LỜI NÓI ĐẦU
Trước đây khi nhắc tới hệ thống kế hoạch hoá trong phát triển các
ngành kinh tế quốc dân chúng ta thường bắt gặp nhiều cụm từ: chiến lược
phát triển ngành, kế hoạch phát triển ngành mà ít khi thấy các ngành lập
qui hoạch phát triển cho riêng ngành. Sở dĩ là vì qui hoạch gắn với bố trí
sắp xếp nên nó phù hợp hơn với hệ thông kế hoạch hoá phát triển cho các
vùng, các khu đô thị. Tuy nhiên đã có một thực tế đáng buồn xảy ra với các
ngành kinh tế quốc dân đặc biệt là các ngành khai thác tài nguyên thiên
nhiên đó là việc phát triển một cách tự phát các cơ sở sản xuất không tuân
theo bất cứ một khuôn khổ nào, dẫn tới các ngành rất khó kiểm soát và
không thể phát triển theo đúng kế hoạch đã đặt ra. Việc này gây ra những
rắc rối trong quản lý ngành gây lãng phí mất mát lớn, không đạt hiệu quả trong đầu
tư.
Trong khoảng 5-10 năm trở lại đây các ngành đã chú trọng hơn tới
công tác xây dựng qui hoạch phát triển cho mình (ngành điện, ngành than,
ngành xi măng ). Xây dựng qui hoạch là một nội dung khó do nó đòi hỏi
phải phân tích tỷ mỉ các điều kiện phát triển ngành ở các vùng, sự liên kết
phát triển ngành giữa các vùng và sự hợp tác giữa các ngành trong vùng.
Tuy nhiên nếu có được một bản qui hoạch tốt sẽ tạo điều kiện rất thuận lợi
cho các ngành phát triển nhanh và bền vững.
Qui hoạch ngành là một nội dung lớn trong hệ thống kế hoạch hoá
phát triển kinh tế xã hội. Trong quá trình thực tập tại công ty Cổ phần Tư
vấn Đầu tư Mỏ và Công nghiệp, em có điều kiện được tìm hiểu về qui trình
lập qui hoạch phát triển ngành than Việt Nam. Chính vì vậy em đã quyết
định lựa chọn để tài thực tập chuyên ngành là: Qui hoạch phát triển ngành
than Việt Nam giai đoạn 2006-2015.
Em xin chân thành cảm ơn các cô chú trong phòng Kế hoạch của công
ty Cổ phần Tư vấn Đầu tư Mỏ và Công nghiệp và TS Vũ Thị Ngọc Phùng,
giảng viên trường đại học Kinh tế quốc dân đã hướng dẫn và giúp đỡ em
hoàn thành đề tài thực tập này
1
hoạch ngành và qui hoạch vùng lãnh thổ.
Qui hoạch tổng thể là xác định và lựa chọn mục tiêu cuối cùng, tìm
những giải pháp để thực hiện mục tiêu. Qui hoạch cũng như chiến lược, xét
cho cùng vẫn là định hướng. Tuy vậy, một trong những khâu quan trọng
nhất của qui hoạch là luận chứng về tính tất yếu, hợp lý cho sự phát triển và
tổ chức không gian kinh tế - xã hội dài hạn dựa trên sự bố trí hợp lý bền
vững kết cấu hạ tầng vất chất kĩ thuật phù hợp với những điều kiện tự
nhiên, kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái. Trong xây dựng qui hoạch
phải đi vào luận chứng ở mức cần thiêt từ khâu điều tra, phân tích đến tính
toán chứng minh, so sánh các phương án, các giải pháp, xem xét moi yếu tố
tự nhiên, kinh tế, chính trị, xã hội, môi trường, an ninh quốc phòng, đi từ
tổng quát đến cụ thể và ngược lại, cần chú ý sự phù hợp cả không gian lãnh
thổ và thời gian cụ thể.
Trên cơ sở khung qui hoạch tổng thể và chiến lược phát triển, các
ngành sẽ xây dựng qui hoạch phát triển của ngành mình. Các tiềm năng
phát triển sẽ được đánh giá chuẩn xác hơn và cụ thể hơn, đồng thời trên
một mức độ nào đó sẽ lượng hoá các nguồn lực phát triển có thể khai thác
từ các nguồn tiềm năng, thiết lập cơ cấu phát triển ngành, làm cơ sở xây
dựng các chương trình, dự án chính sách thực hiện các mục tiêu của ngành.
