phát triển hợp tác xã kiểu mới trong nông nghiệp trên địa bàn tỉnh quảng nam - Pdf 10

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hợp tác xã (HTX) là một tổ chức kinh tế mang tính xã hội và nhân văn
sâu sắc. Có thể nói, ý tưởng HTX là một ý tưởng hợp tác kinh tế vĩ đại của
các bậc tiền bối. Ý tưởng này đã hình thành một cách tự nhiên từ những đòi
hỏi, nhu cầu thực tế của con người trong hoạt động kinh tế.
Con đường hợp tác đưa nông nghiệp, nông thôn quá độ lên CNXH ở
nước ta đã trải qua hơn 50 năm. Quá trình ấy đã có những biến đổi, những
bước thăng trầm do những điều kiện khách quan và những nhân tố sai lầm
chủ quan. Song kinh tế tập thể mà nòng cốt là HTX trong những năm qua, đã
có nhiều đóng góp quan trọng vào quá trình phát triển KT-XH của đất nước.
Thực hiện các chủ trương, chính sách đổi mới kinh tế của Đảng và Nhà
nước, đặc biệt thực hiện Nghị quyết 13 Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương
Đảng (Khoá IX) “Về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế
tập thể”, phong trào phát triển HTXNN ở Quảng Nam không ngừng được
củng cố và ngày càng khẳng định vai trò hết sức to lớn, nhất là trong nông
nghiệp, nông thôn, không những thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế mà còn
phát triển ngành nghề, giải quyết việc làm Trong củng cố và phát triển HTX
ở Quảng Nam đã khơi dậy và đáp ứng nhu cầu hợp tác đa dạng trong nhân
dân, tôn trọng tính tự nguyện, tự chủ của HTX, xuất phát từ lợi ích của xã
viên, người lao động, chăm lo phúc lợi tập thể, hỗ trợ giúp đỡ người nghèo,
đóng góp tích cực vào xây dựng và phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn Từ
đó tạo được sự phát triển bền vững, cán bộ xã viên gắn bó với HTX không chỉ
đơn thuần về lợi ích kinh tế mà còn thể hiện tính xã hội tốt đẹp, sâu sắc. Qua
thực tiễn các HTX tiên tiến, sự kết hợp hài hoà giữa tính tự chủ của kinh tế hộ
xã viên với HTX thông qua mối quan hệ dịch vụ, trợ giúp chuyển giao các
tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ mà bản thân từng hộ xã viên không thể
1
tự làm được hoặc làm không có hiêụ quả, cả trong lĩnh vực nông nghiệp và
phi nông nghiệp. Qua đó, kinh tế hộ càng phát triển đã tạo tiền đề quan trọng
để tiếp tục phát triển HTX. Mối quan hệ giữa kinh tế hộ xã viên với HTX

CNH-HĐH.
2. Tình hình nghiên cứu
Đây là mảng đề tài được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm trong quá
trình thực hiện CNH-HĐH nông nghiệp và nông thôn ở nước ta.
Trên phạm vị địa bàn tỉnh Quảng Nam đã có một số công trình nghiên
cứu như: HTX Duy Sơn 2, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam - Những gợi
mở từ thực tiễn về con đường đưa nông nghiệp, nông thôn lên CNXH của tập
thể tác giả, GS.TS Lưu Văn Sùng; PGS.TS. Ngô Quang Minh; Thạc sĩ.
Nguyễn Phong Duễ; TS. Ngô Huy Đức; TS. Lê Minh Quân; Nguyễn Thanh
Quang PGĐ Sở NN&PTNT Quảng Nam, tháng 4/2001.
Đề tài khoa học Mô hình HTX kiểu mới trong nông nghiệp ở Quảng
Nam- Bước đi và giải pháp của Kỹ sư Nguyễn Cứu Quốc.v.v
Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập những khía cạnh khác
nhau trên lĩnh vực này. Song, với giác độ chung trên các lĩnh vực xây dựng và
phát triển mô hình HTX kiểu mới trong nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng
Nam chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống về chủ đề này.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích của luận văn là phân tích thực trạng tổ chức và quản lý
HTXNN và đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát triển HTX kiểu mới
trong nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.
