thực trạng khả năng cạnh tranh của hệ thống nhtm việt nam và hoạt động tín dụng –dịch vụ của các nhtm trên địa bàn tp.cần thơ - Pdf 10

Trang 1
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
CHƯƠNG I: KHÁI NIỆM VỀ CẠNH TRANH, CHIẾN LƯC CẠNH TRANH,
TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI (NHTM) TRONG
NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1.1 Khái niệm về cạnh tranh, các chiến lược cạnh tranh của Michale porter 1
1.1.1 Khái niệm cạnh tranh 1
1.1.2 Các chiến lược về lợi thế cạnh tranh của Michael Porter 1

1.2 Tổng quan về NHTM, tầm quan trọng của việc mở rộng tín dụng 3
& phát triển dòch vụ của ngân hàng
1.2.1 Đònh nghóa NHTM 3
1.2.2 Chức năng của NHTM 4
1.2.3 Các nghiệp vụ chủ yếu của NHTM 5
1.2.4 Tín dụng ngân hàng, nghiệp vụ quan trọng của NHTM 11
1.2.5 Tầm quan trọng của việc mở rộng tín dụng ngân hàng 13
1.2.6 Một số kinh nghiệm mở rộng tín dụng ở các quốc gia trong khu vực 15
1.2.7 Dòch vụ ngân hàng, tầm quan trọng của việc phát triển dòch vụ 16
ngân hàng trong thời đại công nghệ thông tin và hội nhập kinh tế
Kết luận chương i 18

CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG HỆ THỐNG NHTM VIỆT NAM
TRONG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ VÀ HOẠT ĐỘNG
TÍN DỤNG & DỊCH VỤ CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG
MẠI TRÊN ĐỊA BÀN TP CẦN THƠ GIAI ĐOẠN 2002-2004
2.1 Hệ thống ngân hàng Việt Nam: Khả năng cạnh tranh, cơ hội và 19
thách thức trong hội nhập kinh tế quốc tế
2.1.1 Hội nhập kinh tế quốc tế – xu thế không thể đảo ngược 19
2.1.2 Hệ thống Ngân hàng Việt Nam và khả năng cạnh tranh 21
2.1.3 Cơ hội và thách thức đối với các Ngân hàng Việt Nam trong 28

3.2.1 Giải pháp tăng trưởng nguồn vốn huy động để mở rộng tín dụng 57
3.2.2 Mở rộng tín dụng trong lónh vực cho vay nông nghiệp và nuôi 60
trồng thủy hải sản
3.2.3 Mở rộng tín dụng tiêu dùng và cho vay các cơ quan hành 62
chánh sự nghiệp có thu
3.2.4 Mở rộng nghiệp vụ tín dụng cho vay thế chấp 63
3.3 Các giải pháp mở rộng dòch vụ 64
3.3.1 Giải pháp hạn chế thanh toán bằng tiền mặt 64
3.3.2 Giải pháp về nâng cấp hệ thống ATM và mở rộng 65
khách hàng sử dụng ATM trên đòa bàn
3.3.3 Đa dạng thêm các loại hình dòch vụ như: thanh toán 65
hộ tiêu dùng, dòch vụ phát hành thẻ bảo chi nội - ngoại tệ
cho các Ngân hàng thương mại
3.3.4 Nhanh chóng trang bò các dòch vụ Ngân hàng điện tử hiện đại 66
cho các NHTM như: Internet banking, Mobi banking, Home banking
3.4 Các kiến nghò đối với cơ quan quản lý nhà nước trong lónh vực 67
mở rộng tín dụng và dòch vụ ngân hàng
3.4.1 Kiến nghò đối với Chính phủ 67 Trang 3
3.4.2 Kiến nghò đối với hệ thống NHNN Việt Nam 68
3.4.3 Kiến nghò đối với UBND thành phố 70
3.4.4 Những biện pháp thuộc bản thân các NHTM để mở rộng 71
tín dụng và dòch vụ ngân hàng
KẾT LUẬN CHƯƠNG III 73

