
việc xếp hạng theo thứ tự đợc nhấn mạnh nên có thể ảnh hởng đến câu trả lời, đặc
biệt là mục thứ nhất và mục chat thờng đợc quan tâm nhiều hơn (do yếu tố tâm lý).
Thứ ba, khi đợc hỏi để xếp hạng những mục hoàn toàn nằm ngoài ý thích của ngời
đợc hỏi thì câu trả lời không có ý nghĩa lắm.Thứ t , thang điểm này không giúp ta
xác định khoảng cách xa gần giữa các mục là bao nhiêu và tại sao ngời ta lại xếp
nh vậy.
c. Thang điểm có tổng không đổi
8
Thang điểm có tổng không đổi là loại thang điểm có khả năng cung cấp một
nhận thức tổng quát tốt hơn về khoảng cách giữa các điều mục trên giải thang
điểm. Cụ thể: ngời đợc hỏi cần chia hay xác định một số điểm có tổng không đổi
thờng là 100 để biểu thị sự quan trọng tơng đối của những đặc điểm nghiên cứu. Số
lợng điểm đợc xác định trong mỗi đặc điểm đã chỉ rõ hạng bậc của nó và đồng thời
cũng chỉ rõ sự khác biệt giữa các đặc điểm với nhau.
Thang điểm này có u điểm là cho phép phân tích chi tiết và cụ thể hơn thông
tin thu đợc nhng vẫn còn một số hạn chế sau: Thứ nhất, đối với loại thang điểm này
nếu có quá nhiều điều mục thì việc chia điểm cũng gặp khó khăn vì vậy thang điểm
này chỉ sử dụng cho những đối tợng có trình độ dân trí cao. Đôi khi, để khắc phục
tình trạng này, ta có thể cho điểm tuỳ ý các điều mục với thang điểm là 100. Thứ
hai, mặc dù nh trên đã nói số điểm đợc xác định cho mỗi đặc điểm đã chỉ rõ hạng
bậc của nó, đồng thời cũng chỉ rõ sự khác biệt giữa các đặc điểm với nhau tuy
nhiên không thể chắc chắn là những kết quả đó có biểu thị đúng với khoảng cách
và tỉ lệ thực tế giữa các đặc điểm hay không.
d. Thang điểm có ý nghĩa đối nghịch nhau
Thang điểm có ý nghĩa đối nghịch nhau là loại thang điểm mà ngời đợc hỏi
một số nhận định sơ bộ, một số hiểu biết tơng đối về bản chất của vấn đề. Kết quả
nghiên cứu sẽ là sự khẳng định hay bác bỏ các giả thuyết đã đợc xây dựng này. Cái
hay trong nghiên cứu xã hội học không phải là sự khẳng định hay bác bỏ một giả
thuyết nào đó, mà là nêu lên đợc một giả thuyết sát hợp với tình hình thực tế và vấn
đề đang đợc quan tâm.Số lợng các giả thuyết về vấn đề nghiên cứu tuỳ thuộc vào
nội dung, mục đích của cuộc điều tra và khả năng bao quát của ngời chủ trì việc
nghiên cứu.
Bớc 3: Xây dựng mô hình lý luận và thao tác hoá khái niệm
- Xây dựng mô hình lý luận
Mô hình lý luận là hớng tiếp cận của ngời nghiên cứu tới vấn đề nghiên cứu.
Sự cần thiết của việc xây dựng mô hình lý luận là vì thực tế xã hội rất đa dạng,
phong phú và đan xen lẫn nhau. Nếu không có cách nhìn tổng quát và toàn diện thì
thông tin thu đợc sẽ rời rạc, không biết sắp xếp chúng nh thế nào, vào đâu? Việc
xây dựng mô hình lý luận sẽ giúp chúng ta khái quát hoá vấn đề, đa ra những lý
giải có tính khoa học.
