hoạt động nhập khẩu máy móc, vật tư và phụ kiện cho các dây chuyền chế biến thực phẩm tại công ty cổ phần cơ điện lạnh eresson - Pdf 10

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Lời mở đầu
Từ đường lối mở cửa cho nền kinh tế được vạch ra tại Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ VI năm 1986 đã làm thay đổi diện mạo của Việt Nam - một nước
nghèo, lạc hậu vừa mới thoát khỏi chiến tranh tàn khốc. Việt Nam giờ đây
đang trở mình, từng bước trên con đường hội nhập vào nền kinh tế thế giới.
Đây chính là điều kiện thiết yếu để Việt Nam tiếp thu khoa học – công nghệ
tiên tiến hiện đại của các quốc gia phát triển nhằm thực hiện mục tiêu công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Rượu – Bia - Nước giải khát trong những năm gần đây được đánh giá là
một ngành công nghiệp phát triển mạnh, có nhiều đóng góp cho nền kinh tế -
xã hội, đặc biệt khi đời sống nhân dân đã được cải thiện về mọi mặt như bây
giờ. Nhưng khó khăn lớn nhất của ngành chính là sự yếu kém về trình độ
khoa học, kỹ thuật. Bởi vậy, các doanh nghiệp trong ngành thường xuyên phải
nhập khẩu các dây chuyền, máy móc và thiết bị của nước ngoài. Tình trạng đó
đòi hỏi ngành phải đưa ra các giải pháp phù hợp để tận dụng tối đa những lợi
ích có được trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới và khu vực của cả nước .
Đây chính là trăn trở của các doanh nghiệp, các chuyên gia trong ngành và
cũng là trăn trở của bản thân em trong thời gian thực tập tại Công ty Đầu tư –
Xây lắp Cơ điện lạnh ERESSON. Xuất phát từ lẽ đó, em mạnh dạn chọn đề
tài: “Hoạt động nhập khẩu máy móc, vật tư và phụ kiện cho các dây
chuyền chế biến thực phẩm tại Công ty Cổ Phần Cơ điện lạnh ERESSON”
làm đề tài cho bài thực tập tốt nghiệp. Với đề tài này, em mong muốn được
trình bày một số vấn đề về tình trạng nhập khẩu của công ty, qua đó em xin
phép đề xuất một số giải pháp đối với công ty cũng như kiến nghị đối với Nhà
nước, các cơ quan chức năng nhằm cải thiện hoạt động này.
Đào Thị Kim Nhung 1 TMQT 44
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Bố cục của bài chuyên đề thực tập tốt nghiệp được chia làm 3 chương:
Chương I: Những vấn đề cơ bản về hoạt động nhập khẩu máy móc, vật tư và
phụ kiện cho các dây chuyền chế biến thực phẩm.