PHẦN KẾT LUẬN 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO


PHẦN MỞ ĐẦU
[  \

1/ Tính thiết thực của đề tài:
Hội nhập kinh tế quốc tế là một xu thế tất yếu của thế kỷ 21. Việt Nam cũng
như các nước đang phát triển khác trên thế giới đang nỗ lực hoà mình vào dòng hội
nhập. Chủ trương hội nhập, tham gia các tổ chức kinh tế trong khu vực và toàn cầu,
đặc biệt gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) trong thời gian tới đã được Bộ
Chính trò khẳng đònh tại Nghò quyết 07-NQ/TW ngày 27/11/2001 về hội nhập kinh tế
quốc tế. Trong qúa trình hội nhập, Ngân hàng được xác đònh là một trong những
ngành dòch vụ quan trọng và nhạy cảm.
Mục tiêu của luận văn nhằm giới thiệu bức tranh tổng thể về hệ thống Ngân
hàng Việt Nam, khả năng cạnh tranh, những điểm mạnh, điểm yếu, các cơ hội và
thách thức của Ngành Ngân hàng Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Đồng thời phân tích thực trạng hoạt động tín dụng và dòch vụ của các Ngân hàng
thương mại trên đòa bàn TP.Cần Thơ, nêu lên những mặt còn tồn tại và hạn chế về
mở rộng tín dụng – dòch vụ của các Ngân hàng trên đòa bàn. Trên cơ sở đó, để tiếp tục
tồn tại và phát triển, đủ sức cạnh tranh với các Ngân hàng nước ngoài việc tìm ra các
giải pháp để mở rộng tín dụng và dòch vụ cho các Ngân hàng thương mại TP.Cần Thơ
trong giai đoạn hiện nay là hết sức cần thiết và mang tính thực tiễn cao.
2/ Mục đích nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu của đề tài là tập trung vào các nội dung chính sau:
- Nghiên cứu một cách có khoa học những lý luận cơ bản về cạnh tranh, chiến
lược cạnh tranh, NHTM, tín dụng và dòch vụ Ngân hàng trong cơ chế thò trường, tầm
quan trọng và sự cần thiết của việc mở rộng tín dụng và dòch vụ Ngân hàng.
- Phân tích thực trạng của hệ thống NHTM Việt Nam, khả năng cạnh tranh
của các NHTM Việt Nam so với các Ngân hàng nước ngoài, đồng thời phản ánh thực
trạng hoạt động tín dụng – dòch vụ của các NHTM trên đòa bàn TP.Cần Thơ giai đoạn
2002-2004, xác đònh được những khó khăn, hạn chế trong việc mở rộng tín dụng và
dòch vụ của các Ngân hàng trên đòa bàn.

Trang 6
CHƯƠNG I: KHÁI NIỆM VỀ CẠNH TRANH, CHIẾN LƯC CẠNH
TRANH, TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI (
NHTM )TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

1.1/ Khái niệm về cạnh tranh, các chiến lược cạnh tranh của Michale Porter:
1.1.1/ Khái niệm cạnh tranh:
Cạnh tranh trong lónh vực kinh tế là một cuộc chạy đua về giá, cuộc chiến về
quảng cáo, giới thiệu sản phẩm và tăng cường phục vụ khách hàng. Cuộc tranh đua
xảy ra do một hoặc nhiều đối thủ hoặc cảm thấy bò chèn ép hoặc thấy cơ hội để cải
thiện vò trí. Khi một công ty có một bước đi mới thì có những hiệu ứng rõ ràng đối với
những đối thủ của nó và như thế có thể kích thích sự trả đũa hoặc những cố gắng
chống trả lại, nói một cách khác là giữa các đối thủ luôn có sự phụ thuộc lẫn nhau
không thể tránh khỏi. Ngoài áp lực từ các đối thủ hiện tại, doanh nghiệp còn phải chòu
4 áp lực khác đó là nguy cơ nhập cuộc của các đối thủ mới, mối đe dọa của các sản
phẩm thay thế, quyền lực của người mua, quyền lực của người cung ứng. Như thế để
đạt được thắng lợi trong cạnh tranh, các công ty cần phải đánh giá, chọn đúng chiến
lược để tạo lợi thế, khẳng đònh vò trí của mình.
1.1.2/ Các chiến lược về lợi thế cạnh tranh của Michael Porter:
Theo Michael Porter :“Lợi thế cạnh tranh về cơ bản xuất phát từ giá trò mà
một xí nghiệp có thể tạo ra cho người mua và giá trò đó vượt quá phí tổn của xí

1.2/ Tổng quan về NHTM, tầm quan trọng của việc mở rộng tín dụng & phát triển
dòch vụ của Ngân hàng:
1.2.1/ Đònh nghóa NHTM :
Trong lòch sử phát triển của hệ thống ngân hàng, NHTM (Commercial Bank)
đã hình thành và phát triển gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hoá, sự phát
triển của NHTM đã có tác động rất lớn và quan trọng đến qúa trình phát triển của
kinh tế hàng hóa, ngược lại kinh tế hàng hóa phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao
nhất của nó là kinh tế thò trường thì NHTM cũng ngày càng được hoàn thiện và trở
thành những đònh chế tài chính trung gian không thể thiếu được trong hệ thống kinh
tế toàn xã hội .
Các nhà kinh tế học, các nhà quản lý kinh tế đã đưa ra nhiều khái niệm về
NHTM, cụ thể như sau :
- Theo Smishkin : Ngân hàng là tổ chức tài chính nhận tiền gửi và cho vay tiền.
- Theo luật ngân hàng của Thổ Nhó Kỳ: “NHTM là Hội trách nhiệm hữu hạn
thiết lập nhằm mục đích nhận tiền ký thác và thực hiện các nghiệp vụ hối đoái,
nghiệp vụ hối phiếu, chiết khấu và những hình thức vay mượn hay tín dụng khác”.
- Theo luật ngân hàng của Pháp năm 1941: “NHTM là những xí nghiệp hay cơ
sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký
thác hoặc dưới dạng hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ vào nghiệp
vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính” . Như vậy, có thể nói rằng NHTM là đònh chế
tài chính trung gian quan trọng vào loại bậc nhất trong nền kinh tế thò trường. Nhờ hệ
thống đònh chế tài chính này mà các nguồn tiền vốn nhàn rỗi sẽ được huy động, tạo
lập nguồn vốn tín dụng to lớn để có thể cho vay phát triển kinh tế .
- Theo pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính của Việt
Nam được công bố ngày 24/05/1990: “Ngân hàng là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà
hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gởi của khách hàng với trách nhiệm Trang 8
hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện các nghiệp vụ chiết khấu và làm

