sự thu hút khách tham quan tại ngôi nhà dao họ - bảo tàng dân tộc học việt nam - Pdf 10


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong thế kỷ 21 dân tộc và văn hoá ngày càng trở thành 2 vấn đề vừa
chiến lược vừa thời sự trên phạm vi toàn thế giới cũng như trong mỗi người.
Ngày nay, do sự phát triển của khoa học kỹ thuật thế giới ngày càng gần lại và
nhỏ bé hơn. Nhận thức được sâu sắc vấn đề trên nên hầu trong xây dựng và
phát triển kinh tế xã hội các ngành quản lý văn hoá,các nhà lãnh đạo, đội ngũ
các nhà khoa học xã hội nhân văn ngày càng ý thức được rõ nét hơn vai trò của
bản sắc văn hoá dân tộc trong phát triển chung của thời đại.
Vậy muốn duy trì được bản sắc riêng của dân tộc mình thì các nước phải
có những biện pháp chiến lược để bảo vệ bản sắc dân tộc của riêng mình, phải
sử dụng nhiều loại hình, công cụ thích hợp để tuyên truyền quảng bá và giáo
dục làm cho các tầng lớp dân cư trong và ngoài nước hiểu và biết trân trọng
bản sắc văn hoá của đất nước Việt Nam.Trong bối cảnh đó Bảo tàng với tư
cách là một loại hình thiết chế văn hoá đặc thù đã trở thành một trong những
công cụ hữu hiệu để thể hiện mục tiêu nói trên.
Giống như nhiều điểm du lịch thú vị của Việt Nam, Bảo tàng DTH ngày
càng thu hút đông đảo khách du lịch đến thăm quan và nghiên cứu. Sự gia tăng
về số lượng khách giúp cho doanh thu của Bảo tàng ngày một tăng. Do đó đòi
hỏi về chất lương phục vụ khách tham quan của Bảo tàng Dân tộc học Việt
Nam ngày một tốt hơn.
Vì vậy, vấn đề chất lượng phục vụ khách tham quan ra sao, phải làm thế
nào để có những điều kiện tốt nhất đáp ứng được những yêu cầu của du khách,
đó là những công việc cần có sự nghiên cứu, tìm tòi, sáng tạo đòi hỏi đội ngũ
cán bộ nhân viên bảo tàng nói chung và cán bộ các ngôi nhà tại khu trưng bày
ngoài trời nói riêng cần quan tâm và tìm hiểu.
Xuất phát từ những yêu cầu thực tiễn bằng những kiến thức cơ bản về
chuyên ngành quản lý văn hoá đã được trang bị từ nhà trường, bước đầu nghiên
1
cứu qua những công việc thực tế tại khu trưng bày ngoài trời của Bảo tàng Dân

DÂN TỘC HỌC VIỆT NAM
1.1. Vài nét về BTDTHVN
Nước ta có 54 dân tộc và hiện nay việc tổ chức nghiên cứu bảo vệ di sản
văn hoá của từng dân tộc là nhiệm vụ quan trọng của nhiều ngành khoa học.
Nghiên cứu, bảo vệ các di sản ấy không chỉ mang ý nghĩa kế thừa những tinh
hoá văn hoá, phát huy sức mạnh của nó nhằm phục vụ cho sự phát triển đất
nước, củng cố tinh thần đoàn kết giữa các dân tộc và giới thiệu bản sắc văn hoá
của Việt Nam trong nền văn hoá chung của nhân loại.
54 dân tộc là 54 nền văn hóa riêng biệt. Cái vốn quý giá ấy tạo cho dân
tộc Việt Nam một sắc thái riêng, đó là niềm tự hào và cũng là cơ sở để chống
lại nguy cơ đồng hoá văn hoá, bởi "Sự đồng hoá dân tộc bằng văn hoá là sự
tiếp nối chế độ diệt chủng"…
Để giúp cho mọi người hiểu được những nét văn hoá độc đáo tiêu biểu
của các dân tộc trên đất nước ta bằng các hiện vật và hình ảnh sinh động, để
mọi người có thể đến thăm quan tìm hiểu được thì không một nơi nào hơn Bảo
tàng.
Với những vấn đề trên Nhà nước đã cho xây dựng một bảo tàng về các
dân tộc ở Việt Nam và công văn số 1386/V4 ngày 20/4/1981 của hội đồng Bộ
trưởng cho phép tiến hành chuẩn bị đầu tư xây dựng công trình Bảo tạo dân tộc
học Việt Nam. Ngày 29/1/1985 Uỷ ban kế hoạch nhà nước ra công văn
78UB/VPTT thảo luận về luận chứng kinh tế kỹ thuật của Bảo tàng Dân tộc
học Việt Nam, công văn số 1864 CVUB ngày 13/6/1985 của UBND thành phố
Hà Nội thoả thuận đồng ý để viện dân tộc học xây dựng BTDTH tại xã Dịch
Vọng, huyện Từ Liêm, Hà Nội, ngày 28/9/1985 công văn số 1298/VH-VP của
Bộ văn hoá nêu rõ chủ trương giao cho uỷ ban khoa học xã hội Việt Nam xây
dựng BTDTH Việt Nam.
Ngày 14/12/1987 chủ nhiệm uỷ ban khoa học xã hội Việt Nam ra quyết
định 333/KHXH phê duyệt luận chứng kinh tế kỹ thuật của Bảo tàng Dân tộc
3
học. Từ đây việc đầu tư cho công trình thực sự bắt đầu. Sau đó Chủ tịch hội