3.2. Để thực hiện được mục đích trên luận văn có nhiệm vụ sau:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về HTX kiểu mới trong nông nghiệp.
- Phân tích quá trình hình thành và phát triển HTX kiểu mới trong nông
nghiệp tỉnh Quảng Nam những năm vừa qua (2001-2005).
Đề xuất những giải pháp để phát triển HTX kiểu mới trong nông
nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Nam trong thời gian tới.
3
4. Đối tương và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu là các HTX kiểu mới trong nông nghiệp
4.2. Phạm vi nghiên cứu các HTX kiểu mới trong nông nghiệp trên địa

phát triển của chủ nghĩa tư bản theo 3 giai đoạn: hiệp tác giản đơn, công trường thủ
công và đại công nghiệp cơ khí. Đó là ba giai đoạn phát triển có tính tuần tự của
LLSX, tương ứng với nó là QHSX phù hợp, bao gồm cả quan hệ sở hữu, quan hệ
phân phối và quan hệ quản lý với những hình thức tổ chức sản xuất tương ứng dựa
trên chế độ hiệp tác. C. Mác đã cho rằng hình thức hiệp tác (giản đơn) là điểm xuất
phát lịch sử và lôgích của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa [24, tr.468]. Sự
khởi đầu này bắt nguồn từ sự mở rộng các xưởng sản xuất của những người thợ cả
làm nghề thủ công có tính chất phường hội thành các công xưởng. Trong các công
xưởng đó, sự hiệp tác được hiểu là sự hoạt động của một số công nhân làm việc
trong cùng một thời gian, trên cùng một không gian (hoặc trên cùng một địa điểm
lao động) để sản xuất ra cùng một loại hàng hóa dưới sự điều khiển của một nhà tư
bản [24, tr.468].
Tuy nhiên, ngay trong giai đoạn hiệp tác đơn giản, khái niệm hiệp tác đã
được mở rộng hơn, đó là hình thức lao động trong đó nhiều người làm việc theo
5
kế hoạch bên cạnh nhau và cùng với nhau, trong cùng một quá trình sản xuất
hay trong những quá trình khác nhau nhưng gắn liền với nhau [24, tr.478].
Theo tiến trình phát triển của lịch sử, LLSX không ngừng phát triển và
ngày càng nâng cao thì tất yếu sẽ xuất hiện các QHSX và hình thức tổ chức sản
xuất tương ứng. Chuyển sang giai đoạn công trường thủ công tư bản chủ nghĩa,
tuy cơ sở kỹ thuật vẫn dựa trên công cụ và lao động thủ công nhưng do qui mô
sản xuất tăng lên nhờ sự hiệp tác của nhiều ngành nghề khác nhau, tất yếu xuất
hiện các hình thức phân công và hiệp tác lao động với trình độ và qui mô lớn hơn
mà C. Mác đã khái quát thành ba loại: phân công lao động chung, phân công lao
động đặc thù, phân công lao động cá biệt, tức là sự hiệp tác diễn ra trên ba phạm
vi: xã hội, trong từng ngành và trong từng công xưởng, và như vậy sự trao đổi
hàng hóa, phát triển thị trường trở thành cơ sở và động lực của sự hiệp tác trên
phạm vi toàn xã hội, thúc đẩy những người sản xuất hàng hóa không chỉ hiệp tác
mà còn cạnh tranh với nhau. C. Mác viết: "Sự phân công lao động trong xã hội đặt
những người sản xuất hàng hóa độc lập đối diện với nhau, những người này

- Tạo ra sức mạnh gấp bội để làm những công việc mà cá nhân riêng rẽ
không thể làm nổi.
- Tạo ra không khí thi đua tăng năng suất lao động.
