một số biện pháp đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu của công ty tinh dầu và các sản phẩm tự nhiên thuộc trung tâm khoa học tự nhiên và công nghệ quốc gia - Pdf 10

Lời nói đầu
Thương mại quốc tế đóng một vai trò quan trọng vào sự thành
công của công cuộc công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước. Đặc
biệt là lĩnh vực hoạt động xuất khẩu từ lâu đã chiếm vị trí quan trọng
hàng đầu trong sự tồn tại và phát triển kinh tế của mọi quốc gia. ở
nước ta ngành tinh dầu là một ngành có lịch sử phát triển chưa lâu
nhưng sản phẩm tinh dầu của Việt Nam trong những năm qua đã có
mặt nhiều nơi trên khắp năm châu.
Tinh dầu là một sản phẩm tự nhiên được chiết suất từ thực vật và
được sử dụng rộng rãi trong kỹ nghệ chế biến thực phẩm, mỹ phẩm,
dược phẩm Trong đời sống không thể thiếu sự có mặt của tinh dầu,
nhưng không nước nào có đủ tinh dầu cần thiết. Các nước nhiệt đới
nói chung có lợi thế hơn các nước hàn đới và ôn đới không những ở
chủng loại mà chất lượng tinh dầu cũng ưu việt hơn.
Việt Nam là một nước có nhiều loại cây tinh dầu mọc hoang dã
cùng với một số loại đã được trồng. Nguồn lợi từ sản xuất và xuất
khẩu tinh dầu rất lớn và rất hiệu quả. Hiện nay đã có rất nhiều công ty
trong và ngoài nước tham gia việc sản xuất và xuất khẩu tinh dầu làm
cho thị trường này trở nên đa dạng, phong phú và sôi động.
Công ty tinh dầu và các sản phẩm tự nhiên (viết tắt là
ENTEROIL) là một Công ty có bề dày kinh nghiệm trong công tác thu
mua xuất khẩu tinh dầu. Từ Trung tâm liên kết khoa học sản xuất tinh
dầu và lương thực đến Công ty tinh dầu (1988) và hiện nay là Công ty
tinh dầu và các sản phẩm tự nhiên (1997) Công ty đã trở thành đơn vị
kinh doanh đầu tiên có hiệu quả ở Việt Nam. Tuy nhiên. trong điều
kiện cơ chế thị trường hiện nay sự tranh mua tranh bán diễn ra cực kỳ
phức tạp và lộn xộn, gây ra những đảo lộn hụt hẫng trong công tác thu
mua và xuất khẩu tinh dầu. Do không hiểu biết về tính chất, thời vụ
1
các loại tinh dầu về khả năng sản xuất tinh dầu tại các nước trên thế
giới của một số Công ty trong nước khi tham gia xuất khẩu tinh dầu đã

XUẤT KHẨU.
1-/ Tính tất yếu khách quan của thương mại quốc tế.
Thương mại quốc tế là sự trao đổi hàng hoá, dịch vụ giữa các nước thông
qua mua bán. Sự trao đổi đó là một hình thức của mối quan hệ xã hội và phản
ánh sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa những người sản xuất hàng hoá riêng
biệt của các quốc gia.
Tiền đề xuất hiện trao đổi là phân công lao động xã hội. Với sự tiến bộ của
khoa học kỹ thuật phạm vi chuyên môn hoá ngày một tăng. Số sản phẩm cùng
dịch vụ để thoả mãn nhu cầu của con người ngày càng dồi dào. Sự phụ thuộc lẫn
nhau giữa các nước ngày càng tăng. Hay nói cách khác chuyên môn hoá gắn
chặt với thương mại.
Thương mại xuất hiện từ sự đa dạng về điều kiện tự nhiên của sản xuất các
khu vực và các nước. Vì điều kiện sản xuất rất khác nhau giữa các nước nên mỗi
nước dựa vào điều kiện thuận lợi của nước mình chuyên môn hoá sản xuất một
mặt hàng cụ thể và xuất khẩu sản phẩm hàng hoá của mình để đổi lấy hàng nhập
từ những nước khác.
Theo lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam-Smith thì thương mại quốc tế
giữa các nước với nhau phải dựa trên lợi thế tuyệt đối của từng nước làm cơ sở.
Mỗi nước có lợi thế khác nhau nên sản xuất những sản phẩm khác nhau và đem
trao đổi cho nhau thì các bên đều có lợi.
Song như chúng ta đã biết phần lớn số lượng những mặt hàng đưa vào buôn
bán không xuất phát từ điều kiện tự nhiên vốn có của sản xuất. Tại sao mỗi nước
có trình độ thấp kém như nước ta lại có thể hy vọng buôn bán có lợi với các
nước có nền công nghiệp phát triển như Đức, Nhật, Pháp, ?
Nhà kinh tế học Anh David Ricardo đã trả lời câu hỏi này đầu tiên bằng lý
thuyết về lợi thế so sánh. Lý thuyết này khẳng định nếu mỗi nước chuyên môn
hoá sản phẩm mà nước đó có lợi thế tương đối (hay có hiệu quả sản xuất so sánh
cao nhất) thì thương mại có lợi cho cả hai bên. Thậm chí nếu một quốc gia có
hiệu quả thấp hơn so với quốc gia khác trong sản xuất hầu hết các loại sản phẩm
thì quốc gia đó vẫn có thể tham gia vào thương mại quốc tế để tạo lợi ích cho