Ngoài ra, mô hình lý luận còn đợc coi là những khuôn mẫu để sắp xếp các
thông tin rời rạc thành một thể thống nhất, nhng khi sử dụng nó cần phải chú ý
rằng: một mô hình lý luận về các vấn đề xã hội học luôn thể hiện thực tế xã hội. Vì
vậy phải đảm bảo sự liên hệ thực tế giữa mô hình lý luận với hiện thực cuộc sống,
giữa vấn đề nghiên cứu với các vấn đề khác.
10
- Thao tác hoá khái niệm
Đây là một vấn đề quan trọng trong nghiên cứu xã hội học vì quá trình xây
dựng giả thuyết nghiên cứu cũng nh các mô hình lý luận thờng phải sử dụng những
khái niệm mới, khoa học. Có rất nhiều khái niệm rất phức tạp, dễ làm cho ngời
khác hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau và do đó sự đo lờng chúng cũng trở nên sai
lệch. Mặt khác, việc thao tác hoá khái niệm lại dựa trên quan điểm chủ quan của
mỗi ngời, do đó khó thống nhất đợc những khái niệm đã thao tác.
Bớc 4: Lựa chọn phơng pháp thu thập thông tin
Việc lựa chọn phơng pháp thu thập thông tin là rất cần thiết vì mỗi loại ph-
Có 3 phơng pháp chọn mẫu cơ bản là: chọn mẫu ngẫu nhiên; chọn mẫu phi
ngẫu nhiên; chọn mẫu hỗn hợp.
Thông thờng ngời ta hay sử dụng phơng pháp chọn mẫu ngẫu nhiên vì hai lý
do sau: Thứ nhất, mẫu ngẫu nhiên đợc chọn đại diện cho toàn bộ tổng thể nên
những kết luận từ đó có thể suy rộng ra cho cả tổng thể ngẫu nhiên. Thứ hai, một số
phơng pháp kiểm định thống kê chỉ có thể áp dụng cho những dữ liệu đợc thu thập
từ mẫu ngẫu nhiên.
Bớc 7: Tổ chức điều tra thực tế
Trong bớc này, ngời điều tra đóng vai trò quyết định. Kết quả điều tra có tốt
hay không là phụ thuộc vào đội ngũ cán bộ tổ chức điều tra. Việc phân bổ kinh phí,
thời gian, tìm nguồn nhân lực phù hợptrong giai đoạn này cần phải đợc lên lịch
một cách chi tiết để không có sai xót đáng tiếc nào xảy ra.
Để đảm bảo giai đoạn này tốt thì việc cần thiết nữa là phải liên hệ với nơi
điều tra, tránh tình trạng chờ đợi làm tốn thời gian và tiền bạc. Đây là giai đoạn có
chi phí về tài chính lớn nhất.
Bớc 8: Phân tích dữ liệu nghiên cứu và trình bày kết quả
Sau khi thu thập đợc số liệu, cán bộ nghiên cứu mã hoá bảng hỏi, nhập số
liệu vào máy, chạy chơng trình để đa ra kết quả. Từ kết quả thu đợc tiến hành phân
tích, đánh giá và đa ra giải pháp. Cuối cùng là viết báo cáo và trình bày bảo vệ kết
quả nghiên cứu.
4. Các loại câu hỏi trong điều tra xã hội học
Trong điều tra xã hội học, nội dung của các cuộc điều tra đợc thể hiện bằng
các câu hỏi trong bảng hỏi. Nhờ có các câu hỏi này mà ngời hỏi có thể hớng ngời
đợc hỏi vào một quỹ đạo cần thiết, vì vậy các câu hỏi trong bảng hỏi là công cụ
dẫn đờng vô cùng quan trọng giúp ngời hỏi có thể hoàn thành đợc công việc thu
thập thông tin một cách dễ dàng hơn.