Như vậy, qui hoạch ngành là dự kiến phân bố các cơ sở sản xuất của
ngành trong phạm vi lãnh thổ toàn quốc trên cơ sở dự báo nhu cầu về sản
phẩm của ngành, điều kiện tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý của vùng để
tạo ra một cơ cấu ngành hợp lý và hiệu quả. Về ý nghĩa, qui hoạch ngành
sẽ là căn cứ để xây dựng qui hoạch vùng, là công cụ để quản lý( theo dõi,
kiểm tra) ngành.
Qui hoạch tổng thể vùng là những luận chứng khoa học về bố trí sản
xuất phục vụ đời sống, sản xuất của dân cư trên phạm vi lãnh thổ của một
vùng. Nó tổng hợp qui hoạch của các ngành, xác định mục tiêu phát triển
3
của vùng dựa trên đánh giá thực trạng kinh tế, thực trạng qui hoạch trong
chung về tiềm năng và khả năng phát triển ngành ( nhanh, trung bình, yếu),
xác định vai trò của ngành trong hệ thống kinh tế, vai trò thu hút lao động
của ngành, khả năng hiện đại hoá công nghệ ( tiên tiến, trung bình, lạc
hậu)
b) Đánh giá các nhân tố đầu vào cho phát triển ngành
Những nhân tố đầu vào cho phát triển ngành gồm: điều kiện tự nhiên,
nguyên liệu, cung cấp điện, nước, lao động. Cần đánh giá mức độ ảnh
hưởng của các yếu tố đầu vào đối với sự phát triển của ngành. Từ đó đưa ra
được các kết luận cụ thể: Mức độ ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên đến
phát triển ngành (là thuận lợi hay khó khăn); khả năng cung cấp nguyên
liệu cho sản xuất ngành ( bao gồm cả nguyên liệu từ khoáng sản và nguyên
liệu nông lâm ngư nghiệp) là dồi dào hay khan hiếm; đánh giá nguồn vốn
đầu tư, lao động lành nghề cung cấp cho ngành là nhiều hay ít.
c) Phân tích ảnh hưởng của bối cảnh thế giới đến phát triển ngành
Đánh giá mức độ ảnh hưởng của bối cảnh quốc tế đến sự phát triển
của ngành phải quan tâm đến những vấn đề: Ý kiến của các chuyên gia
chuyên ngành; quan điểm của các chuyên gia kinh tế đánh giá chung về
ngành;khảo sát các số liệu cơ bản theo các chỉ tiêu chủ yếu về hoạt động
của ngành trên phạm vi thế giới và khu vực; xếp hạng mức độ cạnh tranh
của sản phẩm. Từ đó rút ra được các nhận định cơ bản về tình hình phát
triển của ngành trên thế giới (nhanh/ chậm), xu thế phát triển của ngành
trên thế giới và khu vực( then chốt/ bình thường), tình hình cạnh tranh sản
phẩm của ngành trên thế giới và trong nước tác động đến phát triển ngành
trong tương lai là mạnh/ trung bình hay yếu.
d) Đánh giá chung về thuận lợi, khó khăn và hướng khai thác
Tổng hợp các phân tích trên để đưa ra những kết luận chính:
5
- Những thuận lợi, khó khăn của ngành ( cơ hội và thách thức).
- Hướng khai thác trong tương lai ( phát triển hay không phát triển).
2.2. Đánh giá hiện trạng qui hoạch phát triển ngành
sự chuyển dịch sự đóng góp đó qua các năm của ngành. Thông qua các chỉ
tiêu tính toán: tỷ trọng GTSX, GDP của ngành trong tổng GTSX, GDP cả
nền kinh tế; cơ cấu GTSX, GDP, vốn đầu tư, lao động theo các sản phẩm
hoặc theo các phân ngành, theo các mốc thời gian; đánh giá và phân tích
kết quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành. Từ đó đưa ra các nhận định
chính về qui mô sản xuất ngành trong nền kinh tế, cơ cấu các phân ngành,
so sánh cơ cấu qua các mốc để đưa ra kết luận về hướng chuyển dịch cơ
cấu ngành.