quần áo từ đó tạo cho mọi người có cuộc sống khá hơn.
Sự khác nhau về sở thích và mức cầu cũng là một nguyên nhân khác để có
thương mại quốc tế. Ngay cả trong trường hợp hiệu quả tuyệt đối trong hai nơi
giống hệt nhau, buôn bán vẫn có thể diễn ra do sự khác nhau về sở thích.
Quốc gia cũng như cá nhân không thể sống riêng rẽ mà vẫn đầy đủ được.
Thương mại quốc tế có tính chất sống còn vì một lý do cơ bản là ngoại thương
mở rộng khả năng sản xuất và tiêu dùng tất cả các mặt hàng với số lượng nhiều
hơn mức có thể tiêu dùng tất cả các mặt hàng với số lượng nhiều hơn mức có thể
tiêu dùng với gianh giới của khả năng sản xuất tiêu dùng trong nước khi thực
hiện chế độ tự cung, tự cấp, không buôn bán với các nước khác.
4
Những lợi ích mà thương mại quốc tế đem lại đã làm cho thương mại và thị
trường thế giới trở thành nguồn lực của nền kinh tế quốc dân, là nguồn tiết kiệm
nước ngoài, là nhân tố kích thích sự phát triển của lực lượng sản xuất, của khoa
học công nghệ. Thương mại quốc tế là cầu nối kinh tế của mỗi quốc gia với các
nước trên thế giới, vừa là hậu cần cho sản xuất và đời sống của toàn xã hội.
2-/ Vai trò của hoạt động kinh doanh xuất khẩu.
Xuất khẩu hàng hoá là một hoạt động nằm trong lĩnh vực phân phối và lưu
thông hàng hoá của quá trình tái sản xuất mở rộng nhằm mục đích liên kết sản
xuất với tiêu dùng của nước này với nước khác. Hoạt động đó không chỉ diễn ra
giữa các cá thể riêng biệt mà có sự tham gia của toàn bộ hệ thống kinh tế với sự
điều hành của Nhà nước.
Chính vì vậy, xuất khẩu có vai trò to lớn đến sự phát triển kinh tế xã hội
của mỗi quốc gia. Nền sản xuất xã hội một nước phát triển như thế nào phụ
thuộc rất lớn vào lĩnh vực kinh doanh này. Đối với những nước mà trình độ phát
triển kinh tế còn thấp như nước ta những nhân tố tiềm năng là: tài nguyên thiên
nhiên và lao động. Còn những yếu tố thiết hụt là vốn, kỹ thuật, thị trường và khả
năng quản lý. Chiến lược hướng về xuất khẩu về thực chất là giải pháp kết hợp
chúng với tiềm năng trong nước về lao động và tài nguyên thiên nhiên để tạo ra
sự tăng trưởng mạnh cho nền kinh tế góp phần rút ngắn khoảng cách chênh lệch

xuất, nâng cao năng lực sản xuất trong nước.
* Xuất khẩu có vai trò kích thích đổi mới trang thiết bị và công nghệ sản xuất.
Hoạt động xuất khẩu là hoạt động hướng ra thị trường thế giới, một thị
trường ngày càng cạnh tranh quyết liệt. Sự tồn tại và phát triển của hàng hoá
xuất khẩu phụ thuộc rất lớn vào chất lượng, giá cả, do đó phụ thuộc rất lớn vào
kỹ thuật công nghệ sản xuất chúng. Điều này thúc đẩy các doanh nghiệp trong
nước luôn luôn tìm tòi sáng tạo để cải tiến nâng cao chất lượng công nghệ sản
xuất. Mặt khác xuất khẩu trong nền kinh tế còn đòi hỏi các doanh nghiệp phải
đổi mới hoàn thiện công tác quản trị sản xuất và kinh doanh đòi hỏi nâng cao tay
nghề người lao động.
* Xuất khẩu có tác động tích cực với việc giải quyết công ăn việc làm và
cải thiện đời sống của nhân dân.
Thông qua hoạt động sản xuất hàng hoá xuất khẩu với nhiều công đoạn
khác nhau thu hút một số lượng lớn lao động với thu nhập không thấp tăng giá
trị ngày công lao động tăng thu nhập quốc dân nâng cao đời sống vật chất và
tinh thần cho người lao động.
* Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối
ngoại.
Đẩy mạnh xuất khẩu có vai trò tăng cường sự hợp tác quốc tế với các nước,
nâng cao địa vị và vai trò của quốc gia trên thương trường quốc tế. Xuất khẩu và
công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu thúc đẩy quĩ tín dụng, đầu tư, mở rộng vận
tải quốc tế. Ngược lại chính các quan hệ kinh tế đối ngoại mà chúng ta vừa kể
trên lại tạo tiền đề cho mở rộng xuất khẩu.
6
Đối với nước ta, hướng mạnh về xuất khẩu là một trong những mục tiêu
quan trọng trong phát triển kinh tế đối ngoại qua đó tranh thủ đón bắt thời cơ
ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại rút ngắn sự chênh lệch về trình độ phát
triển của Việt Nam so với thế giới.
b. Vai trò của xuất khẩu đối với doanh nghiệp.
Ngày nay xu hướng vươn ra thị trường nước ngoài là một xu hướng chung