4
Bảo tàng ngoài trời là một phần không thể thiếu được của BTDTHVN
một trong những thế mạnh của loại hình của Bảo tàng này là tạo cho công
chúng những không gian văn hoá tiệm cận với thực tế qua đó làm cho hiện vật
trưng bày có sức hấp dẫn hơn và công chúng cảm thụ sâu sắc hơn về nền văn
hoá mà họ đang được tận mắt xem và tìm hiểu…
Phần bảo tàng ngoài trời thực sự bắt đầu năm 1998 với công trình đầu
tiên là ngôi nhà mồ người Gia Lai, trưng bày ngoài trời có thể có những mục
đích khác nhau với mục đích du lịch người ta thường mô phỏng các kiến trúc
truyền thống. Với mục tiêu bảo tồn di sản văn hoá, các công trình trưng bày
được giữ nguyên mẫu Bảo tàng DTHVN đã chọn cách trưng bày này trong
phạm vi không gian khá chật hẹp (3,30 ha), khoảng 2ha được dành cho phần
trưng bày ngoài trời để phản ánh sự đa dạng văn hoá của 3 vùng môi trường
sinh thái khác nhau: vùng đồng bằng và ven biển; vùng núi thấp và cao
nguyên,vùng cao. Do hạn chế về không gian và diện tích, Bảo tàng chỉ có thể
lựa chọn và giới thiệu một chục công trình kiến trúc của những dân tộc khác
nhau ở Việt Nam. Đó là nhà sàn (Tày), nhà nửa sàn nửa trệt (Dao), nhà sàn
thấp (Chăm), nhà trệt (Việt H'Mông), nhà trình trường (Hà Nhì), nhà dài của
đại gia đình mẫu hệ (Êđê), nhà công cộng của làng nhà Rông (Bana), nhà mồ
(Giarai, Cơtu), các ngôi nhà làm bằng chất liệu khác nhau, như gỗ, tre, nứa,
hay đất nện. Mái được làm bằng vật liệu khác như lá cọ, cỏ gianh nhưng mỗi tộ
người lại có cách lợp riêng gắn với mỗi ngôi nhà có các hiện vật trưng bày,
thông tin về ngôi nhà và chủ nhân của nó cũng như về văn hoá mà nó đại diện,
tạo cho du khách sự hiểu biết về kiến thức văn hoá tiềm ẩn trong ngôi nhà và
qua từng hiện vật.
Bên cạnh những công trình kiến trúc kể trên bảo tàng đã từng bước bổ
sung một số công trình khác như: xưởng sản xuất (lò rèn - đúc của người
H'Mông, lò rèn của người Nùng, người Việt, xưởng gốm của người Việt, các
loại thuyền đại diện cho phương tiện giao thông vận chuyển. Công cụ sử dụng
sức nước (cối giã gạo), Bên cạnh đó quần thể thực vật và cây bóng mát được