12
Tuú theo tõng tiªu thøc ph©n lo¹i kh¸c nhau mµ c¸c c©u hái ®îc chia ra thµnh
nhiÒu lo¹i nhá t¬ng øng víi c¸c tiªu thøc ®ã. Ta cã s¬ ®å ph©n lo¹i c¸c lo¹i c©u hái
sau: (xem trang 16)
Câu
hỏi
đóng
Câu
hỏi
mở
Câu
hỏi
nửa
đóng
Câu
hỏi
trực
tiếp
Câu
hỏi
gián
tiếp
Câu hỏi l ỡng cực Câu hỏi c ờng độ Câu hỏi tuỳ chọn
4.1. Theo công dụng
a. Theo nội dung:
Mục đích của cuộc điều tra là phải nắm đợc nội dung bao gồm tình hình, sự
nhận thức hiểu biết, thái độ quan điểm động cơ của ngời đợc điều tra. Vì vậy câu
hỏi về nội dung thờng đợc chia thành 3 loại sau:
- Câu hỏi về sự kiện là những câu hỏi để nắm tình hình bao gồm cả tình hình
về đối tợng điều tra.
Nhìn chung, những câu hỏi về sự kiện thờng dễ trả lời. Chính vì vậy, ngời ta
thờng dùng để bắt đầu hỏi trong phỏng vấn những câu hỏi sự kiện để ngời trả lời
quen dần với cuộc toạ đàm hoặc để tạm nghỉ giữa những câu hỏi về quan điểm, thái
độ, động cơ
này phần lớn là không có chủ ý. Thứ t , khi đặt câu hỏi loại này phải khơi gợi đợc
mối quan tâm và đặc biệt là sự tin tởng của ngời đợc hỏi vì nếu ngời đợc hỏi biết
rằng những nhận xét, quan điểm của họ có ý nghĩa, hoặc sẽ đợc phản hồi thì ngời
đợc hỏi sẽ rất hứng thú trả lời.
b. Theo chức năng
Trên thực tế, để truyền tải những nội dung của cuộc điều tra, đặc biệt là trong
hình thức phỏng vấn trực diện, cần phải có những câu hỏi mang tính chất kỹ thuật,
đó là các câu hỏi chức năng. Các câu hỏi về chức năng cũng thờng đợc chia thành 3
loại sau:
- Câu hỏi tâm lý có thể là những câu hỏi tiếp xúc để gạt bỏ những nghi ngờ
có thể nảy sinh, để giảm bớt sự căng thẳng hay chuyển từ chủ đề này sang chủ đề
khác (thờng chỉ dùng trong phỏng vấn trực diện).
Những câu hỏi tiếp xúc thờng có ý đa ngời đợc hỏi lên vị trí của một chuyên
gia, một ngời từng trải trong cuộc sống là động cơ thúc đẩy ngời đợc hỏi và lôi
cuốn họ vào vấn đề nghiên cứu.
Những câu hỏi để giảm bớt sự căng thẳng là những câu hỏi biểu thị sự quan
tâm tới ngời đợc hỏi về đời sống hàng ngày, gia đình vv thờng không liên quan
đến vấn đề mà chúng ta đang nghiên cứu.
Còn những câu hỏi để chuyển sang đề tài khác đợc sử dụng nh một chiếc cầu
nối giữa các nội dung, thờng thì những câu hỏi này cũng không liên quan đến vấn
đề đang nghiên cứu.
Nhìn chung, với chức năng tâm lý của nó thì câu hỏi tâm lý không có liên
quan rõ ràng đến nội dung nghiên cứu. Chính vì thế việc sử dụng những câu hỏi
này phải khéo léo và có mức độ. Có ngời đã ví nó nh gia vị trong một món ăn, sử
dụng nhiều hoặc không đúng chỗ có thể gây ra phản tác dụng.
16
- Câu hỏi lọc là loại câu hỏi có tác dụng tìm hiểu xem ngời đợc hỏi có thuộc
nhóm ngời dành cho những câu hỏi tiếp theo hay không. Câu hỏi lọc có thể dùng
trớc khi tiến hành cuộc phỏng vấn hay trớc đi tiếp vào một nội dung nào đó.