7
* Xuất khẩu chính ngạch: Đây là phương thức xuất khẩu theo thông lệ
quốc tế. Thông thường hình thức này được áp dụng với những đơn vị kinh
doanh mang tính chất lớn, có thị trường ổn định.
* Xuất khẩu tiểu ngạch: Đây là hình thức xuất khẩu mà hàng hoá khi xuất
khẩu phải có tờ khai xuất khẩu tiểu ngạch và biên lai nộp thuế xuất khẩu tiểu
ngạch.
c. Theo mức độ quản lý của Nhà nước, phân thành:
* Xuất khẩu có hạn ngạch (Quota): là hình thức xuất khẩu phải do Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt căn cứ vào đề nghị của Bộ Thương mại và Uỷ ban
kế hoạch Nhà nước.
* Xuất khẩu tự do: là hình thức xuất khẩu mà hàng hoá xuất khẩu không
thuộc diện mặt hàng được Nhà nước quản lý bằng hạn ngạch.
d. Theo nguồn gốc và hình thức giao hàng, phân thành:
* Xuất khẩu trực tiếp: là hình thức đơn vị ngoại thương đã đặt mua sản
phẩm của các đơn vị sản xuất trong nước (mua đứt). Sau đó xuất khẩu những
sản phẩm này ra nước ngoài với danh nghĩa là hàng của đơn vị mình.
Các bước tiến hành:
+ Ký kết hợp đồng nội, mua hàng, trả tiền hàng cho các đơn vị sản xuất
trong nước.
+ Ký kết hợp đồng ngoại, giao hàng và thanh toán tiền hàng với bên nước
ngoài.
* Xuất khẩu uỷ thác: trong hình thức này đơn vị ngoại thương đóng vai trò là
trung gian xuất khẩu, làm thay cho đơn vị sản xuất (bên có hàng) làm thủ tục cần
thiết để xuất hàng và hưởng phần trăm phí uỷ thác theo giá trị hàng xuất khẩu.
Các bước tiến hành:
+ Ký kết hợp đồng uỷ thác xuất khẩu cho đơn vị sản xuất trong nước.
+ Ký kết hợp đồng với bên nước ngoài, giao hàng và thanh toán tiền.
+ Nhận phí uỷ thác từ đơn vị sản xuất trong nước. Ưu điểm của hình thức
này là mức độ rủi ro thấp, trách nhiệm ít, người đứng ra xuất khẩu không phải là

lại để chi trả theo yêu cầu của bên chủ nợ.
+ Trong nghiệp vụ mua đối lưu thường một bên giao thiết bị cho bên kia
rồi mua lại thành phẩm hoặc bán thành phẩm.
+ Trong nghiệp vụ chuyển giao nghĩa vụ bên nhận hàng chuyển khoản nợ
về tiền hàng cho một bên thứ ba.
+ Trong giao dịch bồi hoàn: người ta đổi hàng hoá hoặc dịch vụ lấy những
dịch vụ hoặc ưu huệ.
* Xuất khẩu theo Nghị định thư
Đây là hình thức xuất khẩu hàng hoá (thường là hàng trả nợ) được ký theo
Nghị định thư giữa hai Chính phủ. Xuất theo hình thức này có nhiều ưu đãi như
khả năng thanh toán chắc chắn (do Nhà nước trả cho đơn vị xuất khẩu), giá cả
nhìn chung dễ chấp nhận.
9
Tóm lại, với các hình thức xuất khẩu trên việc áp dụng hình thức nào còn
phụ thuộc vào bản thân doanh nghiệp và phải đáp ứng được yêu cầu của cả hai
bên sản xuất, gia công trong nước cũng như bên nước ngoài.
II-/ NỘI DUNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH XUẤT KHẨU.
1-/ Nghiên cứu thị trường.
Vấn đề nghiên cứu thị trường là một việc làm cần thiết đầu tiên đối với bất
cứ công ty nào muốn tham gia vào thị trường thế giới. Nghiên cứu thị trường
theo nghĩa rộng là quá trình điều tra để tìm triển vọng bán hàng cho một sản
phẩm cụ thể hay một nhóm sản phẩm kể cả phương pháp thực hiện mục tiêu đó.
Quá trình nghiên cứu thị trường là quá trình thu thập thông tin, số liệu về thị
trường, so sánh, phân tích những số liệu đó và rút ra kết luận. Những kết luận
này giúp cho quản lý đưa ra quyết định đúng đắn để lập kế hoạch Marketing.
Công tác nghiên cứu thị trường phải trả lời một số câu hỏi quan trọng sau:
1. Nước nào là thị trường có triển vọng nhất đối với sản phẩm của công ty?
2. Khả năng số lượng bán ra được bao nhiêu?
3. Sản phẩm cần có những thích ứng gì trước đòi hỏi của thị trường?
4. Nên chọn phương pháp bán nào cho phù hợp?