* Kết cấu và vật liệu để làm nhà
6
Đây là ngôi nhà nửa sàn nửa đất của ông Bàn Văn Sấm ngươi Dao họ
(thuộc nhóm Dao quần trắng, ở thôn Khe Mụ, xã Sơn Hà, huyện Bảo Thắng,
tỉnh Lào Cai. Người Dao họ ở vùng này vốn là cư dân có tập quán du canh du
cư và thường dựng nhà trên đất dốc. Kiểu nhà nửa sàn nửa đất là hình ảnh về
cách xử lý để tạo mặt bằng cư trú trên địa hình dốc.
Nhà người Dao họ đơn giản về cấu trúc cũng như hình thức, khi làm nhà
chỉ cần cái rìu, con dao, ngày nay nếu làm nhà có mộng thì họ dùng thêm đục,
cưa, bào. Người Dao không có thợ làm nhà chuyên nghiệp mà mọi người trong
bản đều biết làm.
Nhà của người Dao họ thường 3 gian, nhiều thì 5 đến 7 gian có 2 hoặc 4
mái và luôn có 2 chái, theo quan niệm của họ nhà có số gian lẻ là của người
sống có số gian chẵn là dùng để nuôi gia súc, gia cầm.
Bộ sườn nhà kết cầu đơn giản, thường thì mỗi vì kèo chỉ có hai hoặc ba
cột nhưng là cột ngoãm: cột, quá giang và kèo được buộc chặt vào nhau bằng
dây rừng. Vách nhà dựng bằng phên nứa đan theo kiểu lóng mốt hoặc lóng đôi,
do đó các mảng sáng tối được tạo ra bởi bề mặt những thanh nứa. Mái nhà
thường được lợp bằng những ống tre, nứa bổ đôi cứ 1 thanh sấp thì 1 thanh
ngửa úp vào nhau như kiểu lợp ngói âm dương. Mái lợp thế có thể dùng được
từ 5 đến 6 năm và theo nếp cũ thì cú 2 lần thay mái (khoảng 10 đến 12 năm) họ
lại chuyển đi nơi khác ở. Việc này phù hợp với khoảng thời gian du canh du cư
của họ.
Tre nứa dùng để làm nhà, nhất là dùng để lợp mái được chọn rất kỹ, tất
cả phải là tre, nứa già, mọc trên núi cao, không bị cụt ngọn, không bị sâu, gõ
vào nghe tiếng kêu đanh, nhưng lại phải chặt vào những dịp đầu hoặc cuối
tháng của những tháng mùa khô, tre gỗ dùng để làm nhà khi vận chuyển phải
vác chứ không được kéo.
Tập quán khi chuyển nhà đi nơi khác người Dao họ thường mang theo 8
cây cột nhà - đó là những cây lõi gỗ thọ có độ bền cao không bị mối mọt, để