- Tạo cho đối tượng lao động được chuyển vận nhanh chóng.
- Phân công chuyên môn hóa nên có thể rút ngắn thời gian tạo ra sản phẩm.
- Hoàn thành công việc khẩn cấp trong một thời gian nhất định.
- Mở rộng hoặc thu hẹp phạm vi không gian của lao động một cách phù hợp.
- Tạo ra sức sản xuất của lao động xã hội, qua đó tạo ra giá trị thặng dư
cho nhà tư bản.
Ở trình độ cao hơn, hiệp tác có phân công sẽ tạo ra điều kiện để chuyên
môn hóa công cụ và lao động, thúc đẩy sản xuất các máy móc ngày càng tinh
xảo, đồng thời thúc đẩy thị trường phát triển.
7
Tuy nhiên, để tận dụng và phát huy các lợi thế của hiệp tác cần phải có
các điều kiện, trong đó C. Mác đã chỉ ra các điều kiện tiên quyết sau đây:
Thứ nhất, phải có một lực lượng tư bản đủ để mua sức lao động và tư
liệu lao động. C. Mác viết: "Con số những công nhân hiệp tác, hay qui mô sự
hiệp tác, phụ thuộc trước hết vào đại lượng của tư bản mà một nhà tư bản
riêng rẽ có thể chi ra trong việc mua sức lao động sự tích tụ một khối lượng
lớn tư liệu sản xuất vào trong tay những nhà tư bản riêng rẽ là điều kiện vật
chất cho sự hiệp tác của những công nhân làm thuê và qui mô hiệp tác hoặc
qui mô sản xuất phụ thuộc vào qui mô của sự tích tụ đó" [24,tr.479].
Thứ hai, phải có sự chỉ huy, quản lý với trình độ có thể đảm bảo cho quá
trình sản xuất luôn suôn sẻ và đạt hiệu quả cao, và quản lý trở thành một tất yếu
của lao động hiệp tác. C.Mác viết: "Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều
khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng" [24, tr.480].
Thứ ba, cần phải có những người lao động tự do, bán sức lao động cho
nhà tư bản. C. Mác viết: "Hình thức tư bản của sự hiệp tác thì ngay từ đầu đã
giả định phải có người lao động làm thuê tự do, bán sức lao động của mình
cho nhà tư bản" [24, tr.485].

- Người lao động được tự do bán sức lao động và tham gia hiệp tác;
- Đảm bảo lợi ích thỏa đáng.
Phát triển lý luận về hợp tác của C. Mác, Lênin đã luận giải sự cần
thiết, các tiền đề của kinh tế hợp tác và các nguyên tắc hợp tác dưới CNXH.
Theo Lênin, đi lên CNXH có nghĩa là tiến tới chế độ xã hội văn minh cần cả
một thời kỳ cải biến cách mạng có tính lịch sử nhằm tạo nên tiền đề cho một
chế độ kinh tế mới - chế độ hợp tác kinh tế XHCN. Và khi tất cả những người
lao động đã được giải phóng khỏi ách áp bức, bóc lột và tự nguyện hợp tác
lao động với nhau thì sẽ có CNXH. Theo V.I. Lênin, HTX có ý nghĩa đặc
biệt, nó là bước quá độ sang một chế độ mới bằng con đường đơn giản nhất
dễ tiếp thu nhất đối với nông dân.
9
Lênin viết: "Khi nhân dân lao động đã vào hợp tác xã với mức độ nhất
định, thì chủ nghĩa xã hội tự nó sẽ được thực hiện". Lênin cũng nêu lên các
tiền đề của chế độ hợp tác dưới CNXH bao gồm:
- Tiền đề chính trị, có tính tiên quyết, đó là chính quyền thuộc về nhân
dân và do chính Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo;
- Tiền đề kinh tế mà cốt lõi là quan hệ kinh tế giữa các HTX với kinh tế
nhà nước để thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
- Tiền đề văn hóa, xã hội tạo cho chế độ hợp tác tính nhân bản, trình độ
văn minh trong lao động hợp tác và quản lý kinh tế hợp tác.