- Điều kiện về qui chế và pháp lý.
- Điều kiện về tài chính.
- Điều kiện về kỹ thuật.
- Điều kiện về con người, tâm lý,
b. Nghiên cứu giá cả hàng hoá trên thị trường.
Nghiên cứu về giá cả hàng hoá trên thị trường thế giới là một vấn đề rất
quan trọng đối với bất cứ một đơn vị kinh doanh xuất khẩu nào. Giá cả hàng hoá
trên thị trường phản ánh quan hệ cung cầu hàng hoá trên thị trường thế giới và
có ảnh hưởng đối với hiệu quả kinh doanh xuất khẩu.
Giá quốc tế có tính chất đại diện đối với một loại hàng hoá nhất định trên
thị trường thế giới. Giá đó được dùng trong giao dịch thương mại thông thường,
không kèm theo một điều kiện đặc biệt nào và được thanh toán bằng ngoại tệ tự
do chuyển đổi.
Xu hướng biến động giá cả của các loại hàng hoá thế giới rất phức tạp. Có
lúc tăng, giảm cá biệt có trường hợp ổn định nhưng nói chung xu hướng đó có
tính chất tạm thời.
Để có thể dự đoán được xu hướng biến động của giá cả theo từng loại hàng
hoá trên thị trường thế giới, phải dựa vào kết quả nghiên cứu và dự đoán tình
hình thị trường từng loại hàng hoá, đồng thời đánh giá chính xác các nhân tố tác
động đến xu hướng biến đổi giá cả.
c. Nghiên cứu dung lượng thị trường và các yếu tố ảnh hưởng đến nó.
Dung lượng thị trường là khối lượng hàng hoá được giao trên một thị
trường nhất định (thế giới, khu vực, dân tộc, ) trong một thời gian dài nhất định
(thường là 1 năm).
Dung lượng thị trường không cố định mà nó thay đổi tuỳ theo tình hình do
nhiều tác động của nhiều nhân tố tổng hợp trong những giai đoạn nhất định. Các
11
nhân tố làm cho dung lượng thị trường thay đổi có rất nhiều nhóm nhưng ta có
thể chia làm 3 nhóm, căn cứ vào thời gian ảnh hưởng của nó đối với thị trường.
- Nhóm 1: Các nhân tố làm cho dung lượng thị trường biến đổi có tính chất

Phương án này là kế hoạch hoạt động của đơn vị nhằm đạt tới những mục tiêu
xác định trong kinh doanh. Việc lập phương án kinh doanh gồm các bước:
a. Đánh giá thị trường và thương nhân.
12
Trong bước này người lập dự án rút ra những kết luận cụ thể về thương
nhân, thị trường trong nước và nước ngoài. Từ đó xây dựng phương hướng kinh
doanh, chiến lược kinh doanh cụ thể phù hợp.
b. Lựa chọn mặt hàng, thời cơ, điều kiện và phương thức kinh doanh.
Sự lựa chọn này phải có tính thuyết phục trên cơ sở phân tích tình hình về
mặt hàng, nguồn hàng (số lượng, chất lượng, chủng loại, khả năng thu mua để
xuất khẩu, ) thời cơ thời điểm để thu mua tập trung nguồn hàng và giao dịch
cho khách. Đồng thời lựa chọn phương thức kinh doanh nào có hiệu quả nhất
(uỷ thác, liên doanh, liên kết, mua đứt bán đoạn) và phải tính đến tỷ suất ngoại
tệ (tỉ giá hối đoái giữa tiền Việt nam đồng thu về để có một đơn vị ngoại tệ).
c. Mục tiêu phương án và sơ bộ đánh giá hiệu quả kinh doanh.
Những mục tiêu đề ra trong một phương án kinh doanh bao giờ cũng là
mục tiêu cụ thể như: sẽ bán được bao nhiêu hàng với giá cả ra sao, sẽ xâm nhập
vào thị trường nào, các khoản thuế phải nộp ra sao,
Sau khi xác định một số mục tiêu cụ thể trên ta có thể sơ bộ đánh giá hiệu
quả kinh doanh thông qua nhiều chỉ tiêu khácnhau trong đó chủ yếu là:
- Chỉ tiêu thời gian hoàn vốn.
- Chỉ tiêu tỷ suất ngoại tệ.
- Chỉ tiêu điểm hoà vốn.
d. Biện pháp thực hiện.
Những biện pháp này là những công cụ để đạt được mục tiêu đề ra. Những
biện pháp này có thể bao gồm biện pháp trong nước (đầu tư vào sản xuất cải tiến
bao bì, ký hợp đồng kinh tế, tăng giá thu mua, ) và cả những biện pháp nước
ngoài (đẩy mạnh quảng cáo, lập chi nhánh ở nước ngoài, ).
4-/ Đàm phán ký kết hợp đồng xuất khẩu hàng hoá.
a. Chào hàng.