b) Đánh giá hiện trạng ngành
- Đánh giá trình độ và khả năng phát triển khoa học - công nghệ của
ngành: Đối với các ngành sản xuất công nghệ đóng vai trò quyết định trong
quá trình phát triển. Trong điều kiện hội nhập toàn cầu đổi mới công nghệ
mang lại khả năng cạnh tranh cao. Đánh giá mức độ hiện đại hoá công nghệ
cho ngành sẽ được tính toán từ các chỉ tiêu: thống kê trang thiết bị theo các
thế hệ công nghệ ( cũ/mới); tỷ lệ trang bị hiện đại/đơn vị sản phẩm; tỷ lệ
trang bị hiện đại/GTSX ngành; tình hình nghiên cứu và triển khai (R&D)
của ngành. Từ đó đưa ra những kết luận cơ bản đánh giá mức độ hiện đại
hoá của ngành, trình độ trang bị công nghệ mới, khả năng đổi mới công
nghệ cho ngành.
- Đánh giá về hoạt động đầu tư cho phát triển ngành: Sử dụng các chỉ
tiêu: Tổng số vốn đầu tư và cơ cấu đầu tư cho ngành qua các năm theo các
phân ngành; tốc độ tăng vốn đầu tư cho ngành qua các năm; cơ cấu vốn đầu
tư theo các sản phẩm hoặc theo các phân ngành ( vốn đầu tư theo nguồn
cung cấp, trong nước- nước ngoài, nhà nước và ngoài quốc doanh ); suất
đầu tư ( vốn đầu tư/ GTSX); khả năng thu hút nguồn vốn đầu tư trong
7
ngành; hệ số ICOR theo các năm và theo sản phẩm hoặc phân ngành. Để
đưa ra được các kết luận về qui mô đầu tư, cơ cấu đầu tư theo ngành, theo
nguồn, hiệu quả đầu tư.
- Nguồn nhân lực cho ngành: Thống kê số lao động, phân loại trình độ
báo khả năng cung cấp các yếu tố đầu vào cho phát triển ngành như
nguyên, nhiên, vật liệu, điện nước, ; Dự báo về khả năng đổi mới công
nghệ của ngành; Dự báo nhu cầu và khả năng cung cấp vốn đầu tư; Dự báo
về nhu cầu và khả năng cung cấp lao động theo các trình độ đào tạo. Dựa
vào các dự báo này làm căn cứ để đưa ra định hướng qui hoạch phát triển
đảm bảo tính cân đối trong qui hoạch phát triển ngành
Trong phần này phải đưa ra được quan điểm và mục tiêu phát triển
ngành trong thời kì qui hoạch. Ngoài những quan điểm, mục tiêu có tính
chất định hướng của phát triển kinh tế nói chung cần nêu ra những quan
điểm, mục tiêu thật cụ thể đối với ngành tuỳ thuộc vào vị trí, đặc thù và bối
cảnh lịch sử của ngành. Nội dung quan điểm phát triển của ngành phải phù
hợp với quan điểm phát triển của toàn bộ nền kinh tế quốc dân, thể hiện sự
lựa chọn những vấn đề ưu tiên cho ngành, quan điểm hội nhập trong cơ chế
thị trường. Đối với mục tiêu còn tuỳ thuộc vào từng ngành cụ thể, song cần
thể hiện được sự phát triển bền vững, trước tiên là mục tiêu hiệu quả, mục
tiêu đáp ứng những nhu cầu xã hội và đảm bảo ổn định môi trường. Những
mục tiêu cụ thể bao gồm các chỉ tiêu về số lượng về tốc độ tăng trưởng,
doanh thu, xuất khẩu, lao động, đầu tư, của ngành
Phải đưa ra phương hướng phát triển ngành theo các tiêu chí chung và
các sản phẩm đặc biệt chú ý đến các sản phẩm chủ lực. Nêu được hướng đi
và các chỉ tiêu định lượng theo hướng đi ra của ngành, tìm kiếm thị trường
cho các sản phẩm.