Lênin rất quan tâm đến việc Nhà nước giúp đỡ tài chính cho HTX.
“Một chế độ xã hội chỉ nảy sinh nếu được một giai cấp nhất định nào đó giúp
đỡ về tài chính Trong lúc này, chế độ xã hội mà chúng ta ủng hộ hơn hết là
chế độ HTX
Phải cho chế độ HTX hưởng một số đặc quyền kinh tế, tài chính, ngân
hàng; sự ủng hộ mà nhà nước XHCN của chúng ta mang lại cho nguyên tắc tổ
chức mới của dân cư phải là như vậy” [21].
Cũng chính Lê nin đã phát triển quan điểm mác - xít về kinh tế hợp tác và
nêu lên các nguyên tắc và hình thức tổ chức kinh tế hợp tác. Nguyên tắc đầu tiên

phải nêu cao tính chất hơn hẳn của HTX bằng chứng kết quả thiết thực làm
cho thu nhập của xã viên được tăng thêm, làm cho xã viên sau khi vào HTX
thu hoạch nhiều hơn hẳn khi còn ở ngoài. Như thế thì xã viên sẽ phấn khởi, sẽ
gắn bó chặt ché với HTX của mình. Đó là phương pháp tuyên truyền thuyết
phục tốt nhất để khuyến khích nông dân vào HTX. Phải cần kiệm xây dựng
HTX vì HTX là lực lượng chính ở nông thôn. Mục đích tổ chức HTX là để
tăng gia sản xuất, nâng cao đời sống của nhân dân, trước hết là của nông dân.
Thế là vừa lợi riêng cho nông dân và lợi chung cho Nhà nước, hai cái lợi đó
đi đôi với nhau. Vì vậy phải củng cố HTX. Về mặt vật chất phải quản lý cho
11
tốt; về mặt tinh thần, phải giáo dục cho nông dân hiểu vì sao phải củng cố
HTX.
Qua nghiên cứu quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ
Chí Minh về hợp tác cho chúng ta thấy rằng. Những vấn đề lý luận về hợp
tác, kinh tế hợp tác và HTX không quá phức tạp và đều bắt nguồn từ thực tế
cuộc sống. Một xã hội muốn tồn tại phải có sản xuất, hoạt động kinh tế và đều
là một quá trình phân công và hợp tác lao động hoặc là tự phát, hoặc là tự
giác. Bản thân thị trường là một hệ thống sản xuất và trao đổi, lúc đầu mang
tính tự phát và tiến dần tới tự giác khi có sự tổ chức và điều chỉnh của các chủ
thể kinh doanh và đặc biệt có sự quản lý của Nhà nước. Trong thị trường có
các tổ chức kinh tế như doanh nghiệp và HTX là những hệ thống phân công
và hợp tác lao động một cách tự giác, tuy nhiên sự hợp tác trên trên thị trường
cũng không thể loại trừ hết tính tự phát, và chính sự phân công và hợp tác sản
xuất và trao đổi trên thị trường một cách tự phát, mang tính tự nhiên cũng là
một ưu thế, một vẻ đẹp của thị trường. Chính sự phân công và hợp tác lao
động, hợp tác kinh tế và tổ chức các hình thức hợp tác cũng đi từ tự phát đến
tự giác. Trong sản xuất nông nghiệp nước ta từ xa xưa đã có sự hợp tác nào
đó như đổi công, vần công, hợp tác trong chăn trả trâu bò, trong tưới tiêu
nước do các hộ nông dân tự liên kết với nhau. Sự hình thành các hình thức
tổ chức hợp tác đó mang tính tự phát nhưng lại dựa trên tính tự giác của từng

(khoá VI) đã khẳng định, kinh tế HTX có nhiều hình thức từ thấp đến cao,
mọi tổ chức SXKD do người lao động tự nguyện góp vốn, góp sức, được
quản lý theo nguyên tắc dân chủ đều là HTX. Nghị quyết Hội nghị Trung
ương 5 (khoá VII) tháng 6/1993 làm rõ thêm bản chất của HTX trên cơ sở
phát huy tính tự chủ của kinh tế hộ, coi kinh tế hộ là bộ phận khắng khít của
kinh tế HTX. Nghị quyết Hội nghị giữa nhiệm kỳ (khoá VII) tiếp tục khẳng
định và phát triển quan điểm của Đảng coi kinh tế HTX với nhiều hình thức
phong phú và đa dạng từ thấp đến cao, phù hợp với nguyện tác tự nguyện,
13
cùng có lợi và quản lý dân chủ, kết hợp với sức mạnh của hộ xã viên, làm cho
kinh tế hợp tác trở thành một thành phần kinh tế vững mạnh, cùng với kinh tế
quốc doanh trở thành xương sống của nền kinh tế quốc dân. Đến Đại hội VIII,
quan điểm phát triển kinh tế tập thể mà nòng cốt là HTX; kinh tế nhà nước
giữ vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở
thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân.