điều kiện thuận lợi về kho qũy, thông tin quan hệ rộng rãi với các doanh nghiệp. Qua
đó, ngân hàng có thể làm tư vấn tài chính, đầu tư, giữ hộ giấy tờ, chứng khoán, làm
đại lý phát hành cổ phiếu, trái phiếu cho các doanh nghiệp để nhận tiền hoa hồng, sẽ
vừa tiết kiệm chi phí vừa đạt hiệu qủa cao. Còn trong qúa trình tham gia thò trường
tiền tệ dưới hình thức mua bán các chứng khoán, phát hành và bán các cổ phiếu, mua
bán số dư trên tài khoản tại ngân hàng Nhà nước thì ngân hàng thương mại đơn
thuần là doanh nghiệp kinh doanh để thu lợi nhuận. Trang 9
1.2.3/ Các nghiệp vụ chủ yếu của NHTM :
NHTM là một doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh trong lónh vực tiền tệ, tín
dụng, nghiệp vụ của nó có thể chia thành những nhóm sau: Nghiệp vụ tạo vốn-nghiệp
vụ nợ; Nghiệp vụ sử dụng vốn - nghiệp vụ có; Nghiệp vụ trung gian- nghiệp vụ kinh
doanh dòch vụ ngân hàng .

1.2.3.1/ Nghiệp vụ tạo vốn - Nghiệp vụ nợ:
Là nghiệp vụ hình thành nên nguồn vốn hoạt động của ngân hàng, được gọi là
nghiệp vụ cơ bản vì các nguồn vốn này nằm bên tài sản nợ trên bảng tổng kết tài sản
của ngân hàng thương mại gồm có :
a. Vốn tự có và quỹ ngân hàng trong đó: Vốn điều lệ là số vốn ban đầu phải lớn
hơn mức tối thiểu do Nhà nước qui đònh mà ngân hàng phải có để được phép hoạt
động . Các quỹ ngân hàng bao gồm : quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ đầu tư phát
triển, quỹ dự phòng tài chính, quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm, quỹ khen thưởng,
phúc lợi .
Nguồn vốn tự có của ngân hàng chiếm tỷ trọng không lớn trong tổng nguồn
vốn của ngân hàng, nhưng nó đóng vai trò quan trọng vì đó là cơ sở để tiến hành kinh
doanh , thu hút những nguồn vốn khác .
b. Vốn tiền gửi của khách hàng gồm có :
- Tiền gửi có kỳ hạn là loại tiền gửi mà chủ của nó chỉ được rút ra khi tới hạn hoặc

phần trăm theo qui đònh trên số lợi nhuận ròng của ngân hàng bao gồm : Trích 5% lợi
nhuận ròng hàng năm để bổ sung vốn điều lệ và quỹ dự phòng rủi ro.
b. Nghiệp vụ tín dụng:
Tín dụng là một trong những nghiệp vụ chính của NHTM. Cơ cấu thu nhập
trong nghiệp vụ này mang lại luôn chiếm tỷ lệ lớn . Khi nền kinh tế càng phát triển,
nhu cầu vốn kinh doanh trong xã hội càng nhiều, vai trò của nguồn vốn tín dụng càng
quan trọng. NHTM đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế thông qua các nghiệp vụ tín
dụng sau :
* Chiết khấu thương phiếu và chứng từ có giá :
Là việc ngân hàng mua lại thương phiếu của khách hàng, đây là những thương
phiếu còn trong thời hạn hiệu lực. Người sở hữu thương phiếu khi bán cho ngân hàng
sẽ nhận một số tiền bằng mệnh giá thương phiếu trừ cho lợi tức chiết khấu do ngân
hàng qui đònh.
* Nghiệp vụ tín dụng thế chấp :
Tín dụng thế chấp là một hình thức cho vay có đảm bảo bằng tài sản thế chấp
của khách hàng, tài sản này phải là tài sản hợp pháp thuộc quyền sở hữu của người
vay, có thể bán được nhanh chóng . Khi cho vay, ngân hàng cho vay theo một tỉ lệ
trên trò giá thực tế của tài sản thế chấp và ngân hàng chỉ giữ giấy chủ quyền về tài
sản và văn thư thế chấp có xác nhận của công chứng. Khi hết hạn vay người vay phải
hoàn trả vốn và lãi cho ngân hàng để nhận lại các giấy tờ trên, nếu không trả được nợ
và lãi ngân hàng được quyền yêu cầu tòa án cho lệnh phát mãi tài sản để thu nợ .

