KHÔNG GIAN VĂN HÓA ÊĐÊ TẠI BẢO TÀNG DÂN TỘC HỌC VIỆT NAM - Pdf 39

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
----------

ĐÀM THỊ HỢP

KHÔNG GIAN VĂN HÓA ÊĐÊ
TẠI BẢO TÀNG DÂN TỘC HỌC VIỆT NAM
Chuyên ngành : Văn hóa học
Mã số
: 60 31 06 40

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HÓA HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. HOÀNG CẦM

HÀ NỘI - NĂM 2016


LỜI CẢM ƠN
Sau hai năm học tập và nghiên cứu tại Học viện Khoa học xã hội, tác giả
đã kết thúc chương trình đào tạo cao học, chuyên ngành Văn hóa học với đề tài
“Không gian văn hóa Êđê tại Bảo tàng Dân tộc Việt Nam”. Trong quá trình
học tập và nghiên cứu, tác giả đã nhận được sự giúp đỡ, động viên của nhiều
tập thể, cá nhân:
Xin được bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới Học viện Khoa học xã hội
Việt Nam, Phòng Quản lý đào tạo, khoa Văn hóa học, các thầy cô giáo và các
bạn học viên lớp Văn hóa học đợt 1 năm 2014.


BẢNG KÊ NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT
1. DTHVN

: Dân tộc học Việt Nam

2. PGS

: Phó giáo sư

3. TS

: Tiến sĩ

4. GĐ

: Giám đốc

5. PGĐ

: Phó giám đốc

6. ĐH

: Đại học

7. tr

: Trang


: Nhà xuất bản Hồng Đức


MỤC LỤC
PHỤ LỤC


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Du khách tới tham quan Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, ra khu Vườn
kiến trúc thường bị thu hút đặc biệt bởi ngôi nhà rông của người Bana cao vút
và ngôi nhà sàn của người Êđê dài khác thường. Với những ai chưa một lần
được đặt chân tới mảnh đất Tây Nguyên hùng vĩ, hoặc chưa có chút hiểu biết
gì về văn hóa cổ truyền Tây Nguyên, thì các ngôi nhà dân gian này sẽ đem lại
ấn tượng lạ về văn hóa của người Tây Nguyên. Hay nói cách khác, nhà rông
Bana và nhà dài Êđê sẽ lưu lại trong tâm thức người xem những dấu ấn đặc
sắc về văn hóa vật thể và phi vật thể của hai dân tộc này. Bảo tàng bằng
phương pháp và tri thức dân tộc học của mình, đã tái hiện lại những lát cắt
văn hóa đặc trưng cho một giai đoạn lịch sử nhất định của một số dân tộc,
giúp công chúng tiếp cận và khám phá các nét văn hóa truyền thống tiêu biểu
của các dân tộc Việt Nam.
Dân tộc Êđê có nhiều nhóm địa phương khác nhau như: Adham, Ktul,
Mthur, Kpă, Bih…, mỗi nhóm có những nét văn hóa riêng nhất định. Vậy, các
nhà nghiên cứu với tri thức dân tộc học và quan điểm của mình đã lựa chọn
ngôi nhà như thế nào để giới thiệu với công chúng tham quan Bảo tàng
DTHVN, ngôi nhà đó là của chung cộng đồng người Êđê hay của một nhóm
địa phương riêng biệt và nó có thực sự nói lên được những đặc trưng cơ bản
của tộc người này? Như tác giả Henrietta đã khẳng định: Sưu tập bảo tàng
không đơn giản là những đồ đạc do người tiền sử tạo ra, được sưu tầm và
trưng bày. Chúng còn là những sự kiện lịch sử, xã hội và chính trị [74, tr.153].