Quan điểm của Đảng được cụ thể hoá trong Nghị quyết 13-NQ/TW tại
Hội nghị Trung ương 5 (khoá IX) đã nêu:
Thứ nhất: kinh tế tập thể mà nòng cốt là HTX thời gian tới phải phát
triển đa dạng về hình thức, không giới hạn quy mô, lĩnh vực và địa bàn, bao
gồm nhiều hình thức sở hữu, với nhiều trình độ khác nhau, từ tổ hợp tác đến
HTX và lên đến trình độ cao là liên hiệp HTX. Sở hữu trong kinh tế tập thể
dựa trên sở hữu của các thành viên và sở hữu tập thể, liên kết rộng rãi với các
thành phần kinh tế khác, không giới hạn về quy mô, lĩnh vực và địa bàn; Phân
phối vừa theo lao động, vừa theo vốn góp và mức độ tham gia của dịch vụ;
Nguyên tắc hoạt động: tự chủ; tự chịu trách nhiệm; Thành viên tập thể bao
gồm cả thể nhân và pháp nhân cùng góp vốn, cùng góp sức trên cơ sở tôn
trọng các nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi và quản lý dân chủ.
Thứ hai: kinh tế tập thể mà nòng cốt là HTX phải là một tổ chức kinh
tế kết hợp hài hoà giữa lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội của các thành viên và
lợi ích tập thể: Kinh tế tập thể lấy lợi ích kinh tế làm chính, bao gồm lợi ích

triển của sức sản xuất, triệt để tôn trọng nguyên tắc tự nguyện, nhất quyết
không nóng vội, chủ quan duy ý chí, áp đặt; Nhưng cũng yêu cầu cấp uỷ
Đảng và chính quyền các cấp cần khắc phục sự buông lỏng lãnh đạo, bị động
ngồi chờ, để mặc sự phát triển tự phát của nền kinh tế, mà chậm trể trong việc
nắm bắt và đáp ứng những đòi hỏi của nhân dân về phát triển kinh tế tập thể.
Nghị quyết Trung ương yêu cầu phải xác lập môi trường thể chế và tâm lý xã
15
hội thuận lợi cho kinh tế hợp tác, HTX phát triển như: Sửa đổi bổ sung một số
quy định pháp luật hiện hành về những vấn đề liên quan đến kinh tế tập thể,
bảo đảm tính nhất quán giữa các luật, Luật Đất đai, Luật Ngân hàng, Luật các
tổ chức Tín dụng, các Luật về Thuế, Bộ Luật Dân sự, Luật về Bảo hiểm xã
hội, Pháp lệnh Cán bộ công chức tạo điều kiện cho Luật HTX đi nhanh vào
cuộc sống theo hướng giảm tối đa thủ tục thành lập và đăng ký kinh doanh,
thành viên HTX bao gồm cả thể nhân và pháp nhân; cán bộ công chức được
tham gia HTX với tư cách là xã viên; phân định rõ chức năng quản lý của Ban
quản trị và chức năng điều hành của Chủ nhiệm; Chủ nhiệm có thể là xã viên
hoặc ngoài HTX do ban quản trị thuê; HTX tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong
lựa chọn ngành, nghề kinh doanh, chuyển dịch cơ cấu, đa dạng lĩnh vực hoạt
động phù hợp với nhu cầu thị trường; Ban hành đồng bộ, kịp thời các văn bản
dưới luật, sửa đổi bổ sung Điều lệ mẫu phù hợp với đặc thù của các loại hình
HTX để dễ vận dụng; Hướng dẫn về tổ chức, hoạt động đối với tổ hợp tác
theo Bộ luật Dân sự.