* Nghiệp vụ tín dụng ứng trước vào tài khoản: Trang 11
Đây là thể thức cấp tín dụng mà trong đó ngân hàng đồng ý cho khách hàng sử
dụng một mức tín dụng nhất đònh trong thời gian nhất đònh, đồng thời hai bên ký kết
với nhau một hợp đồng tín dụng. Mức cho vay có thể thực hiện theo 2 cách : Chuyển
tất cả khoản tiền vay vào tài khoản tiền gửi, hoặc cho phép khách hàng sử dụng dần

+ Hùn vốn, liên doanh là các biện pháp trực tiếp góp vốn đối với các doanh
nghiệp để thành lập các công ty, xí nghiệp mới . Trang 12
Theo luật Ngân hàng qui đònh, NHTM chỉ được phép dùng nguồn vốn tự có để
thực hiện nghiệp vụ đầu tư .
1.2.3.3/ Nghiệp vụ trung gian - Nghiệp vụ kinh doanh dòch vụ ngân hàng:
Đây là những nghiệp vụ mà ngân hàng thương mại thực hiện theo sự ủy nhiệm
của khách hàng để hưởng tiền hoa hồng như :
+ Chuyển tiền cho khách hàng sang đòa phương khác để họ sử dụng theo yêu
cầu hoặc trả cho một người nào đó .
+ Thu hộ: Ngân hàng đứng ra thay mặt khách hàng để thu các khoản kỳ phiếu
đến hạn, chứng khoán, hàng hóa đã bán để thu cổ tức .
+ Ủy thác là nghiệp vụ mà ngân hàng làm theo ủy thác của khách hàng như
quản lý tài sản hộ, chuyển gia tài hộ, bảo quản tài sản có giá .
+ Mua bán hộ: Theo ủy nhiệm của khách hàng, ngân hàng đứng ra phát hành
cổ phiếu hoặc trái khoán Nhà nước, hoặc mua bán ngoại tệ, kim khí quý , đá quý cho
khách hàng .
+ Làm tư vấn về tài chính, tiền tệ như cung cấp thông tin, hướng dẫn chính
sách tài chính tiền tệ, thương mại, lập dự án đầu tư tín dụng, ủy thác đầu tư cho
khách hàng .
Như vậy, nền kinh tế thò trường thông qua những qui luật của nó đã tạo ra
những động lực rất lớn cho sự tăng trưởng kinh tế, song cũng sẽ sẵn sàng đào thải
những cá nhân hoặc tổ chức kinh tế không thích ứng. Chính những đòi hỏi này, hoạt
động kinh doanh của các NHTM trong nền kinh tế thò trường rất đa dạng và phong
phú, đáp ứng đầy đủ các nhu cầu ngày càng cao của các cá nhân và tổ chức kinh tế .
Trong tương lai, NHTM phải không ngừng tìm tòi, phát triển và mở rộng những hình
thức cấp tín dụng, tăng cường khả năng cung cấp dòch vụ tiện ích cho khách hàng để
hoạt động kinh doanh của các NHTM ngày càng phát triển .

khách hàng một mặt vừa phải tìm được đầu ra để cho vay, nếu không tìm được đầu ra
ngân hàng sẽ hoạt động không có hiệu qủa nên nghiệp vụ tín dụng ngân hàng rất
quan trọng đối với NHTM .
Hơn nữa, do đặc thù của nền kinh tế, nhất là ở các quốc gia đang phát triển,
nhu cầu vốn đầu tư cho toàn xã hội là rất lớn, ngoài các kênh huy động vốn để đáp
ứng nhu như thò trường chứng khoán, các quỹ đầu tư, công ty tài chính, các quỹ hỗ
trợ thì nguồn vốn tín dụng của NHTM được xem là nguồn vốn chủ lực không thể
thiếu được đối với việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Thực tế ở các NHTM nghiệp
vụ tín dụng ngân hàng sử dụng phần lớn nguồn vốn hoạt động của ngân hàng để cho
vay, cơ cấu nguồn thu do nghiệp vụ này mang lại luôn chiếm một tỷ lệ cao, tỷ lệ này ở
các nước đang phát triển là khoảng 80%, riêng ở TP.Cần Thơ là 93% trong tổng
nguồn thu hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Vì vậy với vò thế quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế, nâng
cao mức sống xã hội và là nghiệp vụ chính tạo ra nguồn thu lớn cho ngân hàng nên có
thể xác đònh rằng: Nghiệp vụ tín dụng ngân hàng là nghiệp vụ quan trọng nhất trong
hoạt động kinh doanh của các NHTM .
1.2.5/ Tầm quan trọng của việc mở rộng tín dụng ngân hàng:
1.2.5.1/ Đối với các NHTM :
- Mở rộng tín dụng ngân hàng sẽ giúp cho ngân hàng có điều kiện sử dụng tốt
nguồn vốn đã huy động từ xã hội, làm tăng hiệu suất sử dụng vốn của ngân hàng . Trang 14
- Mở rộng tín dụng ngân hàng sẽ giúp cho ngân hàng có điều kiện tối đa hóa lợi
nhuận và phân tán được rủi ro cho ngân hàng .
- Mở rộng tín dụng ngân hàng sẽ giúp cho ngân hàng có điều kiện phát triển,
mở rộng hoạt động kinh doanh, làm tăng tổng tài sản, ngân hàng có thể phát triển
thành những tập đoàn tài chính có nhiều công ty con và chi nhánh trực thuộc.
1.2.5.2/ Đối với các doanh nghiệp và nền kinh tế :
- Tín dụng ngân hàng có thể mở rộng cho mọi đối tượng trong xã hội, nó có thể

