Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Doãn Hùng
Lời nói đầu
Hiện tại Việt Nam vẫn là nớc nông nghiệp với hơn 75% dân số và 62%
lao động làm việc trong nhóm ngành nông nghiệp. Để thực hiện chủ trơng
công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nớc, việc đa nhanh tiến bộ khoa học vào
nông nghiệp nhằm phát triển nông nghiệp theo hớng sản xuất kinh doanh
hàng hoá và nâng cao năng suất lao động, tăng thu nhập cho ngời lao động,
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng phát triển công nghiệp và dịch vụ từ
đó giảm lao động trong nông nghiệp là những nhiệm vụ to lớn và cấp bách.
Trong những năm đổi mới vừa qua, Việt Nam đã đạt đợc những thành
tựu kinh tế to lớn, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp. Tính riêng từ năm
1996 đến năm 2000, giá trị sản xuất nông, lâm, ng nghiệp tăng bình quân
5,7%/năm; so với năm 1995 diện tích trồng cà phê năm 2000 đã tăng 2,7
lần, cao su tăng 46%, mía tăng 35%, sản lợng thịt tăng gần 1,4 lần, xuất
khẩu tăng 1,7 lần. Những thành tựu đạt đợc này là kết quả thực hiện các
chính sách đổi mới về phát triển nông nghiệp và nông thôn, đẩy mạnh đầu
t ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, đa dạng hoá sản phẩm,
gắn sản xuất với thị trờng. Kết quả này có sự đóng góp to lớn của việc thực
hiện các chính sách đổi mới về phát triển nông nghiệp và nông thôn, đẩy
mạnh đầu t ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, đa dạng hoá
sản phẩm, gắn sản xuất với thị trờng. Kết quả này có sự đóng góp to lớn của
mô hình kinh tế trang trại, mô hình sản xuất mới trong nông thôn.
Quá trình hình thành và phát triển kinh tế trang trại có liên quan chặt
chẽ với sự biến đổi xã hội nông thôn và quan hệ sản xuất trong nông
nghiệp. Điều này thể hiện rất rõ trong xu hớng phát triển lực lợng lao động
và tổ chức sử dụng lao động trong quan hệ cộng đồng làng xã và quản lý xã
hội nông thôn.
Kinh tế trang trại là một mô hình sản xuất mới có hiệu quả ở nớc ta
cần đợc nghiên cứu đầy đủ. ở nớc ta, để tạo điều kiện cho kinh tế trang trại
phát triển, chính phủ đã có Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP ngày 02/02/2000
về kinh tế trang trại, trong đó nêu rõ "Nhà nớc khuyến khích và tạo điều
trại và kinh tế trang trại. Tuy nhiên, về bản chất và ý nghĩa, những khái
niệm này có những điểm khác nhau căn bản.
Nói đến trang trại là nói đến đơn vị hay cơ sở sản xuất kinh doanh
trong lĩnh vực nông nghiệp (theo nghĩa rộng), và trên thực tế hoạt động kinh
tế của trang trại là hoạt động của một doanh nghiệp trong lĩnh vực nông
nghiệp.
Khi nói đến kinh tế trang trại là nói đến tổng thể các mối quan hệ kinh
tế nảy sinh trong quá trình hoạt động kinh tế của trang trại: Đó là mối quan
hệ trong trang trại, giữa các trang trại với nhau, giữa các trang trại với các
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Doãn Hùng
tổ chức kinh tế khác, giữa các trang trại với Nhà nớc, với thị trờng và môi
trờng sinh thái tự nhiên
Nh vậy, nói kinh tế trang trại là nói về mặt kinh tế của trang trại. Trong
thực tế, các nhà nghiên cứu và quản lý thờng chú trọng đến mặt kinh tế của
trang trại nhiều hơn mà ít chú ý tới các mặt khác. Do vậy, khi nói tới kinh tế
trang trại ngời ta thờng gọi tắt là trang trại vì kinh tế là nét cơ bản chứa
đựng những nội dung cốt lõi của trang trại.
Tuy nhiên, ngoài mặt kinh tế, còn có thể nhìn nhận trang trại từ mặt xã
hội và môi trờng.
- Mặt xã hội: trang trại là một tổ chức cơ sở của xã hội, trong đó quan
hệ xã hội đợc đan xen với nhau (quan hệ giữa các thành viên của hộ trang
trại, quan hệ giữa chủ trang trại và ngời lao động thuê ngoài, quan hệ giữa
ngời lao động làm thuê cho chủ trang trại với nhau )
- Mặt môi trờng: trang trại là một không gian sinh thái, trong đó diễn
ra các quan hệ sinh thái đa dạng. Không gian sinh thái trang trại có quan hệ
chặt chẽ và ảnh hởng qua lại trực tiếp với hệ sinh thái của vùng.