Cuối cùng là đưa ra luận chứng về các phương án qui hoạch phát triển
cho ngành. Các phương án phát triển cần phải thể hiện được khả năng phát
triển theo hướng hiện đại hoá trong điều kiện hội nhập, xác định rõ vai trò
9
của nhà nước trong quản lý ngành, nêu bật được khả năng cạnh tranh của
ngành trong cơ chế thị trường, hiệu quả kinh tế ngành. Cần đưa ra được 2-3
phương án để lựa chọn, các phương án đi liền với các điều kiện ở mức độ
thấp/ trung bình/ cao. Các phương án cần thể hiện được các chỉ tiêu về nhịp
Cụ thể đối với những giải pháp về vốn đầu tư cần phải nêu rõ nhu cầu
về vốn đầu tư. Xác định khả năng huy động vốn: Từ nguồn vốn trung ương,
vốn địa phương, vốn doanh nghiệp,vốn huy động trong dân, vốn huy động
từ nước ngoài. Cần tính toán cơ cấu vốn hợp lý và các giải pháp huy động
để đáp ứng yêu cầu;
Các giải pháp về chính sách, cơ chế cần chú trọng đến các cơ chế tổ
chức sản xuất có hiệu quả;
Giải pháp về khoa học công nghệ cần nêu rõ những yêu cầu và biện
pháp trang bị, đổi mới công nghệ hiện đại;
Cần nêu rõ nhu cầu nguồn nhân lực, cơ cấu nguồn nhân lực và khả
năng đáp ứng nguồn nhân lực trong từng giai đoạn qui hoạch đồng thời gắn
với xây dựng các cơ sở đào tạo, dạy nghề tại khu vực sản xuất và khuyến
khích doanh nghiệp tổ chức đào tạo;
Đối với danh mục công trình, dự án đầu tư trọng điểm và tổ chức thực
hiện, qui hoạch phải xác định được danh mục các dự án đầu tư dài hạn và
xây dựng những dự án ưu tiên, cần thiết cho những giai đoạn 1 đến 5 năm
trước mắt.
Về tổ chức thực hiện, qui hoạch phải được thông báo cho các cấp địa
phương và công khai cho người dân được biết về các nội dung của qui
hoạch khi mà qui hoạch được phê duyệt. Phải phân tích trách nhiệm giữa
các cấp ngành liên quan như bộ chủ quản, các ngành liên quan, các tổ chức
quốc tế khác trong việc thực hiện qui hoạch. Phải xây dựng được cơ chế
điều hành phối hợp giữa các cấp. Phối hợp trong việc kiểm tra, giám sát
thực hiện qui hoạch
11
2.5. Phần phụ lục
Đây là phần cuối cùng bao gồm hệ thống các bảng biểu số liệu và biều
đồ miêu tả hiện trạng phát triển ngành và dự báo khả năng phát triển ngành
trong thời kì qui hoạch. Ngoài ra có thể có các phụ biểu về hiệu quả đầu tư,
tính cạnh tranh của ngành.
29,7 triệu tấn than. Sau ngày miền Nam được giải phóng, sản lượng than
tăng dần, đáp ứng được nhu cầu phát triển của nền kinh tế và giữ vai trò
then chốt trong việc đảm bảo an toàn năng lượng quốc gia. Bước vào thời
kì đổi mới, nhất là sự ra đời của Tổng công ty Than Việt Nam (10-10-
1994), cán bộ công nhân viên ngành than đã mạnh dạn thay đổi tư duy kinh tế.
Trải qua lịch sử khai thác hơn 100 năm từ thời thuộc Pháp, sau những
năm hoà bình lập lại, trong qua trình khôi phục và phát triển kinh tế, việc
khôi phục khai thác than tại Quảng Ninh đóng một vai trò quan trọng. Việc
tổ chức lực lượng kĩ thuật trong đó lực lượng thiết kế và tư vấn kinh tế là
một biện pháp xây dựng và phát triển ngành than.