Trang 15
* Hàn Quốc: Là một quốc gia phát triển, tiềm năng dự trữ ngoại tệ rất lớn.
Ngoài các hình thức mở rộng tín dụng thông thường, nét nổi bật của Hàn Quốc trong
việc mở rộng tín dụng là tài trợ xuất khẩu:
- Tín dụng xuất khẩu, tài trợ trực tiếp cho các giao dòch xuất khẩu loại hàng tư
liệu sản xuất do Hàn Quốc chế tạo bao gồm nhà máy, tàu biển, máy bay, máy móc,
thiết bò điện tử, xe vận tải, sắt thép các loại mọi nhà xuất hoặc nhập khẩu Hàn
Quốc đều được tham gia .
- Tín dụng tài trợ gián tiếp qua người mua, các NHTM Hàn Quốc cho người
mua nước ngoài vay vốn trung và dài hạn để mua hàng tư liệu sản xuất do Hàn Quốc
sản xuất, điều này đã cho phép các nhà xuất khẩu Hàn Quốc được thanh toán ngay
khi thực hiện giao hàng .
- Tín dụng dòch vụ kỹ thuật : Tín dụng dòch vụ kỹ thuật là cấp tài trợ cho các
doanh nghiệp Hàn Quốc nhằm thúc đẩy việc bán ra nước ngoài các dòch vụ kỹ thuật
bao gồm: bí quyết kỹ thuật, nghiên cứu khả thi, thiết kế kỹ thuật, các công trình xây
dựng ở nước ngoài
Đây là các hình thức mở rộng tín dụng hiện đại khi nền kinh tế trong nước đã
rất phát triển, tiềm lực tài chính của các NHTM là rất lớn .
+ Thái Lan: Đây là một quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trong khu
vực Đông Nam Á, mở rộng tín dụng ở Thái lan có các điểm chung là tập trung vốn
đầu tư vào ngành nghề có tỷ suất sinh lợi cao, chạy theo thò hiếu của thò trường, đầu tư
vào lãnh vực bất động sản và kinh doanh xây dựng với tỷ trọng rất lớn . Đây là một
nguyên nhân gây nên cuộc khủng hoảng tiền tệ vào năm 1997 ở Thái Lan vì khi thò
trường bất động sản bò biến động, đóng băng, ít người mua, chủ đầu tư sẽ không có
tiền thanh toán nợ, ngân hàng có khả năng bò vỡ nợ .
1.2.7/ Dòch vụ ngân hàng, tầm quan trọng của việc phát triển dòch vụ ngân
hàng trong thời đại công nghệ thông tin và hội nhập kinh tế:
Dòch vụ ngân hàng có thể được hiểu là gồm tất cả các hình thức kinh doanh của
ngân hàng mà không phải đầu tư, cho vay vốn. Hay nói cách khác, dòch vụ ngân hàng
là loại hình kinh doanh không dùng đến nguồn vốn (từ tài sản nợ) mà chỉ dựa trên khả

phần thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng và phát triển, đồng thời đem lại lợi nhuận cho
chính bản thân ngân hàng.
Thông qua hoạt động phân tích thực trạng của hệ thống NHTMVN và tình hình
hoạt động tín dụng - dòch vụ của các NHTM trên đòa bàn TP Cần Thơ sẽ cho chúng ta
một nhận xét toàn diện và sâu sắc hơn về năng lực cạnh tranh của các NHTMVN so
với ngân hàng nước ngoài, đồng thời nêu ra những mặt hạn chế, tồn tại trong hoạt
động tín dụng-dòch vụ của các NHTM TP Cần Thơ, để từ đó tìm ra những giải pháp
mở rộng tín dụng & dòch vụ cho các NHTM TP Cần Thơ, góp phần nâng cao sức cạnh
tranh cho các NHTM trên đòa bàn trong tiến trình hội nhập.

Trang 17
CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG HỆ THỐNG NHTM VIỆT NAM
TRONG HỘI NHẬP KINH TẾ VÀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG &
DỊCH VỤ CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRÊN ĐỊA
BÀN TP CẦN THƠ GIAI ĐOẠN 2002-2004.

2.1/ Hệ thống Ngân hàng Việt Nam: Khả năng cạnh tranh, cơ hội và thách thức trong
hội nhập kinh tế quốc tế:
2.1.1/ Hội nhập kinh tế quốc tế – xu thế không thể đảo ngược:
2.1.1.1/ Bối cảnh quốc tế:
Toàn cầu hoá là xu thế lớn của thế kỷ 21, có ảnh hưởng mạnh mẽ tới các nền