được phân loại khá phức tạp. Trong một nhóm hàng có rất nhiều loại với các
thống số kỹ thuật khác nhau. Ví dụ, trong nhóm vật tư bao gồm: Inox, thép,
đáy giả…, trong đó vật tư Inox bao gồm các loại: AISI 304, AISI 316, AISI
316L… được quy định về tỷ lệ chất cấu thành, thông số và kiểu dáng kỹ thuật
khác nhau. Không như các sản phẩm thô lấy từ thiên nhiên( thủy sản, các sản
Đào Thị Kim Nhung 3 TMQT 44
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
phẩm nông nghiệp, …), chúng đều là loại sản phẩm chứa yếu tố công nghệ rất
cao, là kết quả sau bao nhiêu năm nghiên cứu và thử nghiệm thành công của
nhiều nhà khoa học trên thế giới.
Thứ hai: các loại hàng máy móc, vật tư và phụ kiện cho các dây chuyền
chế biến thực phẩm rất phù hợp với phương thức vận tải biển.
Hoạt động nhập khẩu máy móc, vật tư và phụ kiện cho các dây chuyền
chế biến thực phẩm thường thực hiện trong một khoảng thời gian khá dài( 8-
14 tuần). Hơn thế nữa, hàng hóa lại không nhạy cảm với thời tiết, đa số chúng
được nhập từ Đức và Thụy Điển, do vậy nếu nhập hàng về bằng đường biển
sẽ giảm được chi phí so với các phương thức vận tải khác mà vẫn đảm bảo
chất lượng của hàng.
Thứ ba: nhà cung cấp chính của các loại hàng máy móc, vật tư và phụ
kiện cho các dây chuyền chế biến thực phẩm là các hãng sản xuất nổi tiếng ở
Đức như: Huppmann, Lindermann, Neumo, GEA, APV, Alfa Laval, …Đặc
biệt, Đức là quốc gia nổi tiếng về các dây chuyền thiết bị sản xuất đồ uống,
công nghệ nấu bia ở Đức đã trở thành truyền thống từ bao đời nay. Do vậy,
Đức có thể gọi là nơi cung cấp các dây chuyền công nghệ và thiết bị nguồn
trong ngành công nghiệp thực phẩm.
Thứ tư: nhập khẩu các loại hàng máy móc, vật tư và phụ kiện cho các
dây chuyền chế biến thực phẩm thường phải ký các hợp đồng nội trước. Điều
này là bởi vì chúng thường phục vụ cho một dự án, công trình nhất định và có
giá trị khá lớn. Hiện nay, ở nước ta vẫn chưa có doanh nghiệp nào trong
ngành có đủ năng lực để có nhập máy móc, vật tư và phụ kiện để thực hiện

Nhưng có một thực tế là, mặt bằng về trình độ công nghệ sản xuất và
thiết bị trong ngành còn lạc hậu, hiện còn thấp hơn so với các nước phát triển
trong khu vực. Đó là chưa kể đến những bài toán bất cập sau đầu tư. Chẳng
hạn, nhiều doanh nghiệp còn đầu tư một cách dàn trải, thiếu tính toán nếu
không muốn nói là chưa biết cách đầu tư một cách đúng đắn, phù hợp, đã gây
ra tình trạng lãng phí, thất thu khiến sản xuất – kinh doanh của các doanh
nghiệp này kém hiệu quả. Chi phí sản xuất cao, sản phẩm tạo ra lại không
đảm bảo chất lượng nên doanh số bán ra và tỷ suất lợi nhuận trên một đồng
Đào Thị Kim Nhung 5 TMQT 44
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
chi phí rất thấp. Không những thế, theo đánh giá của các chuyên gia đầu
ngành, chất lượng đồ uống do các cơ sở bia địa phương, tư nhân, cổ phần sản
xuất thường không ổn định, nhiều khi không đảm bảo chất lượng, hàm lượng
độc tố cao, ảnh hưởng xấu đến hình ảnh và uy tín của ngành Rượu – Bia -
Nước giải khát và sức khỏe người tiêu dùng.
Cho đến nay, trong nước có ít doanh nghiệp có thể đủ năng lực để tự đầu
tư, đổi mới máy móc, thiết bị sản xuất sản phẩm đồ uống. Các doanh nghiệp
còn lại phải đi tìm một hướng đi khác. Một số doanh nghiệp lựa chọn hình
thức liên doanh với nước ngoài để tận dụng nguồn vốn và công nghệ, kỹ thuật
hiện đại của các hãng nổi tiếng như: công ty Bia Đông Á, công ty Liên doanh
Bia Việt Nam, công ty Nước giải khát Quốc tế IBC, …Nắm bắt tình hình đó,
một số doanh nghiệp chuyên đầu tư, xây lắp đã mạnh dạn mua máy móc, thiết
bị, linh kiện của nước ngoài về để tiến hành thi công, lắp đặt trong nước như:
công ty Cơ nhiệt điện lạnh Bách Khoa POLYCO, công ty Đầu tư Xây lắp Cơ
Điện lạnh ERESSON, công ty TNHH phát triển Công nghệ Việt Pháp, …
Bởi vậy, hơn bao giờ hết, nhập khẩu các máy móc, vật tư và phụ kiện
cho các dây chuyền chế biến thực phẩm là nhu cầu thiết yếu cho sản xuất
trong nước, thậm chí là điều không thể nào tránh khỏi cho sự phát triển.
2.2. Vai trò của nhập khẩu máy móc, vật tư và phụ kiện cho các dây
chuyền chế biến thực phẩm