Tóm lại, có thể thấy khái niệm trang trại rộng hơn khái niệm kinh tế
trang trại. Tuy nhiên, trong các mặt kinh tế, xã hội và môi trờng của trang
trại thì mặt kinh tế là mặt cơ bản chứa đựng những nội dung cốt lõi của
trang trại. Vì vậy để hiểu đợc khái niệm kinh tế trang trại về mặt kinh tế thì
nuôi, thuỷ sản, lâm nghiệp, gắn sản xuất với chế biến, tiêu thụ nông, lâm,
thuỷ sản".
2. Đặc trng của kinh tế trang trại.
Một là, chuyên môn hoá, tập trung sản xuất hàng hoá và dịch vụ theo
nhu cầu của thị trờng, có lợi nhuận cao.
Đây là một đặc trng cơ bản của kinh tế trang trại so với kinh tế nông
hộ. Trong đó, giá trị tổng sản phẩm và sản phẩm hàng hoá là chỉ tiêu trực
tiếp đánh giá về quy mô trang trại. Qui mô trang trại thờng lớn hơn nhiều
lần so với qui mô của kinh tế nông hộ và có tỷ suất nông sản hàng hoá trên
dới 75%. Ngoài ra còn có các chỉ tiêu gián tiếp nh ruộng đất, vốn, lao
động, Riêng về qui mô ruộng đất chẳng những nhiều hơn gấp nhiều lần
(tuỳ theo phơng hớng và trình độ kinh doanh) mà còn tập trung liền vùng,
liền khoảnh.
Hai là, có nhiều khả năng áp dụng những tiến bộ kỹ thuật hơn, tốt hơn
kinh tế nông hộ vì trang trại có vốn có lãi nhiều hơn. Do đó, nhìn chung,
các trang trại chẳng những có những công cụ thờng và sức kéo trâu bò mà
đã trang bị nhiều loại máy móc và áp dụng nhiều quy trình công nghệ mới
(hay quy trình sản xuất mới) vào các ngành sản xuất dịch vụ. Đó chính là
yếu tố quan trọng để nâng cao năng suất, chất lợng sản phẩm và hiệu quả
kinh doanh.
Ba là, các trang trại vừa sử dụng nguồn lao động vốn có của gia đình,
vừa có thuê mớn thêm lao động làm quanh năm, hoặc trong từng thời vụ,
với số lợng nhiều ít khác nhau. Có trang trại chỉ thuê 1-2 ngời, nhng có
trang trại thuê đến 50-100 ngời.
Bốn là, các chủ trang trại là ngời có ý chí làm giàu, có phơng pháp và
nghệ thuật biết làm giàu và có những điều kiện nhất định để tạo lập trang
trại.
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Doãn Hùng
3. Bản chất và vai trò của kinh tế trang trại.
Trang trại là mô hình sản xuất nông nghiệp có tính phổ biến trên thế
Kinh tế trang trại là một trong các hình thức tổ chức sản xuất phù hợp với
điều kiện và đặc điểm của sản xuất nông nghiệp theo yêu cầu của công
nghiệp hoá. Phát triển kinh tế trang trại cho phép ngời nông dân sử dụng
một cách đầy đủ, hợp lý và có hiệu quả nhất các nguồn tài nguyên nông
nghiệp (đất đai, mặt nớc, khí hậu, thời tiết, ) để phát triển sản xuất, tăng
thu nhập. Với mô hình kinh tế trang trại ngời chủ, ngời quản lý đồng thời
cũng là ngời lao động trực tiếp, lao động của họ gắn liền với quyền lợi và
thành quả mà họ làm ra nên tiết kiệm đợc chi phí và nâng cao hiêụ quả kinh
tế.
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Doãn Hùng
Kinh tế trang trại phát triển tạo bớc đột phá trong nông nghiệp, thúc
đẩy phát triển kinh tế hàng hoá trong nông thôn. Kinh tế trang trại phát
triển thì mục đích sản xuất tự cung tự cấp của kinh tế hộ bị thu hẹp, nhờng
chỗ cho mục đích sản xuất nông sản hàng hoá theo nhu cầu thị trờng, đồng
thời trình độ kỹ thuật sản xuất đợc nâng cao, lao động cơ khí thay dần lao
động thủ công và tiến bộ khoa học kỹ thuật đợc ứng dụng rộng rãi vào sản
xuất, nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi. Kinh tế trang trại phát triển
còn tạo bớc chuyển dịch, tích tụ ruộng đất cùng với quá trình phân công lại
lao động ở nông thôn giữa các cùng, từng bớc chuyển dịch lao động nông
nghiệp sang các ngành phi nông nghiệp, góp phần xoá dần khoảng cách
khác biệt giữa nông thôn và thành thị.