2. Vai trò của ngành than
Ngày nay, trong xu thế hội nhập và phát triển của toàn thế giới, Việt
Nam cũng đang có những biến chuyển to lớn. Với sự kiện ra nhập tổ chức
thương mại thế giới WTO và tổ chức thành công hội nghị ASEAM năm
2006 Việt Nam đã chứng tỏ với thế giới con đường đi mở cửa, thông
thoáng của mình. Chúng ta đã trở thành một thành viên phát triển không
tách rời nền kinh tế thế giới. Đây thực sự là một bước đi đúng đắn, nó thể
hiện ở sự đổi mới đang diễn ra hàng ngày từ mọi góc cạnh, diện mạo của
nền kinh tế với tốc độ tăng trưởng cao vào loại nhất nhì thế giới. Chúng ta
đang bước vào giai đoạn phát triển nhanh để đi lên một nước công nông
nghiệp hiện đại. Trong giai đoạn này công nghiệp và dịch vụ sẽ phát triển
13
nhanh hơn nông nghiệp. Sự phát triển công nghiệp với tốc độ cao đòi hỏi
tiêu tốn rất nhiều năng lượng. Hiện nay sự khan hiếm năng lượng, cạn kiệt
tài nguyên là một vấn đề toàn cầu chứ không riêng gì Việt Nam. Các nguồn
năng lượng sạch đã được đầu tư nghiên cứu và khai thác nhưng sản lượng
còn nhỏ không thể nào thay thế được những nguồn năng lượng truyền
thống. Đặc biệt ở Việt Nam, chúng ta chưa có điều kiện ( cả về vốn và kĩ
thuật) để khai thác sử dụng những nguồn năng lượng này. Trong điều kiện
như vậy thì những nguồn năng lượng truyền thống: than, dầu khí, thuỷ điện
trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng hiện đại cho nền kinh tế quốc dân. Công
nghiệp phân bón hoá chất phát triển là điều kiện cần để nâng cao năng suất
và hiện đại hoá nền nông nghiệp vốn là ngành chủ đạo và thế mạnh của
nước ta. Ngoài ra, Việt Nam là một nước còn kém phát triển so với thế giới
và rất dồi dào về lao động. Vì vậy công nghiệp dệt, da, may, nhuộm là
những ngành hợp nhất với chúng ta để tận dụng nhân công rẻ, khéo tay.
Hơn nữa đây còn là ngành xuất khẩu thế mạnh của Việt Nam mang về
nhiều ngoại tệ và góp phần giải bài toán lao động hóc búa Từ vai trò quan
trọng của các ngành công nghiệp sử dụng nguyên liệu than nói trên chúng
ta lại càng thấy được vai trò quan trọng của ngành than. Việc phát triển
ngành than ổn định là điều kiện cần để phát triển các ngành công nghiệp
khác.
Xuất khẩu than
Hiện nay ngành than đã có một thị trường xuất khẩu khá rộng lớn:
Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Hàn Quốc, Đức, Đài Loan, Malayxia,
Indonexia, Cuba, các nước EU, Philipin, Nam Phi, Ngành than luôn coi
trọng và quan tâm xây dựng quan hệ hợp tác lâu dài với các công ty thương
mại và các hộ tiêu dùng của Trung Quốc, Nhật Bản, các nước ASEAN, các
nước Châu Âu, để duy trì và tăng sản lượng than xuất khẩu. Đây là nguồn
thu ngoại tệ lớn của nước ta, đồng thời còn là nguồn thu chủ yếu đảm bảo
hiệu quả kinh tế cho ngành than. Năm 2004 xuất khẩu 10,5 triệu tấn, 2005
15
xuất khẩu 14,7 triệu tấn. Và trong giai đoạn tới còn có xu hướng tăng cả về
sản lượng và giá cả.
Ngoài ra ngành than còn thu hút khá nhiều lao động. Năm 2005,
ngành đã giải quyết công ăn việc làm cho gần 100 nghìn người. Ngành than
phát triển sẽ tạo ra nhiều việc làm hơn và ổn định đời sống của công nhân
viên ngành than.
3. Sự cần thiết khách quan phải lập qui hoạch phát triển ngành than
Than là nguồn tài nguyên thiên nhiên quí, là nguồn năng lượng không
c) Cơ sở để hiện đại hoá công tác khai thác và sử dụng có hiệu quả các
nguồn lực
Qui hoạch phát triển ngành than nêu lên việc qui hoạch khai thác ở
đâu và khai thác loại than gì với số lượng như thế nào trong một thời gian
tương đối dài. Nó là cơ sở để nghiên cứu lựa chọn sử dụng công nghệ nào
để có hiệu quả tốt nhất. Đó là những công nghệ phù hợp với nhu cầu sản
xuất của ngành trong giai đoạn tới ( về sản lượng, độ sâu khai thác ), vừa
có thể nâng cao năng suất, đảm bảo an toàn lao động, vừa bảo vệ môi
trường xung quanh. Từ đó cho phép ra quyết định sử dụng vốn đầu tư như
thế nào và nhu cầu về nhân công theo trình độ bao nhiêu là hợp lý nhất. Vì
vốn đầu tư luôn luôn có hạn nên việc sử dụng vốn đầu tư một cách có hiệu
quả có ý nghĩa lớn đối với sự phát triển của ngành. Cũng như vậy, để có
một lao động có trình độ cần một quá trình đầu tư đào tạo là 3- 5 năm, vì
vậy phải dựa vào qui hoạch, xem ngành sẽ phát triển ở đâu, như thế nào để
từ đó tính toán ra nhu cầu lao động trong giai đoạn tới đáp ứng đủ nhu cầu
của ngành.