Khi nghiên cứu câu hỏi lọc, đặc điểm cần chú ý là có một hình thức biến
17
phía mà lại thờng là phía tích cực. Vì vậy, để ngời lời có trách nhiệm hơn và do đó
câu trả lời đợc xác thực hơn ngời ta thờng xử lý bằng cách sử dụng câu hỏi kiểm tra
hoặc bằng việc thay đổi cách diễn đạt.
+ Câu hỏi c ờng độ: là loại câu hỏi mà ngời mà ngời ta đặt ra nhiều khả năng
trả lời theo cờng độ của hiện tợng hoặc ý kiến. Câu hỏi cờng độ đợc đa ra để tránh
sự cực đoan trong câu hỏi lỡng cực. Với câu hỏi cờng độ, ngời ta đa ra số khả năng
chọn là 3, 5 hoặc nhiều hơn xoay quanh câu trả lời trung bình.
+ Câu hỏi tuỳ chọn (câu hỏi tuyển): đặc điểm khác cơ bản của câu hỏi này là
các khả năng trả lời không loại trừ lẫn nhau, ngời đợc hỏi có thể chọn một số khả
năng nào đó mà họ cảm thấy phù hợp với họ.
Những câu hỏi loại này thờng đợc sử dụng khá phổ biến vì trên phơng diện
kỹ thuật nó có khá nhiều u điểm nh:
Về phía ngời đợc hỏi, khá thuận tiện cho việc trả lời. Họ chỉ việc lựa chọn
trong số khả năng trả lời đã có sẵn mà không cần suy nghĩ gì thêm.
Về phía ngời sử dụng kết quả, rất tiện cho việc tổng hợp và sử dụng kết quả
một cách rõ ràng.
Tuy nhiên, khi sử dụng loại câu hỏi này cũng gặp phải một chút khó khăn
sau:
Khó khăn đầu tiên là về mặt kỹ thuật và tâm lý: ngời đặt câu hỏi phải tự đặt
vị trí của mình vào vị trí của ngời đợc hỏi.
Khó khăn thứ hai là về mặt nội dung: ngời soạn thảo bảng hỏi phải lờng trớc
tất cả những phơng án trả lời có thể có và các phơng án trả lời muốn nhận đợc từ
ngời đợc hỏi. Đồng thời rất khó để tìm kiếm những vấn đề mới nảy sinh.
Còn một vấn đề nữa mà chúng ta nên lu tâm khi sử dụng loại câu hỏi này là:
Với những câu hỏi loại này, ý kiến trả lời thờng có nguy cơ là thiên về những khả
năng đầu tiên. Điều này có thể do nhiều nguyên nhân nhng thờng là do ngời trả lời
thiếu trách nhiệm, chỉ ngộ nhận những khả năng đầu tiên là quan trọng nhất
- Câu hỏi mở là câu hỏi không có sẵn phơng án trả lời do ngời hỏi nghĩ ra mà
ngợc lại, ngời trả lời sẽ tự nghĩ ra phơng án trả lời. Nh vậy, nó cho phép ngời trả lời
đóng, cần thiết phải cho ngời trả lời tự diễn đạt vấn đề theo ý họ.
+ Trờng hợp khi chỉ cần xử lý tổng hợp theo những phơng án trả lời đã định
sẵn nhng không muốn ngời trả lời rơi vào thế hụt hẫng.
b. Theo biểu hiện của câu hỏi
Tuỳ theo cách hỏi, các câu hỏi đợc biểu diễn dới dạng trực tiếp hoặc gián
tiếp.
- Câu hỏi trực tiếp là cách hỏi thẳng ngay vào nội dung vấn đề, ngời đợc hỏi
không bị câu nệ và có thể trả lời vào chính nội dung đó.
19
- Câu hỏi gián tiếp là cách hỏi khôn khéo, thờng những vấn đề mà xã hội gán
cho nó tính tiêu cực hay những vấn đề tế nhị thì nên hỏi gián tiếp.