ở nớc ta, kinh tế trang trại tuy mới xuất hiện trở lại trong mấy năm
gần đây, song nó đã tạo một sự phát triển đột biến trong nông nghiệp, tạo
thuận lợi cho nông nghiệp sớm đi nhanh vào con đờng sản xuất hàng hoá.
Tuy nhiên, xung quanh vấn đề phát triển kinh tế trang trại hiện vẫn đang tồn
tại nhiều ý kiến khác nhau.
Một số ý kiến cho rằng, sự phát triển của kinh tế trang trại gắn liền với
quá trình tích tụ ruộng đất. Khi số lợng các trang trại càng tăng, số lợng hộ
gia đình bị mất đất cũng tăng. Trong khi điều kiện sản xuất công nghiệp và
đô thị hoá chậm, các trang trại lại không có đủ việc làm để thu hút nhiều
II. Loại hình tổ chức sản xuất của kinh tế trang trại
Tổng kết kinh nghiệm của nớc ta và các nớc khác trên thế giới cho
thấy kinh tế trang trại hình thành và phát triển dới nhiều hình thức tổ chức
sản xuất khác nhau nh t bản t nhân, cổ phần, liên doanh, uỷ thác và trang
trại gia đình.
1. Trang trại gia đình là hình thức sản xuất phổ biến nhất của nông
nghiệp thế giới hiện nay. Quá trình hình thành và phát triển trang trại gia
đình là quá trình nâng cao hay mở rộng tính chất và trình độ sản xuất hàng
hoá của trang trại, thu hẹp tính chất tự cung tự cấp của kinh tế nông hộ.
Chính vì vậy mà trang trại gia đình có khả năng thích ứng với các trình độ
sản xuất nông nghiệp khác nhau và với qui mô sản xuất khác nhau. Thực
tiễn cho thấy kinh tế trang trại gia đình đã và đang thể hiện đợc tính thích
ứng và phát triển tốt. ở nhiều quốc gia, trang trại đang là loại hình doanh
nghiệp đặc trng và là hình thức tổ chức cơ bản của nông nghiệp hàng hoá
trong kinh tế thị trờng.
2. Trang trại t bản t nhân có quy mô lớn, sản xuất ra nhiều sản phẩm
hàng hoá, kết hợp sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản theo phơng thức t
bản chủ nghĩa và sử dụng hoàn toàn lao động làm thuê.
3. Trang trại cổ phần đợc tổ chức theo nguyên tắc nh công ty cổ phần,
có qui mô lớn và đợc chuyên môn hoá, sử dụng kinh doanh làm thuê là chủ
yếu.
4. Trang trại liên doanh do hai hay ba trang trại hợp nhất thành một
trang trại lớn hơn để tăng thêm khả năng về vốn và t liệu sản xuất. Các
trang trại tham gia liên doanh nhng vẫn giữ quyền điều hành sản xuất riêng.
Đối tác liên doanh thờng là họ hàng thân tộc. Lao động chủ yếu là lao động
gia đình và một số lao động làm thuê khác. Tuy nhiên, tỷ lệ 3 loại trang trại
này trên thế giới không nhiều.
5. Trang trại uỷ thác (ở Đài Loan), ở đó quyền sử dụng ruộng đất đợc
tập trung vào những hộ nông dân, các trang trại chuyên làm ruộng. Quyền
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Doãn Hùng
trang trại nói riêng bị chi phối bởi các quy luật sinh học trong chu kỳ phát
triển cuả các loại cây, con bởi các điều kiện tự nhiên và môi trờng, bởi các
yếu tố văn hoá xã hội của từng vùng và cộng đồng dân c, Tổ chức lao
động trong kinh tế trang trại có những đặc điểm chính sau đây:
1. Tính thời vụ.
Do sản xuất nông nghiệp có tính thời vụ cao, nên lao động và việc làm
ở các trang trại cũng có tính thời vụ cao, có thời gian làm việc không ổn
định trong năm. Trong cơ cấu lao động tại các trang trại, số lợng lao động
thờng xuyên chỉ chiếm tỷ lệ rất thấp (20%), trong khi đó số lợng lao động
thời vụ chiếm đến 80%.
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Doãn Hùng
Lao động thờng xuyên chủ yếu là ngời nhà của chủ trang trại làm các
chức năng quản lý, kỹ thuật và những hoạt động đòi hỏi trình độ cao hoặc
có nhiều kinh nghiệm thực tế. Lao động thời vụ chủ yếu là lao động làm
thuê tạm thời theo thời vụ nh gieo trồng, chăm sóc, thu hoạch, tiêu thụ sản
phẩm với cách thức và tiền công do chủ và ngời làm thuê thoả thuận với
nhau.