e) Điều kiện về giá cả.
f) Điều kiện về bao bì, đóng gói, ký mã hiệu.
g) Điều kiện về cơ sở giao hàng.
h) Điều kiện về thời gian, địa điểm, phương tiện giao hàng.
i) Điều kiện về thanh toán.
k) Điều kiện về bảo hành hàng hoá (nếu có).
l) Điều kiện về khiếu nại và trọng tài.
m) Điều kiện về các trường hợp bất khả kháng.
n) Chữ ký của hai bên.
Với những hợp đồng phức tạp nhiều mặt hàng thì có thêm các phụ kiện là
bộ phận không tách rời của hợp đồng.
14
5-/ Tổ chức thực hiện hợp đồng xuất khẩu.
Sau khi ký hợp đồng xuất khẩu, bên xuất khẩu và nhập khẩu phải tiến hành tổ
chức thực hiện hợp đồng. Việc tổ chức thực hiện hợp đồng bao gồm các bước sau:
Bước 1: Xin giấy phép xuất khẩu.
Xin giấy phép xuất khẩu là vấn đề quan trọng đầu tiên về mặt pháp lý để
tiến hành các khâu tiếp theo trong quá trình xuất khẩu hàng hoá. Nếu hàng hoá
có trong Nghị định thư thì không cần xin giấy phép. Hiện nay một số hàng hoá
không nằm trong danh mục quản lý xuất nhập khẩu của Nhà nước thì cũng
không cần xin giấy phép.
Hiện nay việc cấp giấy phép xuất khẩu được qui định như sau:
- Bộ Thương mại cấp giấy phép xuất nhập khẩu từng chuyến hàng mậu
dịch hay cả lô hàng.
- Tổng cục Hải quan cấp giấy phép hàng phi mậu dịch:
Hồ sơ xin giấy phép gồm:
+ Đơn xin giấy phép xuất khẩu.
+ Phiếu hạn ngạch.
+ Bản sao hợp đồng đã ký kết với nước ngoài hay bản sau L/C
Mỗi giấy phép chỉ cấp cho một chủ hàng kinh doanh xuất nhập khẩu một

đường biển thường gặp rất nhiều rủi ro. Do vậy phải mua bảo hiểm hàng hoá.
Nếu mua bảo hiểm thuộc trách nhiệm của người xuất khẩu thì cần tuân thủ
nguyên tắc đảm bảo an toàn cho hàng hoá vận chuyển vừa tiết kiệm chi phí bảo
hiểm. Việc mua bảo hiểm loại nào cần căn cứ vào tính chất hàng hoá, tình trạng
bao bì, tình hình an ninh, chính trị xã hội các nước có liên quan, tình hình thời
tiết. Có 2 loại hợp đồng bảo hiểm thường được dùng:
- Hợp đồng bảo hiểm bao.
- Hợp đồng bảo hiểm chuyến.
Bước 6: Làm thủ tục hải quan.
Thủ tục hải quan là cách thức để Nhà nước quản lý hoạt động xuất nhập
khẩu. Thủ tục hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu gồm:
- Khai báo và tiếp nhận hồ sơ hải quan.
+ Người xuất khẩu phải tự khai thác các đối tượng làm thủ tục hải quan
theo mẫu tờ khai do Tổng cục trưởng cục Hải quan qui định.
+ Nộp và xuất trình bộ hồ sơ Hải quan: đối với hàng hoá xuất khẩu, bộ hồ
sơ gồm:
• Tờ khai hải quan.
• Hợp đồng thương mại.
• Bản kê chi tiết (đối với hàng hoá không đồng nhất).
• Các giấy tờ khác (đối với hàng hoá xuất khẩu có điều kiện hoặc có
qui định riêng).
16
- Xuất trình và kiểm tra hàng hoá:
+ Xuất trình đầy đủ hàng hoá để cơ quan hải quan kiểm tra theo thời gian
và địa điểm quy định.
+ Bố trí phương tiện và nhân công phục vụ việc kiểm tra hàng hoá của cơ
quan hải quan.
- Thông báo thuế, thu thuế và nộp thuế:
Việc thông báo thuế, thu thuế, nộp thuế tiến hành theo qui định của Luật
thuế xuất khẩu và các luật thuế khác có liên quan.