Năm 2006, trong luận văn thạc sĩ văn hóa học, trường Đại học Văn hóa
Hà Nội, tác giả Phạm Thị Bích Vân nghiên cứu đề tài “Trưng bày các công
trình kiến trúc tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam”. Luận văn đã làm sáng tỏ
những kinh nghiệm đóng góp của Bảo tàng Dân tộc Việt Nam trong việc nâng

2


cao nhận thức của công chúng về diện mạo văn hóa các dân tộc Việt Nam
thông qua các công trình kiến trúc dân gian tại khu trưng bày ngoài trời. Đồng
thời, tác giả cũng đưa ra một số giải pháp cho hoạt động trưng bày các công
trình kiến trúc dân gian tại đây.
Ở một hướng nghiên cứu khác, năm 2010 tác giả Lê Tùng Lâm lại đi
sâu tìm hiểu “Trình diễn văn hóa phi vật thể tại Bảo tàng Dân tộc học Việt
Nam” luận văn thạc sĩ văn hóa học, trường Đại học Văn hóa Hà Nội. Với
nghiên cứu này, tác giả quan tâm nhiều tới hoạt động trình diễn các loại hình
văn hóa phi vật thể tại Bảo tàng, hiệu quả và những bài học kinh nghiệm.
Cũng đề cập đến hoạt động trình diễn văn hóa phi vật thể nhưng đi vào
các vấn đề cụ thể hơn, năm 2011 tác giả Lưu Hồng Sang thực hiện đề tài
“Trình diễn rối nước dân gian tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam”, luận văn
thạc sĩ văn hóa học. Năm 2014, tác giả Phùng Thị Mai Anh nghiên cứu đề tài
“Tết nguyên đán với việc trình diễn văn hóa phi vật thể ở Bảo tàng Dân tộc
học Việt Nam”, luận văn thạc sĩ văn hóa học, Học viện Khoa học xã hội Việt
Nam. Cả hai tác giả đều có những phân phân tích về các phương pháp thu hút
công chúng của Bảo tàng, vai trò của Bảo tàng trong việc gìn giữ và bảo tồn
văn hóa truyền thống (rối nước dân gian, tranh dân gian Đông Hồ, trò chơi
dân gian pháo đất...). Để so sánh, đối chiếu sự tương đồng và khác biệt giữa
văn hóa các nước Đông Nam Á, năm 2013, tác giả An Thu Trà tiếp cận đề tài
“Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam và giới thiệu tết Trung thu của Hàn Quốc,
Nhật Bản, Việt Nam”, luận văn thạc sĩ văn hóa học, trường Đại học Khoa học

trong hoạt động bảo tàng nhằm thảo luận làm thế nào để tránh việc thể hiện
các dân tộc như tĩnh tại và phi thời gian, mà thể hiện sự năng động và biến đổi,
cũng như tìm tòi sử dụng các lý thuyết bảo tàng học và nhân học” [73, tr.182].
Các nghiên cứu đi trước đã trở thành cơ sở lý luận và là nguồn tư liệu
quan trọng giúp học viên tiếp cận và đưa ra hướng nghiên cứu phù hợp với
nội dung đề tài của mình.

4


3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Thực hiện đề tài luận văn này, tác giả muốn giúp người đọc tìm hiểu
không gian văn hóa Êđê được tái hiện tại Bảo tàng DTHVN như thế nào? Vai trò
của Bảo tàng trong xã hội đương đại và vấn đề tái tạo văn hóa tộc người thông
qua các quan điểm tiếp cận nhân học bảo tàng tại Bảo tàng DTHVN. Từ đó
khẳng định, việc áp dụng các phương pháp làm bảo tàng mới là hoàn toàn phù
hợp và cần thiết để Bảo tàng DTHVN Việt Nam hòa nhập và tiến kịp sự phát
triển của ngành bảo tàng thế giới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là không gian văn hóa Êđê hiện
đang được trưng bày và bảo tồn tại Bảo tàng DTHVN.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung vào một số nội dung sau đây:
Phòng trưng bày về cư dân Nam Đảo miền núi ở tầng 2, tòa Trống đồng; ngôi
nhà dài trong Vườn kiến trúc và toàn bộ hoạt động trình diễn tại Bảo tàng liên
quan quan tới tộc người Êđê
Về thời gian nghiên cứu: Luận văn sẽ tìm hiểu không gian văn hóa Êđê
trưng bày tại Bảo tàng DTHVN từ khi khánh thành Bảo tàng (1997) cho tới nay.
5. Phương pháp nghiên cứu
Sau khi xác định được đề tài nghiên cứu, tác giả luận văn tiến hành
tổng quan các tài liệu viết về hoạt động bảo tàng, Bảo tàng DTHVN và dân