Tuỳ theo loại hình và tính chất sản xuất của trang trại mà số lợng và cơ
cấu các loại lao động và việc làm có khác nhau. Trang trại lâm nghiệp,
trồng cây lâu năm thờng có số lao động hợp đồng thời vụ nhiều và chiếm tỷ
trọng lớn, các trang trại chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản chủ yếu sử dụng lao
động gia đình vì yêu cầu kỹ thuật cao, nhất là những khâu công việc phức
tạp nh nuôi cá giống, tôm giống, chế biến, chăm sóc đàn bò sữa, vắt sữa,
chăn nuôi lợn hớng nạc, gia cầm.
2. Trình độ tay nghề thấp.
Lao động làm việc tại các trang trại chủ yếu là lao động d thừa từ khu
vực nông nghiệp, trình độ văn hoá và kiến thức nghề nghiệp không cao. Lực
lợng lao động này chủ yếu làm các công việc giản đơn, làm thuê theo hợp
đồng thời vụ với giá trị ngày công thấp so với các ngành nghề khác trên
cùng địa bàn. Do phải làm các công việc nặng nhọc lại phải hoạt động trên
ợng sản phẩm cao, giá thành hạ để tăng sức cạnh tranh trên thị trờng.
5. Tổ chức lao động mang nặng tính tự phát.
Tổ chức lao động trong trang trại còn mang tính tự phát, dựa theo kinh
nghiệm là chính và do đó tính khoa học cha cao. Tính tự do, tự phát và
không thống nhất về tiền công, hợp đồng lao động, việc làm trong các trang
trại là hiện tợng phổ biến. Hợp đồng lao động, giá ngày công đều do đôi
bên tự thoả thuân, không có văn bản hoặc có nhng rất sơ lợc.
Cả chủ trang trại và ngời lao động làm thuê cha chịu sự quản lý hoặc
ràng buộc cần thiết về luật pháp. Các "lệ làng" đang chi phối rất lớn các
quan hệ lao động. Hầu nh không có chủ trang trại nào quan tâm đến vấn đề
bảo hộ lao động, bảo hiểm xã hội cho lao động làm thuê và bản thân lao
động làm thuê (kể cả thời vụ và thờng xuyên) cũng đòi hỏi quyền lợi chính
đáng về các loại bảo hiểm mà lẽ ra họ đợc hởng.
IV- Kinh nghiệm của nớc ngoài về kinh tế trang trại.
Kinh nghiệm của các nớc rất phong phú. Tuỳ theo điều kiện đặc thù
của mỗi quốc gia mà mỗi nớc có những biện pháp, chính sách để giải quyết
vấn đề khác nhau và đơng nhiên những kinh nghiệm, bài học rút ra của mỗi
nớc tuy không thể áp dụng một cách máy móc, nhng lại là kinh nghiệm
tham khảo rất bổ ích đối với quốc gia khác. Dới đây là kinh nghiệm phát
triển kinh tế trang trại của các nớc Đông Bắc á.
1. Kinh tế trang trại Nhật Bản.
Nhật Bản là nớc đi đầu Châu á trong công nghiệp hoá cũng nh phát
triển kinh tế trang trại. Từ thời Minh Trị (1886) bắt đầu thời kỳ đi lên công
nghiệp hoá, kinh tế hộ nông dân của Nhật Bản đã có sự chuyển dịch từng b-
ớc từ sản xuất tự túc sang sản xuất hàng hoá, theo mô hình kinh tế trang
trại. Nhng kinh tế trang trại ở Nhật Bản chỉ thực sự phát triển từ sau chiến
tranh thế giới lần thứ 2, sau cuộc cải cách ruộng đất, tạo điều kiện cho các
hộ nông dân làm chủ ruộng đất, hình thành các trang trại sản xuất nông sản
hàng hoá với khối lợng lớn và tỷ suất hàng hoá cao.
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Doãn Hùng
chung. Thời gian bắt đầu công nghiệp hoá số trang trại tăng lên: Năm 1945
có 5,7 triệu cơ sở, đến năm 1950 tăng ên đến 6,17 triệu. Sau đó số lợng
trang trại giảm dần, đến nay chỉ còn 2,4 triệu cơ sở.
Về quy mô trang trại thì Nhật Bản là điển hình của loại trang trại quy
mô nhỏ. HIện nay ở Nhật Bản 2,4 triệu trang trại canh tác 5 triệu ha đất, so
vói 15 nớc liên minh Châu Âu (EU) 6 triệu trang trại canh tác 80 triệu ha
đất, và nớc Mỹ có 2,1 triệu trang trại canh tác 150 triệu ha đất. Việc tích tụ
ruộng đất của các trang trại cũng diễn ra với tốc độ chậm. Trong 40 năm
bình quân ruộng đất của trang trại chỉ tăng từ 0,8 lên 1,5 ha.