- Người xuất khẩu: đôn đốc người nhập khẩu mở L/C đúng hạn và nội dung
như hợp đồng đã quy định. Sau khi nhận được L/C người xuất khẩu phải kiểm
tra so sánh với nội dung trong hợp đồng nếu chưa phù hợp phải yêu cầu bên
nhập khẩu sửa lại.
Có L/C người xuất khẩu tiến hành làm những công việc thực hiện hợp
đồng. Đến thời hạn giao hàng, cùng với việc giao hàng người xuất khẩu phải lập
bộ chứng từ hoàn hảo phù hợp với nội dung trong L/C.
Người nhập khẩu: việc đầu tiên phải làm là mở L/C. Thời gian mở L/C nếu
hợp đồng không qui định gì thì phụ thuộc vào thời gian giao hàng. Thông
thường L/C được mở khoảng 15-20 ngày trước khi đến thời gian giao hàng. Cơ
sở để mở L/C là các điều khoản của hợp đồng nhập khẩu. Giấy xin mở tín dụng
khoản nhập khẩu kèm theo bản sao hợp đồng sau khi được cơ quan quản lý kế
hoạch thu chi ngoại hối xét duyệt được chuyển đến ngân hàng ngoại thương
cùng với hai uỷ nhiệm chi: một uỷ nhiệm chi để ký quĩ theo qui định về việc mở
L/C và một uỷ nhiệm chi trả thủ tục phí cho ngân hàng về việc mở L/C. Khi
chứng từ gốc từ nước ngoài đến ngân hàng ngoại thương, đơn vị kinh doanh
phải kiểm tra chứng từ và nếu hợp lệ thì trả tiền cho ngân hàng. Sau đó đơn vị
kinh doanh mới nhận được chứng từ để đi nhận hàng.
* Thanh toán bằng phương thức nhờ thu.
Nếu hợp đồng xuất khẩu qui định thanh toán tiền hàng bằng phương thức
nhờ thu thì ngay khi giao hàng bên xuất khẩu phải hoàn thành việc lập chứng từ
và phải xuất trình cho ngân hàng để uỷ thác ngân hàng đổi tiền hộ. Chứng từ
thanh toán phải hợp lệ chính xác và nhanh chóng giao cho ngân hàng nhằm thu
lại vốn. Sau khi nhận chứng từ ở ngân hàng ngoại thương đơn vị kinh doanh
nhập khẩu được kiểm tra chứng từ trong thời gian nhất định. Nếu trong thời gian
này đơn vị kinh doanh nhập khẩu không có lý do chính đáng từ chối thanh toán
thì ngân hàng xem như yêu cầu đòi tiền là hợp lệ.
Quá thời hạn qui định cho việc kiểm tra chứng từ mọi tranh chấp giữa bên
bán và bên mua về việc thanh toán tiền hàng sẽ được trực tiếp giải quyết giữa
các bên đó hoặc qua cơ quan trọng tài.

Ngày nay, khoa học công nghệ tác động đến tất cả các lĩnh vực kinh tế xã
hội mang lại nhiều lợi ích, trong xuất khẩu nó cũng mang lại hiệu quả cao. Nhờ
sự phát triển của hệ thống bưu chính viễn thông, các doanh nghiệp ngoại thương
có thể đàm phán trực tiếp với khách hàng qua Telex, điện tín, Fax, giảm bớt
những chi phí đi lại, xúc tiến hoạt động xuất khẩu. Các nhà kinh doanh dễ dàng
nắm bắt các thông tin về thị trường một cách chính xác kịp thời. Bên cạnh đó
yếu tố công nghệ còn tác động tới quá trình sản xuất gia công chế biến hàng xuất
khẩu, khoa học công nghệ còn tác động tới các lĩnh vực như vận tải hàng hoá,
19
các kỹ nghệ nghiệp vụ trong ngành ngân hàng, Đó cũng chính là các yếu tố tác
động đến xuất khẩu.
* Cơ sở hạ tầng:
Cơ sở hạ tầng tốt là một yếu tố không thể thiếu nhằm góp phần thúc đẩy
hoạt động xuất khẩu. Cơ sở hạ tầng bao gồm: đường sá, bến bãi, hệ thống vận
tải, hệ thống thông tin, hệ thống ngân hàng, có ảnh hưởng đến hoạt động xuất
khẩu. Nếu hệ thống này hiện đại sẽ thúc đẩy hiệu quả hoạt động xuất khẩu
ngược lại sẽ kìm hãm hoạt động xuất khẩu.
b. Các chính sách và qui định của Nhà nước.
Thông qua việc đề ra các chính sách và qui định của Nhà nước thiết lập
môi trường pháp lý nhằm điều chỉnh các hoạt động của các doanh nghiệp nên nó
ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động xuất khẩu. Chúng ta có thể xem xét tác động
của các chính sách dưới các khía cạnh sau:
* Tỉ giá hối đoái:
Tỉ giá hối đoái là quan hệ so sánh tỉ lệ giữa giá trị của hai đồng tiền của hai
nước với nhau.
Tỉ giá hối đoái và chính sách tỉ giá hối đoái là nhân tố quan trọng để thực
hiện chiến lược hướng ngoại đẩy mạnh xuất khẩu. Một tỷ giá hối đoái chính thức
được điều chỉnh theo quá trình lạm phát có liên quan gọi là tỉ giá hối đoái thực tế.
Nếu tỉ giá hối đoái chính thức là không đổi và tỉ giá hối đoái thực tế tăng lên thì
các nhà xuất khẩu các sản phẩm sơ chế là người bán theo mức giá cả quốc tế nằm