Tạo lập môi trường tâm lý xã hội thuận lợi cho kinh tế hợp tác, HTX
phát triển bằng việc: Tăng cường tuyên tryền chủ trương, chính sách của
Đảng, pháp luật của Nhà nước về phát triển kinh tế hợp tác, HTX và các mô
hình làm ăn có hiệu quả; Biểu dương, khen thưởng những cá nhân và tập thể
có thành tích và đóng góp cho kinh tế hợp tác, HTX; Đưa nội dung phát triển
kinh tế hợp tác, HTX vào giảng dạy trong các trường đại học, cao đẳng, trung
học chuyên nghiệp và dạy nghề.
1.1.3.2. Chính sách Nhà nước về phát triển kinh tế hợp tác, hợp tác

* Chính sách cán bộ đào tạo nguồn nhân lực:
Điểm mới trong chính sách cán bộ cho HTX đã xác định rõ hơn trách
nhiệm đào tạo cán bộ cho HTX của các ngành, địa phương với sự hỗ trợ kinh
phí của Nhà nước, chế độ thuê Chủ nhiệm, chế độ bảo hiểm xã hội cho cán bộ
xã viên HTX. Cụ thể như sau:
17
- Các ngành, các địa phương chủ động xây dựng quy hoạch đào tạo, bồi
dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý và nghiệp vụ cho khu vực kinh tế tập thể.
- Nhà nước hỗ trợ toàn bộ kinh phí đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cho HTX.
- Có chính thu hút cán bộ quản lý và cán bộ khoa học kỹ thuật về công
tác tại HTX.
- Thực hiện bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với xã viên HTX và người lao
động làm việc theo hợp đồng, hưởng tiền lương, tiền công theo Bộ luật lao
động; các thành viên khác không tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc thì tạo
điều kiện tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện theo nhu cầu.
* Chính sách đất đai:
Khuyến khích và tạo điều kiện cho hộ nông dân “dồn điền, dồn thửa”,
tập trung ruộng đất theo chính sách của Nhà nước để phát triển sản xuất hàng
hoá, mở mang ngành nghề.
- Nhà nước giao đất không thu tiền và cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cho HTXNN xây dựng trụ sở, làm cơ sở SX-KD
- HTX phi nông nghiệp được thuê đất dài hạn, giảm mức nộp thuế sử
dụng đất cho HTXNN trong một thời gian nhất định và được nộp tiền thuê đất
nhiều lần.
- Đất do HTX đầu tư để khai phá, tôn tạo, khi Nhà nước chuyển sang
chế độ cho thuê, cần trả lại chi phí cho HTX.
* Chính sách tài chính, tín dụng:
- Chính sách thu: Miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp trong hạn điền
đến năm 2010 cho hộ nông dân; Miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong một
thời gian nhất định đối với HTX nông, lâm, ngư nghiệp mới chuyển đổi hoặc

khích cơ quan chuyển giao các thành tựu KH-CN mới cho HTX, nghiên cứu
sản xuất sản phẩm mới, khai thác và sử dụng các nguồn nguyên liệu sẵn có
trong nước.