Riêng ngành chăn nuôi thì quy mô trang trại tăng nhanh nhất là chăn
nuôi gà lợn vì cần ít đất. Cơ cấu sản xuất và cơ cấu thu nhập của các trang
trại gia đình ở Nhật Bản vừa qua có nhiều biến đổi. Trong những năm 50,
chủ yếu là thuần nông, thu nhập từ nông nghiệp là chính, đến nay chuyển
sang kiêm nghiệp, hoạt động cả trong và ngoài nông nghiệp, thu nhập ngoài
nông nghiệp ngày càng tăng, nhiều khi vợt thu nhập từ nông nghiệp.
Hiện nay ở Nhật Bản có 4 loại trang trại gia đình với cơ cấu ngành
nghề và nguồn thu nhập khác nhau:
- Các trang trại chuyên làm nông nghiệp (thuần nông) có thu nhập duy
nhất từ nông nghiệp năm 1960 có 2 triệu cơ sở, đến năm 1990 còn 600.000
cơ sở giảm đi hơn 3 lần, chiếm 15% tổng số trang trại.
- Các trang trại làm nông nghiệp là chính (nguồn thu nhập từ nông
nghiệp là chủ yếu) đồng thời có làm thêm ngoài nông nghiệp để tăng thu
nhập phụ, loại trang trại này đến năm 1990 có 600.000 cơ sở chiếm 15%
tổng số trang trại.
- Các trang trại làm nông nghiệp và thu nhập từ nông nghiệp là phụ,
làm ngoài nông nghiệp và thu nhập ngoài nông nghiệp là chính. Loại trang
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Doãn Hùng
trại này năm 1990 có khoảng gần 3 triệu cơ sở chiếm xấp xỉ 70% tổng số
trang trại.
- Các trang trại nông thôn của những ngời dân thành phố để lao động
cơ sở)
Quy mô bình quân 1 trang
trại (ha)
1955 732 1,12
1960 785 0,91
1970 879 0,83
1980 872 1,04
1990 824 1,08
1996 779 1,20
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Doãn Hùng
Số lợng trang trại gia đình ở Đài Loan thời gian 1955-1970 thời kỳ bắt
đầu công nghiệp hoá tăng lên gần 150.000 cơ sở và từ năm 1970 đến nay
giảm dần, nhng với tốc độ chậm. Năm 1996 có 779.427 trang trại. Qui mô
bình quân của trang trại gia đình cũng thuộc loại rất nhỏ nh Nhật Bản thời
gian đầu giảm đi, từ năm 1980 đến nay có chiều hớng tăng lên, nhng không
nhiều. Năm 1996 bình quân 1 trang trại có 1,2 ha.
Phân tích cụ thể sự biến động về quy mô trang trại ở Đài Loan, ta thấy
một hiện tợng đáng chú ý là trong quá trình công nghiệp hoá số trang trại
có qui mô rất nhỏ lại tăng lên cả về số lợng và tỷ lệ, còn số trang trại lớn lại
giảm đi.
Số trang trại nhỏ dới 0,5 ha năm 1955 chiếm 34,4% đến năm 1980
tăng lên 43,1%.
Số trang trại có từ 2 ha trở lên năm 1955 chiếm 11,7%, năm 1980 còn 7,4%.
Đến nay số trang trại cực nhỏ (dới 0,5 ha) chiếm 43,1% tổng số trang trại.
Số trang trại nhỏ (0,5 - 1 ha) chiến 29,5%.
Số trang trại trung bình (1-2 ha) chiếm 11,0%.
Số trang trại lớn (3-5 ha) chiếm 2,0%
Số trang trại rất lớn (5-10 ha) chiếm 0,1%.
Trong chăn nuôi quy mô trang trại tăng nhanh. Trong ngành chăn nuôi
lợn số trại nuôi dới 100 con giảm đi một nửa và số trâu nuôi từ 100-5000 con
Kinh tế trang trại gia đình ở Hàn Quốc cũng có những đặc điểm tơng
tự nh Đài Loan và Nhật Bản.
Bảng 3: Số lợng trang trại gia đình ở Hàn Quốc thời gian
1953 - 1979
Năm
Số trang trại gia
đình (1000 cơ sở)
Qui mô bình quân
1 trang trại (ha)
Số lợng lao động
nông nghiệp (1000
ngời
1953 2.249 0,86 4.430
1965 2.507 0,90 4.538
1975 2.379 0,94 5.041
1979 1.772 1,20 3.722
Năm 1950 Hàn Quốc tiến hành cải cách ruộng đất, chính quyền đề ra
mức hạn chế mỗi hộ không đợc quyền sở hữu quá 3 ha ruộng đất và Nhà n-
ớc mua lại đất đai quá hạn mức của địa chủ để bán lại cho nông dân thiếu
đất trả tiền dần, tạo cơ sở cho việc hình thành nền kinh tế trang trại gia đình
sản xuất nông sản hàng hoá.