hẳn trong buồng. Buồng này cũng là nơi thay quần áo của mọi người trong gia
đình. Và cũng chính ở cạnh buồng này có đặt một chiếc cối làm bằng một khúc
8
gỗ khoét hình lòng thuyền chày cũng làm từ một đoàn gỗ dùng để giã những
cụm lúa cối để ở đây tiện cho việc dậy sớm của con dâu, con gái chuẩn bị bữa
sáng cho cả nhà, cũng ở đây còn có một số dụng cụ như cuốc, thuổng dùng để
nồi nấu rượu, rượu của người Dao họ nhẹ, 30 đến 35
0
, hương thơm và đậm,
rượu dùng cho nhu cầu hàng ngày đồng thời dùng cho các ghi lễ cúng theo
phong tục. Ngoài ra người Dao họ có tục lệ làm kho lúa ở cạnh nhà ho làm
theo kiểu nhà sàn có 1 cửa nhỏ đủ cho 1 người chui vào, sàn, vách mái kho đều
làm từ nứa cây đập dập đan vào nhau.
* Tín ngưỡng liên quan đến nhà ở
- Người Dao họ quan niệm ngôi nhà không chỉ là nơi trú ngụ của người
sống mà còn là nơi đi về của những linh hồn người chết hay các vị thần linh
như thần đất, thần núi, các vị thánh trong tín ngưỡng mang màu sắc đạo giáo
như tam thanh, tam nguyên vì thế khi dùng nhà mới thường có các nghi lễ cầu
xin thần linh, việc quan trọng đầu tiên là chọn đất và mời thầy cúng xem bói tại
chỗ. Thấy đốt 3 nén nhang cắm, 1 cây nứa xuống đất và cũng thổ công, ông
tam đại của gia chủ,nếu đêm đó trong bản không có ai sinh đẻ, trong rừng
không có tiếng hoẵng kêu hoặc không ai nhìn thấy con dúi đào đất thì mảnh đất
đó ở được. Thêm nữa, ông thầy làm nhẵn một chỗ, cắm vào đó một cây cọ nhỏ,
rắc gạo thành vòng tròn xung quanh rồi lấy ống nứa chụp lại và lấy đất sét bịt
kín các khe hở, sáng hôm sau mở ống ra, nếu các hạt gạo vẫn còn nguyên vẹn
đó là nơi đất tốt, có thể làm nhà.
Người Dao họ không làm nhà vào tháng 3, tháng 9. Riêng tháng 9 kiêng
cả việc làm chuồng lợn, chuồng gà, cối nước. Trong 2 tháng này thậm chí nhà
đang ở bị tốc mái hoặc đổ người ta cũng chỉ che tạm để ở, không dám dựng
nhà mới. Họ tin rằng nếu bất chấp điều kiêng cữ đó, những người sống trong

Cối làm bằng loại gỗ tốt không bị mối mọt hay dùng nhất là gỗ nghiến
nhưng nay do hiếm gõ nghiến nên người ta thay bằng gỗ thọ cũng như cối giã
gạo bằng nước ở người Thái, tày, cối của người Dao đặt ở nơi có nước chảy
hoặc phải dẫn nước từ chỗ khác về thường người ta tìm đoạn suối gần nhà
người ta cho thóc vào cối rồi sau đó chỉ việc đến xúc gạo về.
10
Chương II
HOẠT ĐỘNG THU HÚT KHÁCH QUAN TẠI NGÔI NHÀ DAO
HỌ - BẢO TÀNG DÂN TỘC HỌC VIỆT NAM
2.1. Tình hình hoạt động của ngôi nhà Dao họ trong những năm gần
đây.
Trong những năm gần đây do sự phát triển của khoa học ngày càng cao,
vì thế mà đời sống của con người có phần được cải thiện ngoài nhu cầu thưởng
thức các giá trị vật chất ra, giá trị tính thần cũng góp phần không nhỏ làm
phong phú thêm nhu cầu của họ. Một trong những loại hình giải trí phổ biến và
thu hút được đông đảo công chúng tham gia đó là hoạt động thăm quan các
Bảo tàng nói chung và bảo tàng dân tộc học nói riêng. Bởi thông qua các hiện
vật trực quan và các hình ảnh sinh động và đặc biệt là trực tiếp được tham gia
các hoạt động trình diễn, các hoạt động đó không chỉ có ý nghĩa giải trí và tìm
hiểu bản sắc văn hoá của các dân tộc, mà nó còn có ý nghĩa giáo dục tuyên
truyền giới thiệu những tinh hoa văn hoá tốt đẹp tới đông đảo công chúng trong
và nước.
Nhận thức đầy đủ ý nghĩa và vai trò của hoạt động trên ban lãnh đạo của
BTDTHVN nói chung và đặc biệt các cán bộ và nhân viên của khu trưng bày
ngoài trời đã có rất nhiều cố gắng trong việc tạo mọi điều kiện thuận lợi và đáp
ứng đầy đủ các nhu cầu nhằm thu hút khách tham quan tại các ngôi nhà được
dựng ở ngoài trời, đặc biệt là ngôi nhà của người Dao họ.
Một trong những hoạt động được khách tham quan chú ý và quan tâm
nghiên cứu tìm hiểu nhất đó là hoạt động trình diễn, thấy rõ được vai trò của
thực tế đặt ra ban giám đốc thường xuyên chỉ đạo thực hiện tốt các hoạt động