Nhìn chung, đối với các nội dung cấm kỵ, nhất là ở các nớc phơng Đông thì
giữa câu hỏi trực tiếp và gián tiếp có thể có kết quả khác nhau.
5. Bảng hỏi ã kỹ thuật xây dựng và các vấn đề có liên quan
5.1. Những nguyên tắc cụ thể của việc xây dựng bảng hỏi
Bảng hỏi không phải đơn thuần là tổng số các câu hỏi riêng rẽ mà cần mang
nhiều ý nghĩa hơn nữa. Nguyên tắc sắp xếp các câu hỏi là nguyên tắc tâm lý chứ
không phải căn cứ theo lôgic nội dung; đồng thời ý nghĩa của mỗi câu hỏi thờng đ-
ợc đánh giá cùng với vị trí của nó trong bảng hỏi. Qua thực tế việc xây dựng bảng
hỏi cần theo những nguyên tắc sau:
Thứ nhất, bảng hỏi phải gợi ý và duy trì sự quan tâm nhiệt tình trả lời của ng-
ời đợc hỏi. Cụ thể phải lu ý một số vấn đề sau:
- Phần đặt vấn đề phải nêu rõ mục đích, ý nghĩa và lợi ích xã hội của việc
phỏng vấn. Phần này cần xúc tích, ngắn gọn và thích hợp với ngời đợc phỏng vấn.
- Đặt câu hỏi đầu tiên là vấn đề quan trọng có tác dụng khởi động sự quan
tâm của ngời đợc hỏi, nếu câu hỏi đầu tiên không hấp dẫn đụng đến những vấn đề
khó trả lời sẽ làm giảm nhiệt tình trả lời.
- Các câu hỏi về các vấn đề riêng t, tế nhị nên xếp vào gần cuối.
- Các câu hỏi đơn điệu nên xé nhỏ và xen kẽ với các câu hỏi khác.
Thứ hai, cần tôn trọng và thúc đẩy lòng tự tin của ngời đợc hỏi. Muốn vậy
- Các câu hỏi nội dung
- Lời cảm ơn: cần ngắn gọn, nhã nhặn để cám ơn ngời trả lời đã bỏ thời gian
và công sức ra để hoàn thành bảng hỏi và có thể hẹn hợp tác trong những lần sau.
5.3. Kỹ thuật câu hỏi trong bảng hỏi
Trong quá trình lập bảng hỏi, việc sắp xếp trình tự câu hỏi sao cho hợp lý là
một vấn đề kỹ thuật rất quan trọng. Kết cấu chung của các câu hỏi trong bảng hỏi
thông thờng theo trình tự sau:
- Câu hỏi tiếp xúc để tạo hứng thú trả lời cho ngời đợc hỏi
- Câu hỏi nội dung nhằm thu thập thông tin cần thiết về những vấn đề cần
nghiên cứu.
- Những câu hỏi xen kẽ, kiểm tra hay câu hỏi tâm lý để làm giảm bớt sự căng
thẳng.
- Kết thúc bằng những câu hỏi gây không khí thoải mái, thân thiện.
21
Các câu hỏi nội dung là các câu hỏi chính trong bảng hỏi nhằm thu thập
thông tin cần thiết về vấn đề nghiên cứu vì vậy trình tự của các câu hỏi này đợc sắp
xếp có hợp lý hay không ảnh hởng rất nhiều đến chất lợng thông tin thu đợc. Theo
Galup, các câu hỏi nội dung có thể đợc triển khai theo lợc đồ sau:
- Câu hỏi thứ nhất thờng là câu hỏi lọc nhằm tìm hiểu xem ngời đợc hỏi có
am hiểu gì về vấn đề nói chung hay không.
- Câu hỏi thứ hai thờng là câu hỏi sự kiện, tri thức của vấn đề để thu nhận
những nội dung cụ thể thờng dùng câu hỏi đóng hay nửa đóng.
- Câu hỏi thứ ba câu hỏi về thái độ để xen ngời đợc hỏi nói chung có thái độ
nh thế nào đối với vấn đề nghiên cứu và thờng là câu hỏi nửa đóng hay câu hỏi mở.