nghóa, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, trước
mắt là thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ nêu ra trong kế hoạch 5 năm 2001-2005”.
Ngày 13/1/2003, Thống đốc NHNN đã ký quyết đònh số 42/2003/QĐ-NHNN về
Chương trình hành động về hội nhập kinh tế quốc tế trong lónh vực ngân hàng, trong
đó nêu rõ 7 nhiệm vụ chính của ngành ngân hàng trong hội nhập kinh tế quốc tế gồm:
Công tác thông tin tuyên truyền, xây dựng, sửa đổi, bổ sung pháp luật; Hoàn thiện
chiến lược tổng thể về hội nhập kinh tế quốc tế; Xây dựng cơ chế, chính sách tài chính
tiền tệ, nâng cao khả năng cạnh tranh; Đàm phán gia nhập WTO; Đào tạo nguồn
nhân lực, mở rộng thò trường, tranh thủ đầu tư và trợ giúp kỹ thuật của các nước và
các tổ chức quốc tế.
Tại hội thảo về việc Việt Nam gia nhập WTO đầu tháng 8/2003, Chủ tòch Uỷ
ban Quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế, Phó Thủ Tướng Vũ Khoan có nhận đònh kinh
tế Việt Nam đã hội nhập khá sâu. Bằng chứng hùng hồn là kim ngạch xuất khẩu của
Việt Nam chiếm trên một nửa giá trò GDP, nguồn vốn FDI và ODA chiếm xấp xỉ 40%
trong nguồn vốn đầu tư của toàn xã hội. Việt Nam đang tích cực thực hiện cam kết
theo AFTA, ASEAN, APEC và hiệp đònh Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ, đang cùng
ASEAN tiến hành đàm phán về khu vực mậu dòch tự do ASEAN – Trung Quốc…và
đang trong quá trình đàm phán gia nhập WTO.
2.1.2/ Hệ thống Ngân hàng Việt Nam và khả năng cạnh tranh:
2.1.2.1/ Hiện trạng hệ thống Ngân hàng Việt Nam:
Hệ thống các tổ chức tín dụng Việt Nam bao gồm các ngân hàng thương mại và
tổ chức tín dụng phi ngân hàng (công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính…). Phân
theo cơ cấu sở hữu, hệ thống NHTM có bốn loại hình: Ngân hàng thương mại Nhà
nước, Ngân hàng thương mại cổ phần, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và ngân hàng
liên doanh với nước ngoài. Hệ thống ngân hàng có mạng lưới rộng lớn đáp ứng nhu
cầu vốn ngày càng tăng của nền kinh tế bao gồm 5 NHTM Nhà nước, 01 ngân hàng
Chính sách, 34 NHTM cổ phần (22 NHTM cổ phần đô thò và 12 NHTM cổ phần nông
thôn), ngân hàng liên doanh và các chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Các tổ chức tín
dụng phi ngân hàng gồm có: 5 công ty tài chính, 8 công ty cho thuê tài chính và mạng
lưới quỹ tín dụng nhân dân.

khai. Hệ thống thanh toán giữa ngân hàng và khách hàng và thanh toán liên hàng
chậm đổi mới, tình trạng thanh toán bằng tiền mặt vẫn còn khá phổ biến, gây ảnh
hưởng tới việc hiện đại hoá công nghệ ngân hàng và cấu trúc lại hệ thống. Cơ cấu tổ
chức của Ngân hàng Nhà nước chưa đáp ứng được yêu cầu hoạt động có hiệu lực của
một hệ thống được quản lý tập trung, thống nhất. Năng lực tài chính của nhiều NHTM
còn yếu, vốn tự có nhỏ, chất lượng tín dụng thấp. Các NHTM còn nặng nề về các
nghiệp vụ truyền thống, các nghiệp vụ mới chậm được áp dụng nên hiệu quả kinh
doanh thấp cả về tín dụng và dòch vụ. Các tỷ lệ về chi phí nghiệp vụ và khả năng sinh
lời của phần lớn các NHTM đều thua kém các ngân hàng trong khu vực. Hơn nữa, huy
động vốn trung và dài hạn còn bò hạn chế, một phần là do niềm tin trong dân vào sự
ổn đònh của đồng tiền chưa cao.
Hiệp đònh Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ đã có hiệu lực từ 10/12/2001. Trong
đó, ngành ngân hàng Việt Nam đưa ra các cam kết liên quan đến các loại hình dòch vụ
như nhận tiền gửi, cho vay, cho thuê tài chính, thanh toán… Trang 20
Một số điểm mạnh và điểm yếu của các NHTM Nhà nước trong một số loại
dòch vụ nêu trên trên cơ sở so sánh với các chi nhánh ngân hàng nước ngoài đang hoạt
động tại Việt Nam:
a/ Xét về dòch vụ nhận tiền gửi:
* Đối với các tổ chức tín dụng(TCTD) trong nước:
Các TCTD trong nước hiện có ưu thế trong việc nắm giữ thò phần tiền gửi.
Tiền gửi của bốn NHTM Nhà nước chiếm khoảng 76% tổng nguồn vốn huy động. Đặc
biệt, các NHTM Nhà nước nắm giữ tới trên 90% lượng tiền gửi có kỳ hạn trên 1 năm
của dân cư, tạo nguồn vốn tương đối ổn đònh cho hoạt động tín dụng. Khoảng gần 80%
tiền gửi của khách hàng là các tổ chức kinh tế và cá nhân nằm trong tay các NHTM