cùng với một số ngôi nhà khác tại khu Bảo tàng ngoài trời - BTDTHVN còn tổ
chức "lễ hội đầu xuân như: múa hát chơi trò chơi, ẩm thực… các hoạt động
trên đã tạo ra sức hút với đông đảo công chúng về dự và tham gia thông qua
hoạt động đó bảo tàng trở thành một điểm thăm quan du lịch độc đáo góp phần
quan trọng vào việc giới thiệu các nền văn hoá của các dân tộc tới mọi tầng lớp
12
nhân dân trong và ngoài nước. Du khách tới đây không chỉ được nghe các làn
điệu dân ca truyền thống được chứng kiến và tham gia các trò chơi dân gian mà
còn được giao lưu trực tiếp với các nghệ nhân, thông qua các hoạt động đó bảo
tàng đã giới thiệu một cách sâu sắc tới du khách nhất là học sinh sinh viên các
nhà nghiên cứu biết được ý nghĩa văn hoá truyền thống, từ đó họ có thể đưa ra
những nhận xét về việc lưu giữ phát huy gìn giữ các giá trị vật chất cũng như
tinh thần của các dân tộc.
Năm 2005 cùng với các nhà nghiên cứu ngôi nhà của người Dao họ cùng
với ngôi nhà của người H'mông đã tổ chức trình diễn kỹ thuật rèn đúc của
người H'mông đã thu hút nhiều khách tham quan tới dự và cổ vũ.
Qua các hoạt động trình diễn trên tuy không được nhiều nhưng đã đóng
một vai trò cực kỳ quan trọng không chỉ thu hút khách trong nước mà còn thu
hút cả khách nước ngoài sở dĩ thu hút đông đảo công chúng như vậy vì thông
qua các hoạt động trực quan và sinh động đó khách tham quan được tận mắt
chứng kiến được giao lưu với ba còn bản địa qua đó sẽ phần nào hiểu biết về
đời sống văn hoá tinh thần của đồng bào dân tộc.
2.2. Về khách thăm quan của ngôi nhà Dao họ
* Khách trong nước
So với các ngôi nhà được dựng tại Bảo tàng ngoài trời thì ngôi nhà nửa
sàn nửa trệt của người Dao họ có cấu trúc đơn giản, không phức tạp như nhà
Dài của người Êđê, nhà Chăm nhà rông… song nhà của người Dao họ vẫn có
sức hấp dẫn đặc biệt đối với du khách trong và ngoài nước, sở dĩ có được như
vậy là do sự độc đáo về hình thức cũng như bố cục của ngôi nhà đó là loại hình
nhà nửa sàn nửa trệt và kỹ thuật tạo dựng ngôi nhà… Ngoài ra còn nhiều yếu tố