Năm 1974, 67% số trang trại gia đình có từ 1 ha trở xuống, 25% số
trang trại có 1-3 ha, 8% trang trại có 3-5 ha.
Trong quá trình công nghiệp hoá kinh tế trang trại gia đình phát triển
nhanh chóng do tác động của các chính sách khuyến khích của Nhà nớc, sự
hỗ trpj của hệ thống tổ chức hợp tác xã dịch vụ và tác động của khoa học và
công nghệ, và tăng cờng cơ sở vật chất kỹ thuật cho nông nghiệp.
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Doãn Hùng
Năm 1988 mức độ cơ giới hoá sản xuất lúa đã đạt trên 80% đối với
khâu làm đất, 54% đối với khâu cấy lúa, 53% đối với khâu gặt lúa và đến
3,4 lần năm 1992.
ở một số tỉnh, kinh tế trang trại phát triển với tốc độ khá nhanh. Sơn
La, năm 1990 mới có 530 trang trại, thì đến năm 1998 có 4805 trang trại;
Lào Cai năm 1991 có 581 trang trại, đến năm 1998 có 2.622 trang trại.
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Doãn Hùng
Năm 1998, các địa phơng trong cả nớc, dựa trên sự hớng dẫn sơ bộ về
khái niệm và các tiêu chí của Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn, đã
điều tra khảo sát về Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn khoảng
113.000 trang trại.
Thực tế, đến trớc tháng 6/ 2002 việc thống kê số lợng trang trại ở
nhiều địa phơng và cơ quan khác nhau đã đợc thực hiện theo những tiêu chí
riêng, do đó nhiều khi các số liệu công bố rất khác nhau.
Để thống nhất, ngày 22/6/2000 Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông
thôn và Tổng cục thống kê đã có thông t liên bộ "hớng dẫn tiêu chí để xác
định kinh tế trang trại". Về giá trị sản lợng hàng hoá va dịch vụ, thông t quy
định bình quân 1 năm 1 trang trại phải đạt ít nhất 50 triệu đồng đối với khu
vực miền Nam và 40 triệu đồng đối với khu vực miền Bắc và miền Trung.
Về quy mô đất đai, các trang trại phải có ít nhất từ 2 ha trở lên, cá biệt, các
vùng đồng bằng hay đô thị đất chật ngời đông, thì qui mô trang trại có thể
dới 2 ha nhng phải đảm bảo chỉ tiêu tỷ suất hàng hoá cao. Đối với chăn
nuôi thì quy mô đàn gia súc đợc lấy làm tiêu chí. Trâu bò sinh sản và lấy
sữa từ 10 con trở lên, lấy thịt từ 50 con trở lên, nuôi lợn sinh sản thờng
xuyên ít nhất là 20 con, lấy thịt là 100 con. Chăn nuôi gia cầm thờng xuyên
phải có ít nhất 2000 con.
Việc ban hành các tiêu chí để áp dụng thống nhất trong cả nớc cho
công tác thống kê, báo cáo, công tác quản lý và nghiên cứu là hết sức cần
thiết. Tuy nhiên, xung quanh các tiêu chí cụ thể này, một số nhà khoa học
và quản lý cho rằng tiêu chí xác định quy mô giá trị sản phẩm hàng hoá và
dịch vụ phải đạt 40 triệu đồng trở lên đối với các trang trại phía Bắc và 50
triệu đồng trở lên đối với các tỉnh phía Nam là cao. Ngay các nớc có lịch sử
45372
52554
0
10000
20000
30000
40000
50000
60000
1989 1992 1999 2002
Số liệu thống kê cũng cho thấy rằng số lợng trang trại không những
tăng nhanh, mà còn tăng khá ổn định và rộng khắp các địa bàn trên phạm
vi cả nớc (biểu đồ 1).
Ba khu vực phía Nam (Tây Nguyên, Đồng bằng Đông Nam Bộ và
Đồng bằng sông Cửu Long) có số lợng trang trại lớn nhất, chiếm 75% tổng
số trang trại và chiếm 64% về diện tích đất trang trại cả nớc, riêng đồng
bằng sông Cửu Long có số trang trại trên 42% và diện tích chiếm 28% so
với cả nớc. Khu vực phía Bắc (đồng bằng sông Hồng, Đông Bắc và Tây
Bắc) có ít trang trại nhất (chiếm khoảng 11%), song có diện tích đất khá lớn
(18%).