- Câu hỏi thứ t thờng là câu hỏi động cơ để tìm hiểu nguyên nhân của thái độ
nói trên và thờng dùng câu hỏi nửa đóng.
- Câu hỏi thứ năm thờng là câu hỏi cờng độ nhằm tìm hiểu sức mạnh, cờng
độ của quan điểm nói trên và thờng dùng câu hỏi đóng.
II. Các phơng pháp thu thập thông tin
Trong điều tra xã hội học, việc tiến hành thu thập thông tin là một trong
chuÈn
ho¸
Pháng
vÊn
b¸n
tiªu
chuÈn
Pháng
vÊn
tù
do
Pháng
vÊn
s©u
Pháng
vÊn
c¸
nh©n
Pháng
vÊn
nhãm
Pháng
vÊn
®Þnh h
íng
a. Phơng pháp Anket (phỏng vấn viết)
Phơng pháp Anket là phơng pháp trong đó sự tiếp xúc với ngời đợc hỏi đợc
thực hiện thông qua bảng hỏi, ngời đợc hỏi tự điền câu trả lời vào bảng hỏi và vì
vậy những nguyên tắc tâm lý trong sắp xếp bảng hỏi đều hớng vào ngời trả lời. Ph-
ơng pháp Anket có những đặc điểm cơ bản phù hợp với yêu cầu điều tra xã hội học.
- Ngời đợc hỏi có thể tham gia ý kiến với ngời khác: với bảng hỏi đợc phát
thì ngời đợc hỏi có thể tham khảo ý kiến của ngời khác trơc khi trả lời.
- Phơng pháp Anket do không tiếp xúc trực tiếp với ngời trả lời nên không
thể thấy đợc thái độ của ngời trả lời cũng nh không cảm nhận đợc độ tin cậy của
câu trả lời qua thái độ của đối tợng điều tra.
b. Phơng pháp phỏng vấn trực diện
Phơng pháp phỏng vấn trực diện thông thờng đợc hiểu là cuộc nói chuyện
riêng hay trò chuyện có chủ định mà ở đó ngời điều tra trực tiếp tiếp xúc với ngời
đợc điều tra.
Nh vậy, với định nghĩa nh trên ta thấy phỏng vấn trực diện khác với cuộc nói
chuyện thông thờng ở hai điểm: Thứ nhất, mục đích của cuộc nói chuyện này là do
chơng trình nghiên cứu qui định từ trớc. Thứ hai, vai trò của ngời nói chuyện đã đ-
ợc qui định, thậm chí đợc chuẩn hoá. Vì thế, phỏng vấn trực diện còn đợc coi là
cuộc tiếp xúc giả tạo.
Do việc tiếp xúc trực tiếp nh vậy nên phỏng vấn trực diện có nhiều u điểm
mà phơng pháp Anket không có đợc nh:
- Việc tiếp xúc trực tiếp tạo ra những điều kiện đặc biệt để có thể hiểu đối t-
ợng sâu sắc hơn, từ đó làm cho chất lợng thông tin thu đợc thờng có độ chính xác
cao, làm cho ngời nói chuyện có thể hiểu vấn đề một cách đầy đủ, toàn diện, sâu
sắc và sát với thực tế hơn.
- Do tiếp xúc trực tiếp nên có thể kết hợp việc phỏng vấn với quan sát đối t-
ợng từ hình dạng bên ngoài cho đến thay đổi tâm lý thái độ, tình cảm và từ đó có
thể phát hiện ra những sai sót có thể và kịp thời uốn nắn.
- Dễ dàng giải thích cho đối tợng những cau hỏi, những thuật ngữ, những vấn
đề mà ngời ta cha hiểu hoặc hiểu không chính xác, trên cơ sở đó làm cho chất lợng
thông tin tốt hơn.
Tuy nhiên, phơng pháp phỏng vấn trực diện cũng có một số hạn chế cần phải
lu ý nh:
25