2. Nhân tố tài nguyên và địa lý.
Nguồn tài nguyên thiên nhiên là một trong những nhân tố quan trọng làm
cơ sở cho quốc gia xây dựng cơ cấu ngành và vùng để xuất khẩu. Nó góp phần
tác động ảnh hưởng đến loại hàng qui mô hàng xuất khẩu của quốc gia.
Vị trí địa lý có vai trò như là nhân tố tích cực hoặc tiêu cực đối với sự phát
triển nền kinh tế cũng như xuất khẩu của một quốc gia. Vị trí địa lý thuận lợi là
điều kiện cho phép một quốc gia tranh thủ được phân công lao động quốc tế
hoặc thúc đẩy xuất khẩu dịch vụ như vận tải ngân hàng,
3. Ảnh hưởng của tình hình kinh tế - xã hội thế giới.
Trong xu thế toàn cầu hoá thì phụ thuộc giữa các nước ngày càng tăng vì
vậy mà mỗi biến động của tình hình kinh tế - xã hội ở nước ngoài đều có những
ảnh hưởng nhất định đến hoạt động kinh tế trong nước. Lĩnh vực hoạt động xuất
khẩu là lĩnh vực trực tiếp quan hệ với các chủ thể nước ngoài nên nó càng rất
nhạy cảm. Bất kì một sự thay đổi nào về chính sách xuất khẩu, tình hình lạm
phát, thất nghiệp hay tăng trưởng và suy thoái kinh tế, của các nước khác đều
ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp xuất khẩu nước ta.
B-/ Nhóm nhân tố thuộc bản thân doanh nghiệp.
1. Nhân tố bộ máy quản lý hay tổ chức hành chính.
Là sự tác động trực tiếp của các cấp lãnh đạo xuống CBCNV nhằm mục
đích thực hiện hoạt động của doanh nghiệp. Để quản lý tập trung thống nhất
phải sử dụng phương pháp hành chính. Việc thiết lập cơ cấu tổ chức của bộ máy
doanh nghiệp cũng như cách thức điều hành của các cấp lãnh đạo là nhân tố
21
quyết định tính hiệu quả trong kinh doanh. Nếu một doanh nghiệp có cơ cấu tổ
chức hợp lý có cách điều hành sáng suốt sẽ góp phần thúc đẩy hiệu quả hoạt
động kinh doanh. Ngược lại, nếu cơ cấu tổ chức xệch xoạc cách điều hành kém
cỏi sẽ dẫn đến hiệu quả thấp trong hoạt động kinh doanh.
2. Nhân tố con người.
Con người được đặt ở vị trí trung tâm của mọi hoạt động. Hoạt động xuất
khẩu hàng hoá đặc biệt phải nhấn mạnh yếu tố con người bởi vì nó là chủ thể