tòi để hiểu biết về cấu trúc ngôi nhà cũng như các hiện vật trưng bày gắn với
ngôi nhà họ luôn so sánh các loại hình nhà của các dân tộc được trưng bày tại
bảo tàng ngoài trời họ so sánh về nguyên vật liệu và kỹ thuật dựng nhà, bố cục
từng ngôi nhà và họ luôn đưa ra những câu hỏi như: tại sao có những ngôi nhà
to, dài, rộng kiến trúc cầu kỳ phức tạp như nhà của người Êđê, Việt có những
ngôi nhà rất đơn giản như nhà Dao, Mông? đối với ngôi nhà Dao họ thường có
những câu hỏi như: tại sao ngôi nhà lại làm nửa sàn nửa đất? Tại sao nhà lại có
14
hai cửa, nửa sàn dùng để làm gì? Tại sao ngôi nhà này lại ít gian như vậy?
nhưng sự thắc mắc đó họ đều được lý giải một cách tận tình chu đáo của cán bộ
bảo tàng trong mỗi ngôi nhà đặc biệt là nhà Dao họ.
Ngoài ra họ còn quan tâm tơi sự trưng bày các hiện vật cũng như những
hình thái sinh hoạt gắn với hiện vật đó, như họ rất quan tâm tới chiếc khung cửi
thông qua chiếc khung cửi khách tham quan họ muốn tìm hiểu về quá trình
cũng như các thao tác dệt vải của họ. Ngoài ra căn buồng cô dâu đặt ở cuối góc
sàn để lại ấn tượng rất đặc biệt cho khách tham quan, thông qua căn buồng đó
họ am hiểu về phong tục ở rể và phong tục trong cưới hỏi.
Khi du khách tham quan bước vào ngôi nhà điều đầu tiên khiến họ ấn
tượng nhất có lẽ là chiếc bàn thờ tổ tiên tuy có kết cấu đơn giản không cầu kỳ
như một số dân tộc khác nhưng thông qua đó khiến khách tham quan phần nào
hiểu biết về tập tục thờ cúng và các nghi lễ thường ngày nó gắn với bàn thờ của
người Dao họ không chỉ vậy khách tham quan còn ấn tượng bởi phần sàn nhà
là nơi sinh hoạt hàng ngày của gia đình và nơi ăn nghỉ của khách quý qua đây
thấy được đời sống sinh hoạt của họ.
ở giữa nhà là bếp lửa nó không chỉ để nấu ăn cho gia đình mà nó còn là
nơi để sưởi ấm.
Khi bước chân ra khỏi ngôi nhà khách tham quan thường để lại những
cảm xúc sâu lắng nhất về ngôi nhà như "9/4/06 tôi: Nguyễn Thị Hiề. Đây là lần
đầu tiên bạn tôi dẫn tôi đến bảo tàng dân tộc học, tôi rất ấn tượng với nơi này
đặc biệt là ngôi nhà của người Dao họ. Tôi rất thích một cặp buồng trước mặt

Khác với khách trong nước khách nước ngoài mỗi thi tham quan ngôi nhà họ
quan sát và đọc rất tỉ mỉ các bài giới thiệu về các hiện vật, họ quan tâm và thán
phục về kỹ thuật và nguyên vật liệu để dựng lên ngôi nhà của người Dao họ.
16

Chương III
HIỆN TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CHO NGÔI NHÀ DAO HỌ TAI
BẢO TÀNG DÂN TỘC HỌC VIỆT NAM
3.1. Hiện trạng ngôi nhà của người Dao họ
* Về vật liệu làm nhà
Do làm bằng vật liệu dễ bị mối mọt như: gỗ, tre, nứa nên ngôi nhà phải
sửa chữa thay thế định kỳ hơn nữa nguồn vật liệu dùng để làm nhà phải đi xa
mới có thể lấy được nên giá thành chi phí cho việc sửa chữa nhà cao.
* Về hiện vật trưng bày
Ban lãnh đạo và nhân viên đã có rất nhiều cố gứng trong việc sưu tầm
hiện vật cho ngôi nhà xong do một số điều kiện nhất định nên số lượng hiện vật
gắn với ngôi nhà vẫn chưa đầy đủ như trang phục, công cụ sản xuất, công cụ
săn bắt…, một số hiện vật đang trong tình trạng xuống cấp.
Hiện vật trưng bày tại ngôi nhà đã có giới thiệu.Tuy nhiên một số hiện
vật vẫn chưa có bài giới thiệu về nguồn gốc cũng như công dụngcủa chúng như
chài bắt cá, chạn, hòm đựng đồ, cối giã cum lúa, sàn gác bếp…
* Về phương tiện truyền thông
Hiện nay ngôi nhàngười Dao họ đã có máy thu hình để giới thiệu lễ cấp
sắc của người Dao họ như vậy vẫn chưa phản ánh đầy đủ về mọi mặt đời sống
cũng như phong tục tậpquán của người Dao họ.
* Về hoạt động trình diễn
Các hoạt động trình diễn gắn với ngôi nhà của người Dao họ, tuy hàng
năm có tổ chức song còn quá ít chưa đáp ứng được nhu cầu của khách tham
quan, nội dung trình diễn còn eo hẹp, chưa phản ánh được hết về cuộc sống
hàng ngày cũng như phong tục tập quán của người Dao nói chung và người