sản phẩm có chất lượng tốt, nâng cao đời sống tinh thần và vật chất của người
dân. Thay vì dùng đồ uống nhập ngoại như trước, giờ đây người dân đã có thể
lựa chọn cho mình những loại đồ uống phù hợp, có chất lượng cao được sản
xuất trong nước. Do đó, nó làm giảm nhập khẩu đồ uống của các hãng nước
ngoài và làm giảm sức cạnh tranh của hàng nhái nhãn mác và hàng nhập lậu.
Đặc biệt hơn nữa, hoạt động này còn đóng góp vào việc bổ sung kịp thời
những mặt mất cân đối của nền kinh tế .
Thứ nhất: gián tiếp và trực tiếp tạo công ăn việc làm cho rất nhiều lao
động đã giảm bớt mất cân đối trong cơ cấu đào tạo và việc làm - một trong
những vấn đề trọng yếu và tháo gỡ của các cơ quan chức năng.
Đào Thị Kim Nhung 7 TMQT 44
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Thứ hai: nó góp phần đẩy mạnh xuất khẩu cho đất nước, đồng thời cải
thiện sự mất cân đối trong cán cân mậu dịch( cán cân xuất nhập khẩu). Từ chỗ
sản phẩm sản xuất ra chủ yếu được tiêu thụ trong nước, giá trị kim ngạch xuất
khẩu không đáng kể, cho đến nay, sản phẩm Rượu – Bia - Nước giải khát đã
đang từng bước tiếp cận thị trường thế giới với kim ngạch xuất khẩu bình
quân đạt khoảng 7 triệu USD/năm( theo thống kê của hiệp hội Rượu – Bia -
Nước giải khát Việt Nam). Đối với tình trạng liên tục nhập siêu như hiện nay,
thành công đó cũng rất đáng ghi nhận.
Trang thiết bị hiện đại, công nghệ tiên tiến đã thực sự tạo bước đột phá
cho Ngành Rượu – Bia - Nước giải khát Việt Nam nói chung, cho bản thân
doanh nghiệp nói riêng. Theo báo cáo của Bộ Công nghiệp, mức tăng trưởng
bình quân toàn ngành đạt 10%/năm. Năm 2003, công suất bia của cả nước đạt
1,29 tỷ lít, đến năm 2004 đã vượt lên 1,37 tỷ lít, sản lượng nước giải khát tăng
bình quân trong khoảng 10 năm trở lại đây là 25,8%/năm, sản lượng rượu
tăng nhẹ và có xu hướng chậm lại nhưng chất lượng rượu đảm bảo hơn.
Xét riêng về bản thân các doanh nghiệp sản xuất Rượu – Bia - Nước giải
khát, nhờ mạnh dạn đầu tư ứng dụng các công nghệ tiên tiến được nhập từ các
hãng sản xuất nổi tiếng trên thế giới đã thực sự có được sức sống mới và các

trong nước, phát hành trái phiếu, cổ phiếu, đẩy mạnh việc cổ phần hóa đối với
những doanh nghiệp nhà nước không cần nắm giữ 100% vốn
3. Các chỉ tiêu chủ yếu để phát triển ngành Rượu – Bia - Nước giải
khát Việt Nam đến năm 2010
Đào Thị Kim Nhung 9 TMQT 44
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Bảng 2: Mục tiêu của “Quy hoạch tổng thể phát triển Ngành Rượu – Bia
- Nước giải khát Việt Nam đến năm 2010”
Stt Chỉ tiêu Đơn vị
Năm 2002 Năm 2005 Chênh lệch
các mục
tiêu đến
năm 2010
Mục tiêu
đến
Mục tiêu được
điều chỉnh lại
đến năm 2010
Năm
200
5
Năm
2010
1 Bia Triệu lít 120
0
1500 2500 1000
2 Rượu Triệu lít 250 300 120 -180
3 Nước giải khát Triệu lít 800 1100 1500 400
4 Tổng Triệu lít 225
0