Nh vậy, có thể thấy rằng ở nớc ta trang trại hình thành và phát triển
mạnh trở lại chủ yếu kể từ khi có Nghị quyết 10 - BCT (năm 1988) và thực
hiện Luật Đất đai (năm 1993). Trang trại là sản phẩm của đờng lối đổi mới.
Mặc dù đang có những ý kiến khác nhau về tiêu chí, song nhận định chung
là số lợng trang trại ở nớc ta đã tăng nhanh trong thời gian qua.
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Doãn Hùng
Tuy nhiên, cũng cần nhấn mạnh rằng, thời gian đầu, kinh tế trang trại
chủ yếu phát triển tự phát, phân tán và manh mún. Phát triển trang trại cha
gắn liền với qui hoạch các vùng sản xuất chuyên môn hoá và công nghiệp
chế biến nông, lâm, thuỷ sản và thị trờng.
Đông Bắc 10,4 3,5 1,2 2,3 5,0 1,8 0,1
Tây bắc 7,6 2,6 2,2 0,4 4,0 0,5 0,1
Bắc Trung Bộ 9,3 2,5 1,8 0,7 5,2 0,8 0,4
Duyên Hải Miền
Trung
4,9 3,3 1,4 2,0 1,2 0,4 0,0
Tây Nguyên 5,9 4,9 0,8 4,0 0,1
Đông Nam Bộ 6,7 7,3 1,4 5,8 0,3 0,1 0,1
ĐB Sông Cửu Long 4,5 3,9 3,9
Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Nếu phân theo loại hình sản xuất:
- Trang trại trồng cây lâu năm có qui mô đất nông nghiệp bình quân
4,7 ha/1 trang trại, trong đó 10% dới 2 ha, 24% từ 2-3 ha, 61% từ 3 - 10 ha
và 13% trên 10 ha.
- Trang trại trồng cây lâu năm có qui mô đất nông nghiệp bình quân
9,4 ha, trong đó 0,9% dới 3 ha, 7,5% từ 3-5 ha, 67% từ 5-10 ha, 24,7% trên
10 ha.
- Trang trại lâm nghiệp có qui mô bình quân 17 ha đất rừng 1 trang
trại, trong đó 76% có từ 5 20 ha, 34% có trên 20 ha và có 4 trang trại
trên 100 ha.
- Trang trại nuôi trồng thuỷ sản có qui mô bình quân 1 ha diện tích
mặt nớc.
- Trang trại chăn nuôi có qui mô bình quân 39 trâu, bò, 52 lợn và 544
gia cầm.
Nguồn đất để hình thành trang trại rất đa dạng, trong đó 71,8% là đất
đợc giao NĐ 64/CP của Chính phủ, còn 28,2% là đất cha giao. Trong số đất
cha đợc giao thì 31,5% là đất nhận thầu của xã hoặc HTX, 19,3% nhận
chuyển nhợng, 18% tự khai hoang, 19% nhận thầu của nông, lâm trờng và
10% nhận thầu của các dự án.
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Doãn Hùng
trại có 12 lao động, trong đó 2 lao động gia đình và 12 lao động làm thuê.
Trong số lao động làm thuê ngoài có 80% là lao động thời vụ và chỉ có 20%
là lao động thờng xuyên. Hai loại trang trại có số lao động lớn nhất là nông
lâm kết hợp (17 ngời/trang trại) và trồng cây lâu năm (14 ngời/trang trại).
Sang năm 1999, số lao động bình quân một trang trại đạt 15,4 ngời,
trong đó lao động thuê ngoài khoảng 82% .
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Doãn Hùng
So với năm 1998, sang năm 1999 số lợng lao động bình quân trong
trang trại tăng lên 3,5 ngời và đồng thời tỷ trọng lao động làm thuê cũng
tăng lên.
Theo số liệu của 50545 trang trại của Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn hiện nay có 443723 lao động. Bình quân mỗi trang trại sử dụng
8,8 lao động, nơi trang trại sử dụng nhiều lao động là vùng Đông Nam Bộ
18,6 lao động/trang trại, nơi trang trại sử dụng lao động ít là vùng miền núi
phía Bắc 4,4 lao động/trang trại.
Cũng cần phải nói rằng, hiện nay số liệu về qui mô lao động bình
quân/trang trại do các cuộc điều tra khác nhau công bố có sự khác nhau rất
nhiều. Ví dụ, theo kết quả điều tra của Trờng Đại học Kinh tế Quốc dân, số
lao động bình quân một trang trại là 5,82 ngời, trong đó bình quân một
trang trại chỉ thuê 0,98 lao động thờng xuyên.