Khuyến khích xây dựng các cơ sở chế biến nông, lâm, thuỷ sản, công
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, phát triển làng nghề ở nông thôn, hướng dẫn
19
và giúp các HTX tiểu thủ công nghiệp đổi mới công nghệ, đa dạng hoá sản
phẩm, hạ giá thành, tạo sức cạnh tranh.
* Chính sách hỗ trợ tiếp thị và mở rộng thị trường:
Các ngành, các địa phương, các hiệp hội ngành nghề và Liên minh
HTX hỗ trợ xúc tiến thương mại, cung cấp thông tin, tìm kiếm thị trường giúp
đỡ các hộ, tổ hợp tác và HTX; tổ chức các hình thức giới thiệu sản phẩm ở
trong và ngoài nước phù hợp với trình độ hiện tại và xu hướng phát triển của
kinh tế tập thể.
Thực hiện rộng rãi việc ký kết hợp đồng trực tiếp giữa doanh nghiệp chế
biến và tiêu thụ sản phẩm nông, lâm, ngư nghiệp với nông dân qua các HTX.
Các doanh nghiệp cung ứng vật tư, phân bón, thức ăn chăn nuôi, hướng
dẫn quy trình kỹ thuật và thu mua sản phẩm cho HTX theo các hợp đồng dài
hạn đối với những sản phẩm có khối lượng lớn, có chế độ ưu đãi các doanh
nghiệp này.
Khuyến khích nông dân và HTX sản xuất nguyên liệu mua cổ phần, trở
thành cổ đông của các doanh nghiệp chế biến nông lâm, thuỷ sản.
* Chính sách đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng:
Những đổi mới về chính sách đầu tư phát triển hạ tầng cũng được quan
tâm từ phía Nhà nước. Theo định hướng chính sách đã được nêu trong Nghị
quyết Hội nghị Trung ương 5 (khoá IX). Nhà nước sẽ thực hiện chính sách hỗ
trợ đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông, điện, nước, công trình thuỷ
lợi trước hết cho phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng CNH-HĐH;
tạo điều kiện hình thành và phát triển các vùng sản xuất hàng hoá lớn, thúc
đẩy sự hình thành và phát triển của kinh tế hợp tác, HTX.

13-NQ/TW Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX về
“tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể” có thể nêu
lên những đặc trưng cơ bản của mô hình HTX kiểu mới như sau:
+ Về thành viên tham gia HTX
21
Khác với HTX kiểu cũ, thành viên HTX chỉ gồm các cá nhân, HTX
kiểu mới là một tổ chức kinh tế do các thành viên, bao gồm cả cá nhân, hộ gia
đình và pháp nhân (người lao động, cán bộ, công chức, các hộ sản xuất, kinh
doanh, trang trại, doanh nghiệp nhỏ và vừa thuộc các thành phần kinh tế ), cả
người có ít vốn và người có nhiều vốn có nhu cầu tự nguyện cùng nhau góp
vốn hoặc có thể góp sức lập ra và tự chịu trách nhiệm về các hoạt động của
mình theo quy định của pháp luật về HTX, HTX không thủ tiêu tính tự chủ
SX-KD của các thành viên, mà chỉ làm những gì mỗi thành viên riêng lẻ
không làm được hoặc làm không có hiệu quả để hỗ trợ cho các thành viên
phát triển. Thành viên tham gia HTX vẫn là những “đơn vị kinh tế tự chủ”
+ Về quan hệ sở hữu:
Trong mô hình HTX kiểu cũ, sở hữu cá nhân không được thừa nhận, sở
hữu của các hộ gia đình bị xoá bỏ chỉ thừa nhận chế độ sở hữu tập thể về tư
liệu sản xuất; người lao động vào HTX phải góp ruộng đất, trâu bò, công cụ
sản xuất chủ yếu. Trong HTX kiểu mới, sở hữu tập thể và sở hữu cá nhân của
các thành viên được phân định rõ. Sở hữu tập thể (sở hữu của HTX) bao gồm
các nguồn vốn tích luỹ tái đầu tư, các tài sản do tập thể mua sắm để dùng cho