hoặc tăng năng lực sản xuất của các cơ sở hiện có
b. Về rượu:
- Tổng công ty Rượu – Bia - Nước giải khát Việt Nam giữ vai trò chủ chốt
trong sản xuất các loại rượu đặc sản truyền thống, rượu chất lượng cao để đáp
ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu, có biện pháp thích hợp nhằm giảm dần
rượu nấu bằng phương pháp thủ công
- Tăng cường quản lý nhà nước trong sản xuất và tiêu thụ rượu
- Tập trung đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ, đẩy mạnh sản xuất rượu công
nghiệp chất lượng cao, giảm tối đa thành phần độc hại
- Đề xuất việc hợp tác hoặc liên doanh với nước ngoài sản xuất một số loại
rượu chất lượng cao sản phẩm các loại nguyên liệu trong nước, nhằm thay thế
nhập khẩu
- Trong giai đoạn 2001-2005, công ty Rượu Hà Nội, công ty Rượu Bình Tây
tiến hành đầu tư mới công nghệ và thiết bị, để mỗi công ty đạt công suất: cồn
tinh bột 5 triệu lít/năm, rượu các loại 10 triệu lít/năm và tăng năng suất lên
gấp đôi ở giai đoạn sau
c. Về nước giải khát:
Tổng công ty Rượu – Bia - Nước giải khát Việt Nam giữ vai trò chủ chốt
trong việc nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm, đồng thời khuyến
khích các thành phần kinh tế tham gia sản xuất nước giải khát từ nguyên liệu
trong nước, trong đó ưu tiên năng lực sản xuất nước quả, không đầu tư năng
lực sản xuất nước giải khát có gaz pha chế từ hương liệu nhập khẩu
Những nhân tố trên bước đầu cho phép chúng ta đưa ra nhận định rằng:
trong tương lai gần, xu hướng của ngành Rượu – Bia - Nước giải khát đang và
Đào Thị Kim Nhung 11 TMQT 44
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
sẽ phát triển theo hướng đem lại hiệu quả cao về kinh tế - xã hội, đảm bảo sức
khỏe cho con người và vệ sinh môi trường. Vì thế, khoa học – công nghệ sẽ
đóng vai trò quan trọng, quyết định không nhỏ tới cuộc chiến về chất lượng,
mẫu mã, chủng loại và giá cả sản xuất. Nếu nhận định này là đúng thì nhu cầu

có khoảng gần 770 đơn vị. Trong đó, riêng ngành sản xuất bia có 469 cơ sở
sản xuất, đặc biệt sự xuất hiện của hàng loạt các hãng lớn trên thế giới ở Việt
Nam như: Heineken, Tiger, Carberg, San Miguel, TuBorg… và rượu ngoại
Đào Thị Kim Nhung 13 TMQT 44
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
nhập tràn lan đã khiến sự cạnh tranh trên thị trường Đồ uống Việt Nam ngày
càng gay gắt và quyết liệt.
Nắm bắt thực tế đó, ban lãnh đạo và đội ngũ kỹ thuật của công ty đã
ngày đêm trăn trở, nghiên cứu, tìm hướng đi đúng đắn và các giải pháp để đưa
ra thị trường các sản phẩm đáp ứng yêu cầu của khách hàng. Lúc đó, toàn thể
cán bộ công nhân viên công ty đã xác định giải pháp đưa ra thương hiệu
ERESSON chiếm lĩnh thị trường trong nước và hướng tới xuất khẩu với mục
tiêu kinh doanh là: “Bán những sản phẩm mà khách hàng cần, chứ không
phải những thứ mà mình có, thuyết phục khách hàng làm theo giá của
mình chứ không làm theo giá của khách hàng”.
Để đạt được điều đó, công ty đã mạnh dạn huy động vốn từ toàn thể cán
bộ công nhân viên và vay vốn từ bên ngoài để đầu tư xây dựng nhà xưởng và
mua sắm trang thiết bị, máy móc mới phục vụ cho sản xuất với số đầu tư lên
đến 15 tỷ đồng. Nhờ mạnh dạn cả trong suy nghĩ và hành động, nên chỉ sau
thời gian ngắn, ERESSON đã nhanh chóng có được những sản phẩm đặc
chủng, đa dạng và chất lượng cao. Nhờ đó, doanh thu của công ty không
ngừng tăng qua các năm.
Tuy nhiên, sự phát triển nhanh của ngành Rượu – Bia - Nước giải khát
Việt Nam về cả chất lẫn lượng(mức tăng trưởng bình quân hiện đạt hơn
10%/năm), nhưng lĩnh vực công nghệ chế tạo thiết bị cho ngành này trên khắp
cả nước chỉ chưa đầy 10 đơn vị. Các đơn vị trong ngành có khả năng sản xuất
được sản phẩm có chất lượng cao còn hạn chế. Phần lớn các đơn vị sản xuất
trong ngành đồ uống đều phải nhập máy móc thiết bị từ nước ngoài. Với bản
thân ERESSON, mặc dù đã “chịu khó” đầu tư trang thiết bị cũng như các
công nghệ mới nhưng cũng không nằm ngoài trường hợp đó. Bởi vậy, một lần