17
Ý thức được sự cần thiết khách quan nói trên, công tác lập qui hoạch
đã được ngành than chú trọng xây dựng từ rất sớm và thường xuyên có
những điều chỉnh cả về nội dung và phương pháp lập qui hoạch để đáp ứng
kịp nhu cầu phát triển của ngành. Trong thời gian gần đây công tác lập qui
hoạch ngành than do Công ty cổ phần tư vấn đầu tư Mỏ và Công nghiệp (là
Công ty tư vấn đầu ngành của Tổng công ty than Việt Nam) đảm nhiệm
chính, dựa trên những qui định của nhà nước về phát triển ngành than và sự
đóng góp ý kiến của các ban ngành liên quan.
4. Sự cần thiết và cơ sở lập qui hoạch phát triển ngành than giai
đoạn 2006- 2015
Chính phủ đã ban hành Quyết định số 20/2003/QĐ- TTg ngày
29/01/2003 về việc phê duyệt qui hoạch phát triền ngành than Việt Nam
giai đoạn 2003-2010 có xét triển vọng đến năm 2020. Những định hướng
- Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng về định hướng chiến lược
phát triển kinh tế xã hội cả nước đến 2020.
- Nghị quyết của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kì đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, ngày 15/11/2004.
- Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương
trình nghị sự 21 của Việt Nam) ban hành kèm theo Quyết đinh số
153/2004-TTg ngày 17/8/2004 của Thủ tướng Chính phủ.
- Chính sách năng lượng quốc gia do Bộ công nghiệp lập đang trình
Chính phủ phê duyệt.
- Chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam đến năm 2010, tầm
nhìn đến năm 2020 do Bộ công nghiệp lập đang trình Chính phủ phê duyệt.
- Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội tỉnh Quảng Ninh đã được đại hội
Đảng bộ tình Quảng Ninh thông qua.
19
- Qui hoạch phát triển ngành than Việt Nam giai đoạn 2003-2010 có
xét triển vọng đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại
quyết định số: 20/2003/QĐ- TTg ngày 29/01/2003.
- Qui hoạch phát triển điện lực Việt Nam giai đoạn 2001-2010 có xét
đến năm 2020 ( Qui hoạch Điện V hiệu chỉnh) đã được Thủ tướng Chính
phủ phê duyệt tại Quyết định số: 40/2003/QĐ- TTg ngày 21/03/2003.
- Điều chỉnh Qui hoạch phát triển ngành công nghiệp Xi măng Việt
Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 đã được Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt tại quyết định số: 108/2005/QĐ-TTg ngày
16/05/2005.
- Qui hoạch chi tiết nhóm cảng biển phía Bắc đến năm 2010 và định
hướng đến năm 2020 do Bộ Giao thông vận tải lập và được Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 885/QĐ-TTg ngày 12/08/2004.
- Qui hoạch phát triển Điện lực Việt Nam giai đoạn 2006-2015 có xét
đến triển vọng năm 2025 do viện Năng lượng lập năm 2005, đang chuẩn bị
trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
3
tăng 36% so với năm 2002;
- Đào lò 135,82 ngàn m tăng 6% so với năm 2002;
- Doanh thu toàn công ty đạt 10.442 tỷ đồng tăng 30% so với năm
2002.
- Lợi nhuận trước thuế: 437,9 tỷ đồng.
Năm 2003 toàn ngành đã hoàn thành vượt trước 2 năm sản lượng khai
thác và tiêu thụ than của năm 2005 trong kế hoạch 5 năm 2001-2005 do
Đại hội Đảng IX đề ra cho ngành than.