18
* Về tài liệu chuyên ngành
Hầu hết khách tới tham quan ngôi nhà họ đều có nhu cầu tìm hiểu kỹ với
đời sống cũng như các phong tục tập quán của người Dao nói chung và người
Dao họ nói riêng và ngôi nhà đã có một số tài liệu đó. Tuy nhiên số lượng cũng
như chất lượng tài liệu còn nhiều hạn chế, vẫn chưa có tài liệu là tiếng nước
ngoài để phục vụ khách quốc tế.
3.2. Một số giải pháp cho ngôi nhà của người Dao họ
Về các nguyên vật liệu dựng nhà thường bị mối mọt xâm hại do đó phải
có những biện pháp phòng trừ như: tổ chức các đợt diệt mối định kỳ, đối với
các vật liệu không sẵn có nền tìm những vật liệu tương tự để thay thé.
Về hiện vật trưng bày trong ngôi nhà còn hạn chế trong thời gian tới cần
phải tổ chức cá chuyến đi sưu tầm và sau khi sưu tầm xong cần phải có những
biện pháp bảo quản thật hiệu quả, cần phải nghiên cứu và đầu tư viết các bài
giới thiệu về các hiện vật ra 3 thứ tiếng trở lên.
Bảo tàng nên có những trang phục của các dân tộc gắn với mỗi ngôi nhà
để cho khách thuê chụp ảnh, quay phim làm lưu niệm.
Cần có những băng, đĩa, video clip để giới thiệu cho khách tham quan.
Các hoạt động trình diễn phải diễn ra thường xuyên hơn, nội dung trình
diễn phải phong phú thiết thực và có sự thống báo trên các phương tiện thông
tin đại chúng.
Hệ thống chiếu sáng hiện nay ngôi nhà đã có xong chưa đáp ứng đủ do
vậy trong thời gian tới bảo tàng cần phải có kế hoạch nhằm hoàn thiện về cảnh
quan môi trường xung quanh ngoài một số loại cây đã có cần phải bổ xung
thêm một số cây gắn kết với ngôi nhà…
Cần phải bổ sung thêm một số tài liệu chuyên ngành về người Dao nói
chung và người Dao họ nói riêng các tài liệu đó ngoài tiếng Việt cần phải dịch
ra các thứ tiếng như: Anh, Pháp, Trung Quốc…
19
Trong thời gian tới ngôi nhà cần phải xây dựng một lối đi giành riêng và

trách nhiệm của các nhân viên nhà Dao họ trong công tác bảo tàng. Tuy niên
còn một số hạn chế chưa thể khắc phục được ngay gây ra một số cản trở cho
khách tham quan nhưng những hạn chế đó đang được các nhân viên phụ trách
ngôi nhà và ban lãnh đạo cùng phối hợp giải quyết nhằm đưa ngôi nhà người
dao họ nói riêng và BTDTHVN nói chung trở thành một nơi thăm quan hấp
dẫn và bổ ích.
21
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bảo tàng dân tộc học Việt Nam, 10 năm xây dựng và phát triển (1995
- 2005) - NXB Thế giới - H. 2006.
2. Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam những ngôi nhà dân gian - nhiều tác
giả - NXB Thế giới - HN. 2005.
3. Các nghi lễ tín ngưỡng liên quan đến ngôi nhà của người Dao (qua
khảo sát xã Sơn Hà, huyện Bảo Thắng tỉnh Lào Cai) - Khoá luận tốt nghiệp
Dân tộc học 2005 - Chu Quang Cường.
4. Bài thuyết minh về ngôi nhà người Dao họ - Chu Quang Cường.
22
MỤC LỤC
1
M UỞĐẦ 1
1. Lý do ch n t iọ đề à 1
2. i t ng nghiên c uĐố ượ ứ 2
3. M c ích nghiên c uụ đ ứ 2
4. Ph ng pháp nghiên c uươ ứ 2
5. óng góp c a t iĐ ủ đề à 2
6. B c c c a t iố ụ ủ đề à 2
Ch ng I GI I THI U CHUNG V B O T NG D N T C H C VI T NAMươ Ớ Ệ Ề Ả À Â Ộ Ọ Ệ
3
1.1. V i nét v BTDTHVNà ề 3
Ch ng IIươ 11


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status