S¬ ®å tæ chøc c«ng ty
Đào Thị Kim Nhung 15 TMQT 44
Chuyờn thc tp tt nghip
Hình 1: Sơ đồ tổ chức công ty Cổ Phần
Cơ điện lạnh ERESSON
Nguồn: Phòng Kế hoạch Tổng hợp của công ty ERESSON
Ghi chú:
Quan hệ quản lý điều hành
Quan hệ phối hợp
o Th Kim Nhung 16 TMQT 44
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
3. Lĩnh vực kinh doanh
Công ty ERESSON có chức năng khảo sát, thiết kế, cung cấp, chế tạo,
lắp đặt, tư vấn kỹ thuật và chuyển giao công nghệ thuộc các lĩnh vực:
Thiết bị chế biến thực phẩm( bia, sữa, rượu, nước hoa quả,…).
Điện lạnh và điều hòa không khí( hệ thống lạnh, đông lạnh, hệ thống
điều hòa và thông gió,…).
Lò hơi và thiết bị áp lực( lò hơi đốt dầu, lò hơi đốt than, các loại hình
chứa áp lực,…), điện, đo lường và tự động hóa.
Xuất khẩu các mặt hàng inox( inox tấm, cuốn, ống,…), phụ kiện
inox( bơm, van, tê, cút, bu lông, ốc vít,…), các loại máy chiết…
Hoạt động xuất nhập khẩu không được gắn liền ngay với công ty trong
những năm đầu khi mới thành lập. Điều này cũng bởi vì lúc đó quy mô và
hoạt động của công ty còn quá nhỏ bé. Sau năm 1992, sự nhận thức rõ về tình
hình mới, công ty đã mạnh dạn đầu tư và mở rộng thêm hoạt động xuất nhập
khẩu.
Tuy nhiên cho đến nay, hoạt động xuất khẩu của công ty vẫn chưa có
bước đột phá. Phần lớn công ty thường tiến hành nhập khẩu các máy móc,
thiết bị kỹ thuật để phục vụ cho các công trình xây lắp trong nước. Xét trong
cơ cấu xuất - nhập khẩu của công ty 5 năm trở lại đây, xuất khẩu của công ty

Hệ thống chứa, xử lý và chuyển malt và gạo công suất đến 40 tấn/h: gồm
các phễu chứa liệu, các loại gàu tải, vít tải, các loại máy nghiền malt và gạo,