Công chúng tham quan bảo tàng là đối tượng mà toàn bộ các hoạt động
của bảo tàng hướng tới. Do đó, khi thực hiện luận văn này, tác giả cũng chú ý
tiếp nhận nhiều ý kiến phản hồi của khách tham quan. Đặc biệt, 30 cuộc
phỏng vấn sâu với khách tham quan và từ những cảm nhận của du khách
trong cuốn sổ ghi cảm tưởng tại nhà dài Êđê đã giúp ích cho việc tìm hiểu các
nhận xét của công chúng đối với không gian văn hóa Êđê tại Bảo tàng
DTHVN.

6


6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về mặt lý luận: Luận văn cung cấp một số quan niệm mới về trưng bày
văn hóa tộc người, giúp cho các bảo tàng có cùng nội dung trưng bày tham
khảo kinh nghiệm, khi thực hiện các trưng bày liên quan đến văn hóa tộc
người.
Về mặt thực tiễn: Luận văn góp phần hoàn thiện tư liệu hồ sơ hiện vật
liên quan tới ngôi nhà dài Êđê, cung cấp cho độc giả một cái nhìn toàn cảnh
về không gian văn hóa Êđê đang được trưng bày và bảo tồn tại Bảo tàng
DTHVN.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội
dung chính của luận văn được chia làm ba chương:
Chương 1: Giới thuyết khái niệm và tổng quan về Bảo tàng Dân tộc
học Việt Nam
Chương 2: Hoạt động tái hiện không gian văn hóa Êđê tại Bảo tàng
Dân tộc học Việt Nam
Chương 3: Không gian văn hóa Êđê tại Bảo tàng Dân tộc học Việt
Nam: Một số vấn đề bàn luận



8


khía cạnh văn hóa vật thể và phi vật thể của cộng đồng cư dân, thể hiện tiêu
biểu mọi mặt cuộc sống và mọi sáng tạo của họ [6, tr.102]. Đặc biệt, trong
việc tái tạo các công trình kiến trúc dân gian ở Vườn kiến trúc, quan điểm nổi
bật là đòi hỏi nghiên cứu rất cụ thể về văn hóa các dân tộc gắn liền với các
hiện vật, các sưu tập hiện vật. Vậy nên, ngôi nhà dài Êđê ở Bảo tàng DTHVN
không phải là nhà dài chung chung đang hoặc từng hiện hữu ở đâu đó, mà là
một căn nhà cụ thể, của chủ nhân cụ thể, ở một địa phương cụ thể: nhà của gia
đình bà H’đách Êban, ở buôn Ky, phường Thành Nhất, thành phố Buôn Ma
Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
Như thế, trong quan niệm của Bảo tàng DTHVN, bản sắc văn hóa các
tộc người được thể hiện qua những hiện vật dung dị, đời thường, gắn liền với
môi trường sống tự nhiên và bối cảnh sinh hoạt thực tế của mỗi dân tộc, đồng
thời chúng cũng tiêu biểu, đặc trưng cho tập quán, nếp sinh hoạt của một cộng
đồng người. Trưng bày bảo tàng luôn cố gắng thể hiện sự vận động, biến đổi
của văn hóa qua câu chuyện hàm chứa bên trong mỗi hiện vật. Trường hợp
ngôi nhà dài Êđê là trưng bày gắn liền với thiết chế văn hóa mẫu hệ, đặc trưng
rõ nét nhất của người Êđê.
1.1.2. Bảo tàng và chức năng của bảo tàng
Hiện trên thế giới hiện có rất nhiều định nghĩa về bảo tàng. Tổ chức
quốc tế về bảo tàng ICOM đưa ra định nghĩa về bảo tàng như sau: “Bảo tàng
là một thiết chế phi lợi nhuận, hoạt động thường xuyên, mở cửa đón công
chúng đến xem, phục vụ cho xã hội. Bảo tàng sưu tầm, bảo quản, nghiên cứu,
thông tin và trưng bày các bằng chứng vật thể và phi vật thể về con người và
môi trường của con người vì mục đích nghiên cứu, giáo dục và thưởng thức”
[27, tr.110].
Trong cuốn “Từ điển tiếng Việt” của Viện Ngôn ngữ học (Hoàng Phê