hoạt động của HTX, tài sản trước đây được giao lại cho tập thể sử dụng và tài
sản do Nhà nước hoặc các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tài trợ làm tài
sản không chia và các quỹ không chia. Thành viên khi tham gia HTX không
phải góp tư liệu sản xuất mà điều kiện tiên quyết là góp vốn theo quy định của
Điều lệ HTX, có thể góp sức khi HTX yêu cầu; suất vốn góp không hạn chế,
song được khống chế một tỷ lệ nhất định so với tổng số vốn góp của các
thành viên (vốn Điều lệ của HTX) nhằm bảo đảm tính chất của HTX (theo
Luật HTX năm 2003 thì không quá 30%). Vốn góp của thành viên được chia

Trong các HTX kiểu cũ, chế độ phân phối mang nặng tính bình quân,
chủ yếu phân phối theo công lao động, việc phân phối theo vốn góp gần như
23
không được thực hiện (vì việc góp vốn chỉ mang tính hình thức). Vì vậy
không khuyến khích người lao động hăng hái, tích cực làm việc, xã viên thiếu
gắn bó với HTX, giành công sức làm kinh tế gia đình. Trong HTX kiểu mới,
hình thức phân phối được thực hiện trên nguyên tắc công bằng, cùng có lợi,
vừa theo lao động, vừa theo vốn góp và theo mức độ tham gia dịch vụ. Người
lao động là xã viên, ngoài tiền công được nhận theo số lượng và chất lượng
lao động, còn được nhận lãi chia theo vốn góp và theo mức độ sử dụng dịch
vụ của HTX; lợi nhuận và vốn góp càng lớn, mức độ sử dụng dịch vụ càng
nhiều, thì thu nhập càng cao. Đây là động lực khuyến khích người lao động
hăng say làm việc, gắn bó với HTX. Trong quá trình phân phối, các HTX còn
tạo ra được các quỹ không chia, một mặt để mở rộng SX-KD, mặt khác tạo
nên phúc lợi công cộng cho mọi thành viên trong HTX được hưởng chung,
kết hợp chặt chẽ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể, giữa lợi ích trước mắt
và lợi ích lâu dài.
+ Về cơ chế quản lý đối với HTX:
Các HTX kiểu mới được giải phóng khỏi sự ràng buộc cứng nhắc của
cơ chế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp. Nếu như trước đây, mọi hoạt động
SX-KD, cũng như hạch toán lỗ lãi, phân phối, giá cả…của HTX đều theo sự
chỉ huy của cơ quan quản lý cấp trên và theo kế hoạch của Nhà nước, thì nay
HTX đã thực sự là một tổ chức kinh tế độc lập, tự chủ có đầy đủ tư cách pháp
nhân trong cơ chế thị trường, bình đẳng trước pháp luật với các doanh nghiệp
thuộc các thành phần kinh tế khác, tự quyết định, tự chịu trách nhiệm về kết
quả hoạt động SX-KD, dịch vụ, liên doanh, liên kết với các tổ chức kinh tế
thuộc mọi thành phần kinh tế khác, cũng như phân chia lỗ lãi, bảo đảm hoàn
thành nghĩa vụ đối với Nhà nước và trách nhiệm đối với thành viên. Nhà nước
tôn trọng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong hoạt động SX-KD, dịch vụ
của HTX, không còn can thiệp trực tiếp vào các hoạt động của HTX. Vai trò

25

Trích đoạn Tình hình sản xuất nơng nghiệp và nơng thơn Quảng Nam Quá trình hình thành và phát triển hợp tác xã nông nghiệp tỉnh Quảng Nam Tình hình chuyển đổi và phát triển hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới theo Luật hợp tác xã Các cơ chế chính sách hỗ trợ của tỉnh phát triển hợp tác xã nông nghiệp Tình hình tổ chức quản lý các hợp tác xã nông nghiệp
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status