tế, thâm nhập thị trường nước ngoài. Ngân cao hiệu quả hoạt động kinh doanh
thương mại quốc tế còn là yêu cầu tất yếu của việc thực hiện qui luật tiết kiệm.
Hiệu quả kinh tế - xã hội chủ yếu được thẩm định bởi thị trường là tiêu
chuẩn cơ bản để xác định phương hướng hoạt động kinh doanh thương mại quốc
tế. Đánh giá kết quả hoạt động xuất nhập khẩu không chỉ căn cứ vào mức độ lợi
nhuận, tuy rằng lợi nhuận là lý do tồn tại của doanh nghiệp mà còn đánh giá cả
hiệu quả kinh tế xã hội nữa. Đó là chỉ tiêu về tiết kiệm lao động xã hội hay tăng
năng suất lao động xã hội.
Hiệu quả của hoạt động kinh doanh thương mại quốc tế cũng như hiệu quả
kinh tế của bất kỳ hoạt động kinh tế nào được biểu hiện ở mối tương quan giữa
kết quả sản xuất và chi phí sản xuất mới chỉ đặc trưng được mặt lượng của hiệu
quả kinh tế. Cùng với sự biểu hiện về mặt số lượng hiệu quả kinh tế của bất kỳ
hoạt động kinh tế nào còn có tính chất lượng. Tính chất lượng của hiệu quả là
tiêu chuẩn của hiệu quả. Tiêu chuẩn là căn cứ cơ bản và chủ yếu để nhận thức rõ
thực tế khách quan, đảm bảo nhận thức chính xác sự vật hoặc hiện tượng nghiên
cứu và phân biệt chúng đúng sai.
Khi xác định hiệu quả kinh doanh thương mại quốc tế cần phải tính toán
hiệu quả của tất cả các chi phí lao động xã hội không phải chỉ ở từng khâu riêng
biệt của chi phí lao động xã hội mà tất cả các khâu của nền kinh tế quốc dân có
liên quan không chỉ tính bởi các kết quả những lợi ích về mặt kinh tế mà còn
phải tính toán đến tất cả các phương diện chính trị xã hội. Như vậy khi xem xét
hiệu quả kinh tế của kinh doanh thương mại quốc tế không những phải nắm
vững tiêu chuẩn hiệu quả mà còn quán triệt quan điểm toàn diện.
Tiêu chuẩn hiệu quả kinh doanh trong thương mại quốc tế được biểu hiện
gián tiếp thông qua một hệ thống chỉ tiêu. Nếu tiêu chuẩn biểu hiện mặt chất
lượng của hiệu quả thì hệ thống chỉ tiêu đặc trưng số lượng của hiệu quả kinh tế
của doanh nghiệp thương mại quốc tế.
2-/ Phân loại hiệu quả kinh tế.
Trong công tác quản lý phạm trù hiệu quả kinh tế của kinh doanh thương
mại quốc tế được biểu hiện những đặc trưng ý nghĩa cụ thể khác nhau. Việc

định hiệu quả tuyệt đối khi phải bỏ chi phí ra để thực hiện một thương vụ nào
đó, để biết được với những chi phí bỏ ra sẽ thu được những lợi ích cụ thể và mục
tiêu cụ thể gì, từ đó đi đến quyết định có nên bỏ ra chi phí hay không cho thương
vụ đó. Vì vậy trong công tác quản lý kinh doanh bất kỳ công việc gì đòi hỏi phải
bỏ chi phí, chi với một lượng lớn hay nhỏ đều phải tính toán hiệu quả tuyệt đối.
Hiệu quả so sánh được xác định bằng cách so sánh các chỉ tiêu hiệu quả
tuyệt đối của các phương án với nhau. Nói cách khác hiệu quả so sánh chính là
mức chênh lệch về hiệu quả tuyệt đối của các phương án. Mục đích chủ yếu của
việc tính toán này là so sánh mức độ hiệu quả của các phương án để từ đó cho
phép lựa chọn một phương án có hiệu quả cao nhất.
3-/ Các chỉ tiêu hiệu quả.
a. Chỉ tiêu về lợi nhuận.
24
Đây là chỉ tiêu cơ bản quan trọng nhất để đánh giá hiệu quả kinh doanh ở
công ty. Lợi nhuận là mục đích của kinh doanh là chỉ tiêu hiệu quả có tính chất
tổng hợp phản ánh kết quả cuối cùng của hoạt động kinh doanh. Tính toán lợi
nhuận có liên quan đến tính toán doanh thu và chi phí.
• Tổng lợi nhuận = Tổng doanh thu - Tổng chi phí
Tổng doanh thu là tonà bộ số tiền thu được qua việc bán hàng hoá hoặc
dịch vụ trong một thời gian nhất định (thường là 1 năm).
Tổng chi phí gồm chi phí lưu thông, chi phí cho hoạt động dịch vụ tiền bị
phạt, các chi phí khác, trong một thời gian nhất định (thường là 1 năm).
• Lợi nhuận xuất nhập khẩu:
Lợi nhuận = ∑ pqt - ∑ F
P : là đơn giá hàng xuất (nhập) khẩu.
q : là khối lượng hàng xuất (nhập) khẩu.
t : là tỉ giá hối đoái ở thời điểm thanh toán.
F : là chi phí xuất (nhập) khẩu.
b. Mức doanh lợi xuất khẩu:
D

: tổng chi phí của việc sản xuất đơn vị sản phẩm xuất khẩu bao
gồm cả vận tải đến cảng suất (giá trong nước).
25

Trích đoạn THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU TINH DẦU VÀ CÁC SẢN PHẨM TỰ NHIấN TẠI CễNG TY TINH DẦU BẢNG 4: CƠ CẤU THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU V-/ ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH XUẤT KHẨU TINH DẦU VÀ CÁC SẢN PHẨM TỰ NHIấN TẠI CễNG TY GIAI ĐOẠN 1997-2001. BIỂU ĐỒ 2: DOANH THU, CHI PHÍ, LỢI NHUẬN TRƯỚC THUẾ, LỢI NHUẬN SAU THUẾ CỦA HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU GIAI ĐOẠN 1997- BẢNG 6: TỶ SUẤT LỢI NHUẬN THEO CHI PHÍ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status