Nghĩa trừu tượng: “Không gian văn hóa như một trường (mượn khái
niệm trường của vật lý) để chỉ một một hiện tượng hay tổ hợp các hiện tượng

10


(một nền văn hóa của tộc người, quốc gia hay khu vực) có khả năng tiếp nhận
và lan tỏa (ảnh hưởng), tạo cho nền văn hóa đó một không gian (trường) văn
hóa rộng hay hẹp khác nhau” [55, tr.7-8]. Tác giả cho rằng: dân tộc có dân số
đông, sống ở những nơi phát triển sẽ có không gian (hay trường) rộng như
người Việt (Kinh). Người Việt có khả năng thâu nhận cao nên nó cũng có độ
lan tỏa và ảnh hưởng đối với các văn hóa tộc người khác. Ngược lại, những
dân tộc có dân số ít, sống ở những nơi biệt lập (vùng sâu, vùng xa), nền văn
hóa sẽ có không gian (trường) hẹp, do ít chịu tác động và ảnh hưởng từ các
nền văn hóa khác.
Kế thừa định nghĩa về không gian văn hóa trình bày ở trên, khái niệm
không gian văn hóa trong đề tài này được giới hạn như sau: Không gian văn
hóa Êđê tại Bảo tàng DTHVN là một không gian trưng bày xác định, mà ở đó
các hiện tượng hay một tổ hợp hiện tượng văn hóa Êđê được tái hiện, trưng
bày và giới thiệu với công chúng tham quan. Các hiện tượng hay tổ hợp văn
hóa này tồn tại và liên kết với nhau như một hệ thống tạo nên một phần bản
sắc văn hóa của tộc người Êđê trong Bảo tàng.
1.2. Tổng quan về Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam
1.2.1. Quá trình thành lập
Bảo tàng DTHVN chính thức thành lập ngày 24/10/1995 và trưng bày
đầu tiên (khu trưng bày Các dân tộc Việt Nam) được khánh thành vào ngày
12/11/1997. Tuy nhiên, những ý tưởng về thành lập Bảo tàng đã được hình
thành và thúc đẩy mạnh mẽ từ nửa cuối thập niên 70 của thế kỷ trước. Những
ý tưởng này xuất phát từ những nhà dân tộc học ở Viện Dân tộc học 1. Qua
thực tiễn những năm tháng nghiên cứu dân tộc học, nhất là điền dã dân tộc

thành phố Hà Nội ra công văn số 1846/CVUB đồng ý để viện Dân tộc học
xây dựng bảo tàng tại xã Dịch Vọng, huyện Từ Liêm, Hà Nội (nay là quận
Cầu Giấy, Hà nội). Ngày 31/7/1990, Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết
định số 273/CT về việc giao 3,27 ha đất để xây dựng Bảo tàng DTHVN.
Công trình được triển khai xây dựng từ cuối năm 1989, nhưng do sự đầu tư
thiếu tập trung nên tiến độ xây dựng đã bị chậm lại [1, tr.9].
Trong nhiều năm, Phòng bảo tàng là một bộ phận của Viện Dân tộc
học, theo mô hình của Liên Xô (Bảo tàng Dân tộc học ở Lêningrat là một
phân viện của Viện Dân tộc học thuộc Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô). Đến
21

Bế Viết Đẳng, Đặng Nghiêm Vạn, Mạc Đường, Nguyễn Văn Huy.