21
Năm 2004, 2005 thị trường trong nước và xuất khẩu đều phát triển
mạnh. Trên thị trường quan hệ cung cầu đã thay đổi căn bản: cầu đã lớn
hơn cung để tận dụng thời cơ ngành than đã xây dựng kế hoạch và điều
hành sản xuất sát với thực tế.
Kết quả sản xuất kinh doanh năm 2004 như sau:
- Sản xuất 27,3 triệu tấn than nguyên khai, tăng 37% so với năm 2003.
- Tiêu thụ 24,7 triệu tấn, tăng 31% so với năm 2003, trong đó tiêu thụ
nội địa 14,2 triệu tấn, tăng 15,5% so với năm 2003, xuất khẩu 10,5 triệu
tấn, tăng 63% so với năm 2003.
- Bóc đất đá 121 triệu m
3
tăng 38,8% so với năm 2003.
- Đào lò tổng số 175 km, tăng 28,9% so với năm 2003.
- Doanh thu toàn Tổng công ty đạt 14509 tỷ đồng, tăng 39% so với
năm 2003.
- Lợi nhuận trước thuế: 1284 tỷ đồng, tăng 193% so với năm 2004.
Năm 2005:
- Sản xuất 34,9 triệu tấn than nguyên khai, tăng 27,8% so với năm
2004.
- Tiêu thụ 30,0 triệu tấn, tăng 21,5% so với năm 2004, trong đó tiêu
Như vậy nhìn chung trong năm 2006 ngành than đã đạt được kết quả
sản xuất kinh doanh tương đối sát so với các chỉ tiêu cụ thể trong qui hoạch
phát triển mới ( giai đoạn 2006-2015).
II. Hiện trạng khai thác than
1. Hiện trạng khai thác
Trong giai đoạn 1995-2005 ngành than đã đạt được những thành tựu
đáng kể trong khai thác. Tổng sản lượng than nguyên khai được khai thác
khoảng 130.512,14 triệu tấn. Sản lượng than khai thác không ngừng tăng
lên nhanh chóng qua từng năm. Tốc độ tăng trưởng sản lượng luôn đạt
được những con số ấn tượng cả về số tuyệt đối và tương đối, đáp ứng nhu
23
cầu của nền kinh tế quốc dân. Khai thác than chủ yếu bao gồm hai hình
thức là: khai thác lộ thiên và khai thác hầm lò.
TỶ TRỌNG KHAI THÁC THAN
Đơn vị: 1000 Tấn
Năm
Than nguyên khai Lộ thiên Hầm lò
Sản lượng %
Sản
lượng
% Sản lượng %
1995 9369 100 6932 74 2437 26
2000 12200 100 7889 64.7 4311 35.3
2001 14589 100 9585 65.7 5004 34.3
2002 17078 100 10981 64.3 6097 35.7
2003 20000 100 12975 65 7025 35
2004 27300 100 17392 64 10200 36
2005 34928 100 22053 63 12100 37
Nhìn vào bảng sản lượng trên ta thấy khai thác than lộ thiên đóng vai
trò chủ đạo. Sản lượng khai thác lộ thiên trong những năm qua luôn chiếm
khai thác hầm lò tăng. Nhưng sản lượng của cả hai loại hình khai thác này
đều tăng. Đây là một xu hướng hợp lý, một mặt vẫn đảm bảo chú trọng
phát triển cả hai hình thức khai thác, mặt khác tiến tới phát triển theo chiều
sâu bằng cách đổi mới công nghệ, ngày càng phát huy tiềm năng của khai
thác hầm lò.
2. Đánh giá tình trạng kỹ thuật và công nghệ
a) Khai thác lộ thiên
Hiện nay tại tất cả các mỏ lộ thiên được trang bị đồng bộ thiết bị
khoan, xúc bốc, vận tải ngoài thuộc loại trung bình tiên tiến. Đối với các
mỏ qui mô lớn như Cao Sơn, Cọc Sáu, Đèo Nai, Hà Tu, Núi Béo phục vụ
cho dây chuyền bóc đất đá là máy khoan thuỷ lực với đường kính lỗ khoan
d= 110-200 mm, máy xúc điện EKG có dung tích gàu E=4,6-8 m
3
, máy
xúc thuỷ lực với dung tích gầu xúc E= 3,5-6,7 m
3
, ô tô tự đổ có trọng tải
30-58 tấn gồm các chủng loại như BelAZ, Komatsu, Đào hoà tháo khô
25