Đào Thị Kim Nhung 18 TMQT 44
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Hệ thống nấu bia công suất đến 60m
3
/mẻ, 10:12 mẻ/ngày gồm các nồi hồ
hóa, nồi đường hóa, nồi lọc bã, nồi húp lông hóa, thùng lắng xoáy, thùng chứa
bã malt,…
Hệ thống nước nóng lạnh các thùng chứa đến 500m
3
/cái, gồm các thùng
chứa nước 30
0
C, thùng chứa nước 80
o
C, thùng chứa nước 2
0
C,…
Hệ thống các tank lên men dung tích đến 600m
3
/tank, các tank chứa bia
thành phẩm đến 600m
3
/tank, hệ thống gây rửa men và bảo quản men,…
Hệ thống CIP cho thiết bị nấu, lên men, thành phẩm, men và chiết chai.
Hệ thống lọc trong bia đến 10m
3
/h gồm kiểu khung bản, kiểu đĩa và kiểu

hoặc 03 nồi nấu và sản phẩm thì khá đa dạng(bia vàng, bia đen, bia nâu, bia
đỏ, bia hoa quả,…).
Trong lĩnh vực sản xuất rượu
Thiết kế, chế tạo và lắp đặt các nồi nấu rượu, các tank lên men rượu cho
các nhà máy rượu công suất đến 20 triệu lít/năm.
Trong lĩnh vực sản xuất sữa
Thiết kế, chế tạo và lắp đặt các thùng hòa trộn, tank ủ men, tank ủ men
cái, tank chứa trung gian và tank chờ rót sữa, hệ thống lạnh, lò hơi,… cho các
nhà may sản xuất sữa công suất đến 20.000 lít/h.
Trong lĩnh vực sản xuất nước hoa quả:
Thiết kế, chế tạo và lắp đặt các thùng hòa trộn, tank chứa trung gian và
tank chờ rót hoa quả,… cho các nhà máy sản xuất nước hoa quả như các nhà
máy sản xuất rứa cô đặc, cà chua cô đặc, nước ngọt,…
5.2. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2004
Mã số Chỉ tiêu Kỳ này
01 Tổng doanh thu 26 373 604 640
03 Các khoản giảm trừ(03=05+06+07) 81 500 000
05 Giảm giá 81 500 000
06 Hàng bán bị trả lại
07 Thuế TTĐB, thuế XNK phải nộp
10 1. Doanh thu thuần(10=01-03) 26 292 104 640
11 2. Giá vốn hàng bán 21 199 723 312
20 3. Lợi nhuận gộp(20=10-11) 5 092 381 328
21 4. Chi phí bán hàng
21A Chi phí bán hàng
21B Chi phí chờ kết chuyển kỳ trước
22 5. Chi phí quản lý doanh nghiệp 3 103 681 936
22A Trong đó: chi phí QLDN chờ kết chuyển kỳ trước 442 220 445
30 6. Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh(=20-22) 1 988 699 392
31 7. Thu nhập hoạt động tài chính 15 526 040

cấp mới thì phải đánh giá dựa trên các tiêu chí: khả năng cung ứng, chất
lượng, mẫu mã hàng hóa, điều kiện giao hàng, thanh toán, giá cả…
Các công tác nghiên cứu trên chủ yếu thông qua mạng internet, sách báo
và tạp chí chuyên ngành, hội trợ triển lãm.
1.2. Thực hiện các bước giao dịch, đàm phán và ký kết hợp đồng
Đối với các hợp đồng có giá trị nhỏ hoặc đối tác là nhà cung cấp đã quen
thuộc thì việc giao dịch đàm phán diễn ra gián tiếp, các bước cụ thể:
1) Hỏi hàng: đây là việc yêu cầu người bán cung cấp các thông tin về
hàng hóa
Đào Thị Kim Nhung 21 TMQT 44
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
và các điều kiện để mua hàng. Việc này thường được tiến hành băng
email, fax là chủ yếu.
2) Lấy báo giá từ nhà cung cấp.
3) Lấy mẫu(nếu cần).
4) Chấp nhận báo giá: nếu đồng ý với các điều kiện của nhà cung cấp
dựa trên các thông tin của báo giá.
5) Hoàn giá( trả giá): trong trường hợp cần thay đổi nội dung của các
điều kiện thì tiến hành trả giá.
Đối với những hợp đồng có trị giá lớn( từ 300.000 USD trở lên) thì công
ty mới thực hiện đàm phán trực tiếp. Do số lượng các hợp đồng có giá trị lớn
không nhiều và người cung cấp thường là chỗ quen biết từ lâu nên hình thức
gián tiếp vẫn thông dụng hơn cả.
Sau khi hai bên đã đi đến thống nhất về các điều kiện mua bán hàng hóa
sẽ lập văn bản thỏa thuận(hợp đồng) chia làm 4-6 bản, mỗi bên giữ 2-3 bản.
Một hợp đồng mua bán máy móc, vật tư và phụ kiện cho các dây chuyền
chế biến thực phẩm thường có những điều khoản sau:
•Các điều khoản cơ bản:
1) Tên hàng: VD: Bơm vít xoắn NEMO.
2) Số lượng: đơn vị thông thường là “bộ”, “cái” hoặc “chiếc”.