* Đối với các TCTD trong nước:
Các TCTD trong nước hiện có lợi thế trong thò phần tín dụng (trên 80%), trong
đó các NHTM Nhà nước chiếm khoảng 73,5% tổng dư nợ cho vay của toàn hệ thống
do họ có chi nhánh rộng, khách hàng có quan hệ truyền thống, cạnh tranh được về lãi
suất và không bò hạn chế trong giấy phép hoạt động. Các NHTM trong nước có khả
năng mở rộng thò trường tới mọi miền của đất nước và có khả năng chi phối cả dòch vụ
bán lẻ lẫn dòch vụ bán buôn khi vốn được tăng lên.
Các NHTM trong nước có vốn tự có nhỏ nên chưa đáp ứng được nhu cầu vay
vốn của các doanh nghiệp lớn và các dự án lớn. Vốn tự có nhỏ nhưng lại mở rộng tín
dụng quá lớn nên các NHTM có tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu thấp. Sau hai đợt cấp vốn
bổ sung, tổng vốn tự có của 4 NHTM Nhà nước mới đạt hơn 12.000 tỷ đồng (tương
đương 800 triệu USD), đạt tỷ lệ an toàn vốn bình quân là 5% (theo thông lệ quốc tế thì
tỷ lệ này tối thiểu là 8%). Các NHTM cổ phần bình quân vốn điều lệ đạt 100 tỷ đồng 1
ngân hàng và tỷ lệ an toàn vốn còn thấp hơn.
Các NHTMVN cho vay dựa trên đơn xin vay, phương án sản xuất kinh doanh
và tài sản thế chấp, cầm cố do các ngân hàng trong nước có khả năng rất hạn chế
trong việc thu thập, khai thác, xử lý thông tin về khách hàng.
Ngoài ra, các NHTM trong nước có nguy cơ chòu rủi ro cao do khả năng thẩm
đònh dự án và quản lý nợ yếu.
* Đối với các chi nhánh Ngân hàng nước ngoài:
Các chi nhánh Ngân hàng nước ngoài có ưu thế về lượng ngoại tệ để cho vay
do được ngân hàng mẹ đảm bảo và có thế mạnh hơn trong khả năng thẩm đònh dự án
quản lý nợ, do vậy tình trạng nợ xấu thấp và rủi ro được xử lý kòp thời. Ngoài ra,
nhóm này sẽ có khả năng mở rộng phạm vi khách hàng của mình tới các doanh nghiệp
Nhà nước lớn khi được phép nới rộng tỷ lệ huy động tiền đồng. Trong tương lai, nếu
cho phép nhóm này được hưởng đối xử quốc gia như những gì các NHTM trong nước
được phép trong huy động vốn thì nhóm này có thể tăng cho vay lên nhiều lần.
Tuy nhiên, do hạn chế về huy động nội tệ, nhìn chung thò phần tín dụng của
nhóm này chỉ chiếm khoảng 12% toàn hệ thống và không tăng hơn thò phần trong
nhiều năm gần đây, thậm chí giảm xuống còn 8,9% tính đến cuối năm 2003. Ngoài ra,

Các ngân hàng nước ngoài cũng có lợi thế là phát triển dòch vụ thanh toán
quốc tế cho các doanh nghiệp mà trước hết là cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài, dòch vụ ngân hàng điện tử cho người nước ngoài tại Việt Nam.
Tuy nhiên, các chi nhánh ngân hàng nước ngoài (ngoài chi nhánh ngân hàng
của Mỹ) hiện đang bò hạn chế về đòa điểm đặt máy rút tiền tự động, về nhận tiền gửi
của dân cư trong nước, do vậy khó có thể mở rộng dòch vụ thanh toán. Ngoài ra, các
ngân hàng nước ngoài không có mạng lưới và đòa bàn rộng như các NHTM trong nước
nên gặp khó khăn trong thanh toán nội đòa.
2.1.3/ Cơ hội và thách thức đối với các Ngân hàng Việt Nam trong hội nhập
kinh tế quốc tế:
2.1.3.1/ Cơ hội:
Hội nhập quốc tế trong lónh vực ngân hàng mang lại lợi ích cho cả nền kinh tế
và cho bản thân hệ thống ngân hàng. Hội nhập quốc tế trong lónh vực ngân hàng được
hiểu là việc thực hiện chính sách kinh tế mở cửa trong lónh vực ngân hàng. Trong nền Trang 23
kinh tế mở, cạnh tranh giữa các ngân hàng là quy luật tất yếu và là động lực của sự
phát triển. Mở cửa dòch vụ ngân hàng sẽ nâng cao năng lực cạnh tranh, cải thiện các
loại hình dòch vụ ngân hàng và ngân hàng hoạt động có hiệu quả hơn. Cạnh tranh có
thể nâng cao năng lực quản lý, trình độ cán bộ và năng lực nghề nghiệp.
Mở cửa dòch vụ ngân hàng sẽ làm lợi cho những người sử dụng: giảm chi phí
dòch vụ cho những người gửi tiền và người đi vay có nhiều cơ hội được tiếp cận với các
loại hình dòch vụ ngân hàng hiệu quả. Người gửi tiền có nhiều lựa chọn hơn về các
công cụ tiết kiệm và dễ tiếp cận hơn tới các sản phẩm tài chính. Người đi vay có thể
tiết kiệm thời gian chờ đợi và có nhiều khả năng tiếp cận hơn tới các nguồn vốn thông
qua các công cụ vay nợ mới với thời hạn vay được đa dạng hơn. Người đi vay có nhiều
cơ hội vay vốn nước ngoài.
Hội nhập kinh tế quốc tế trong dòch vụ ngân hàng sẽ giúp các ngân hàng trong
nước học hỏi được nhiều kinh nghiệm và nâng cao trình độ, công nghệ. NHTM Việt