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Doãn Hùng
Bảng 5: Số lao động bình quân một trang trại phân theo vùng kinh tế
và loại lao động
Đơn vị: ngời.
Tổng số
Lao động gia đình
Lao động thuê
ngoài thờng xuyên
Lao động thuê ngoài
thời vụ
thuỷ sản chỉ chiếm khoảng 3-4%.
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Doãn Hùng
Bảng 6: Cơ cấu trang trại của các vùng kinh tế theo loại hình sản xuất
kinh doanh
Đơn vị: %
Tổng số
Trồng cây
hàng năm
Trồng cây
lâu năm
Chăn nuôi
Lâm
nghiệp
Nuôi trồng
thuỷ sản
Kinh doanh
tổng hợp
Cả nớc 100,00 56,65 26,99 2,88 4,06 3,79 5,64
ĐB Sông Hồng 100,00 7,25 19,08 5,52 13,13 37,37 17,65
Đông Bắc 100,00 4,81 38,10 0,97 21,34 5,39 29,39
Tây Bắc 100,00 35,71 18,91 10,08 28,99 4,20 2,10
Bắc Trung Bộ 100,00 32,16 13,74 10,62 14,88 10,39 18,21
Duyên Hải Miền
Trung
100,00 33,24 43,11 1,49 6,17 13,92 2,07
Tây Nguyên 100,00 26,42 72,86 0,25 0,16 0,03 0,28
Đông Nam Bộ 100,00 29,03 53,74 7,93 0,83 3,25 5,22
ĐB Sông Cửu Long 100,00 99,70 0,04 0,07 0,07 0,01 0,11
Nguồn: Tổng Cục Thống kê.
Đồng bằng Sông Cửu Long nổi tiếng là một vựa thóc của đất nớc với
và tăng nhanh, hiệu quả kinh tế xã hội rõ nét, thu nhập thuần tuý 23 triệu
đồng, bình quân 1 nhân khẩu 4,1 triệu đồng, 1 lao động 9,3 triệu đồng. Tốc
độ tăng tổng thu 1999 so với 1998 là 42,6%; năm 2000 so 1998 là 87%, tốc
độ tăng thu nhập 42% và 90% trong 2 năm tơng ứng.
Theo điều tra của trờng Đại học Kinh tế Quốc dân năm 1999, thu nhập
của các trang trại trồng cây công nghiệp lâu năm ở Nam Bộ và Tây Nguyên
nh sau: Đồng Nai 225 triệu; Đắc Lắc 163 triệu; Khánh Hoà 164 triệu đồng
và thấp nhất là các trang trại phía Bắc: Quang Ninh 24 triệu đồng; Yên Bái
33 triệu đồng, Sơn La 46 triệu đồng. Phần lớn tổng thu của trang trại là sản
phẩm hàng hoá.
Giá trị sản phẩm hàng hoá trong năm bình quân một trang trại đạt 91
triệu đồng, tỷ suất hàng hoá là 87%, cao nhất là Đồng Nai 189 triệu đồng,
Khánh Hoà 163 triệu đồng, Đắc Lắc 142 triệu đồng, thấp nhất là Quảng
Ninh 18 triệu đồng, Yên Bái 22 triệu đồng, Nghệ An 28 triệu đồng, Cà Mau
67 triệu đồng.
Dù còn có sự chênh lệch lớn giữa các trang trại nhng nhìn chung ở
vùng nào và địa phơng nào, tổng thu, giá trị và tỷ suất hàng hoá và thu nhập
của trang trại cũng vợt trội ít nhất là 3 lần so với mức thu nhập trung bình
của hộ nông dân cùng địa bàn.
Rõ ràng, kinh tế trang trại gia đình ở nớc ta đã thể hiện rõ tính vợt trội
so với kinh tế hộ về nhiều mặt: khai thác và sử dụng có hiệu quả tiềm năng
đất đai, lao động và tiền vốn để biến nó thành của cải vật chất, làm giàu
chính đáng cho bản thân họ và cho xã hội, tạo thêm việc làm mới để thu hút
lao động d thừa ở nông thôn, phân bổ lại dân c và lao động giữa các vùng,
tăng số lợng, chất lợng và tỷ suất hàng hoá của các sản phẩm nông, lâm
thuỷ sản, góp phần xây dựng và nâng cấp cơ sở hạ tầng ở nông thôn miền
núi, vùng sâu, vùng ven biển, tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho nông
dân nghèo góp phần xoá đỏi giảm nghèo. Bên cạnh lợi ích về kinh tế, nhiều
chủ trang trại còn là những hình mẫu tốt về tổ chức sản xuất và quản lý kinh
tế ở nông thôn theo cơ chế thị trờng.