Ngân hàng Nông Nghiệp Việt Nam – Chi nhánh Ngân hàng Nông Nghiệp Hà
Nội) mở một thư tín dụng cho người bán nước ngoài hưởng phù hợp với các
điều kiện mà hợp đồng đã quy định. Để được ngân hàng chấp nhận, công ty
phải làm đơn xin mở L/C, giấy cam kết thanh toán và lập hợp đồng mua ngoại
tệ(ủy nhiệm chi).
2.2. Đôn đốc người bán giao hàng
Công ty thường xuyên liên lạc với người bán để biết các thông tin về
việc giao hàng bằng email, fax và điện thoại.
Đào Thị Kim Nhung 23 TMQT 44
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
2.3. Thuê phương tiện vận tải
Công việc thuê phương tiện vận tải thường tiến hành trong trường hợp
theo hợp đồng mua bán công ty phải có nghĩa vụ đó. Thực tế cho thấy, chỉ có
hợp đồng nhập khẩu theo các điều kiện FCA, FOB( chiếm 11%) thì công ty
mới thực hiện nghĩa vụ trên.
2.4. Mua bảo hiểm
Công ty cũng ít khi tiến hành mua bảo hiểm vì 87,9% hợp đồng là hợp
đồng nhập khẩu theo giá CIP và CIF. Tất cả những lần nhập khẩu theo điều
kiện FOB và FCA công ty đều mua bảo hiểm cho hàng hóa tại công ty Bảo
Việt.
2.5. Thanh toán tiền hàng
Tùy vào phương thức thanh toán đã quy định trong hợp đồng, công ty sẽ
thực hiện nghĩa vụ thanh toán của mình theo cách riêng.
Ví dụ, trong phương thức thanh toán bằng L/C: khi được ngân hàng
chuyển bộ chứng từ, nếu thấy phù hợp với các điều khoản ghi trong hợp đồng,
công ty sẽ trả lời trong vòng 2 ngày nhằm đề nghị ngân hàng phát hành trích
từ tài khoản của mình thanh toán tiền hàng cho nhà xuất khẩu.
2.6. Làm thủ tục hải quan và nộp thuế nhập khẩu cho hàng hóa
Ở khâu này công ty thường lần lượt tiến hành các bước sau:
Mở tờ khai hải quan và nộp hồ sơ để đăng ký làm thủ tục hải quan.

định. Đồng thời, công ty thông báo cho người bán nước ngoài biết.
2.9. Khiếu nại
Đối với trường hợp nhận được hàng hóa không đúng quy cách phẩm chất
như hợp đồng quy định, công ty sẽ lập một bộ hồ sơ khiếu nại( bộ gốc) gửi
cho người bán, 2 bộ sao gửi cho công ty bảo hiểm và công ty vận tải.
Cách giải quyết thông thường cảu công ty là buộc người bán giảm giá
hàng hoặc phạt người bán bằng một số tiền nhất định.
Đào Thị Kim Nhung 25 TMQT 44

Trích đoạn Một số dự bỏo cho hoạt động nhập khẩu mỏy múc, vật tư và phụ kiện cho cỏc dõy Cỏc giải phỏp cho doanh nghiệp Tạo điều kiện thuận lợi cho cỏc doanh nghiệp sản xuất thiết bị, phụ kiện trong
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status