khác vào Việt Nam hoạt động. Nhờ đó, thò trường tài chính Việt Nam sẽ phát triển
nhanh hơn.
Ngoài ra, hội nhập quốc tế tạo điều kiện để Ngân hàng Việt Nam từng bước mở
rộng hoạt động quốc tế. Hội nhập kinh tế quốc tế tạo cơ hội cho các nhà hoạch đònh
chính sách cấp cao của Ngân hàng Việt Nam được gặp gỡ và trao đổi với các đối tác
quốc tế về các vấn đề tài chính tiền tệ, diễn biến kinh tế, các chiến lược hợp tác vó
mô, qua đó nâng cao vò thế quốc tế của Ngân hàng Việt Nam trong các giao dòch tài
chính quốc tế.
2.1.3.2/ Thách thức:
Hội nhập kinh tế quốc tế mang lại nhiều lợi ích cho toàn bộ nền kinh tế nói
chung và ngành ngân hàng Việt Nam nói riêng, song hội nhập cũng có những mặt trái
của nó. Điều quan trọng là Ngân hàng Việt Nam phải biết phát huy những cơ hội có
được và khắc phục những yếu kém của chính mình, đó cũng là những thách thức đặt
ra trên con đường hội nhập.
Mở cửa thò trường trong lónh vực dòch vụ ngân hàng sẽ làm cho các TCTD
trong nước phải đối mặt với sức ép cạnh tranh lớn hơn, nguồn thu sẽ giảm và những
rủi ro của thò trường mới ngày càng nhiều hơn. Các NHTM trong nước sẽ phải cạnh
tranh bình đẳng với các ngân hàng nước ngoài trong bối cảnh họ có nhiều lợi thế hơn
về mặt tài chính, kinh nghiệm quản lý, công nghệ và dòch vụ ngân hàng hiện đại. Các
NHTM trong nước sẽ phải chấp nhận cuộc cạnh tranh quyết liệt để tồn tại và phát
triển. Quá trình cạnh tranh có thể bộc lộ những vần đề đáng lo ngại như: Hạ lãi suất
cho vay theo kiểu “phá giá” nhằm lôi kéo khách hàng về phía mình, nới lỏng các điều
kiện vay vốn trong quá trình thẩm đònh cho vay, bảo đảm tiền vay có thể dẫn đến hậu
quả là doanh nghiệp không đủ điều kiện vay vốn nhưng vẫn được ngân hàng cho vay vì
sợ mất khách hàng. Các doanh nghiệp vay một lúc nhiều NHTM, nếu các ngân hàng
này không có mối quan hệ trao đổi thông tin lẫn nhau sẽ dẫn đến rủi ro tín dụng.
Mở cửa và hội nhập hoạt động ngân hàng là chấp nhận tham gia vào luật chơi
chung bình đẳng áp dụng cho tất cả các nước. Nếu Việt Nam có thể gia nhập WTO
vào năm 2005 và thời gian chuyển đổi được phép từ 3 - 5 năm, thì đến khoảng năm
2010 sẽ không có sự phân biệt giữa các TCTD trong nước với các TCTD nước ngoài

Thơ.
Thành phố Cần Thơ được thành lập ngày 01/01/2004 trên cơ sở tách từ tỉnh Cần
Thơ theo Nghò quyết số 22/2003/QH11 ngày 26/11/2003 của Quốc Hội (khoá XI) và
Nghò đònh số 05/2004/NĐ-CP ngày 02/01/2004 của Chính Phủ, là thành phố trực thuộc
Trung ương duy nhất của đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), một trong 5 thành phố
trực thuộc Trung ương của cả nước.
Thành phố Cần Thơ với ưu thế về hệ thống sông, kênh rạch, mạng lưới giao
thông thủy bộ phát triển khá đều khắp, lại không xa các cửa biển sẽ có tác động thúc
đẩy sự giao lưu hàng hóa của Cần Thơ với các tỉnh trong vùng và cả nước .
TP Cần Thơ nằm giữa một vùng nguyên liệu nông - thủy hải sản lớn của đất
nước, với điều kiện tự nhiên sinh thái thuận lợi cho phát triển nông nghiệp toàn diện,
cơ cấu cây trồng vật nuôi phong phú, đa dạng và có điều kiện sinh trưởng nhanh, tạo
nguồn nông sản dồi dào cho phát triển công nghiệp chế biến nông hải sản.

Trích đoạn Cho vay dài hạn là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm và tối đa có thể đến 20 30 năm, được dùng để đầu tư cho các công trình chỉ định của Nhà nước, các dự án xây Đầu tư hệ thống máy in công suất 45.000 trang/giờ đạt tiêu chuẩn châu Âu và phân xưởng khắc ống đồng cho công nghệ in chất lượng cao của XN In Cần Thơ, đáp Công ty khai thác thủy sản XNK Cần Thơ: Dư nợ qúa hạn 4.175 triệu đồng trong đó có 1.344 triệu nợ khoanh và 2.831 triệu đồng nợ chờ xử lý Công ty không Dịch vụ tham gia thị trường tiền tệ: Hoạt động của dịch vụ này chủ yếu là các NHTM tham gia đầu tư vào cổ phiếu, trái phiếu Chính phủ, hay làm môi giới mua bán Cùng với việc thu thanh toán trong nước tăng thì thu từ dịch vụ thanh toán quốc tế cũng tăng lên Năm 2003 và 2004, tình hình kim ngạch xuất nhập khẩu trên
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status