12


năm 1995, do nội bộ Viện Dân tộc học có nhiều phức tạp, để ổn định tình
hình và thúc đẩy việc xây dựng Bảo tàng, Chính phủ đã quyết định thay đổi
mô hình tổ chức bằng cách thành lập Bảo tàng DTHVN (tách khỏi Viện Dân
tộc học). Theo quyết định số 689/TT ngày 24/10/1995 của Thủ tướng, Bảo
tàng DTHVN chính thức được thành lập và trở thành một đơn vị trực thuộc
Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia (nay là Viện Hàn lâm Khoa
học xã hội Việt Nam). Bảo tàng DTHVN có chức năng: nghiên cứu khoa học,
sưu tầm, kiểm kê, bảo quản, phục chế, trưng bày, trình diễn để giới thiệu và
giáo dục về các giá trị lịch sử, văn hóa của các dân tộc trong và ngoài nước;
cung cấp tư liệu nghiên cứu về các dân tộc cho các ngành; đào tạo cán bộ
nghiên cứu, nghiệp vụ, quản lý về nhân học bảo tàng và bảo tàng dân tộc học.
Khi mới thành lập, Bảo tàng DTHVN có 18 cán bộ và đều từ Viện Dân
tộc học chuyển sang, trong đó có 15 cán bộ nghiên cứu [6, tr.46]. Lớp cán bộ
này rất có thế mạnh trong việc nghiên cứu, sưu tầm các hiện vật dân tộc học

1. Giới thiệu chung
7. Nhóm Tạng - Miến
2. Người Việt
8. Nhóm Môn - Khơme miền Bắc
3. Các dân tộc Mường, Thổ, Chứt 9. Nhóm Môn - Khơme Trường Sơn - Tây
Nguyên
4. Nhóm Tày - Thái
10. Nhóm Nam Đảo
5. Nhóm Kađai
11. Các dân tộc Chăm, Hoa, Khơme
6. Nhóm Hmông - Dao
12. Sự giao lưu văn hóa và biến đổi
Đời sống sinh hoạt hằng ngày, địa bàn cư trú, các phong tục tập quán
đặc trưng, tôn giáo - tín ngưỡng của 54 dân tộc Việt Nam được giới thiệu một
cách sinh động thông qua hệ thống hiện vật trưng bày, các không gian tái tạo
tại tòa nhà Trống đồng. Đó là hiện vật đồ vải của các dân tộc như: khố, váy,
khăn, tấm đắp… được trang trí bằng các kỹ thuật truyền thống khác nhau; đồ
đan, nhất là các loại gùi, giỏ, mâm; những nhạc cụ bằng tre, vỏ bầu khô; vũ
khí như: nỏ, giáo; các hiện vật trong nghi lễ… Các khu tái tạo theo từng chủ
đề như: đám ma Mường, lễ lẩu then của người Tày, lễ cấp sắc của người Dao,
phiên chợ vùng cao… Cùng với hiện vật và không gian tái tạo, trong các

14


phòng trưng bày còn có ảnh và phim tư liệu, hệ thống bài viết phản ánh những
khía cạnh văn hóa vật thể và phi vật thể, giới thiệu đời sống và sự sáng tạo
văn hóa của các tộc người. Thông tin trong các bài viết cũng như các chú
thích đều được thể hiện bằng 3 thứ tiếng: tiếng Việt, tiếng Pháp và tiếng Anh,
nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho khách tham quan trong và ngoài nước

Việt Nam [68, tr.34]. TS Lưu Hùng nhấn mạnh: “Khi nhắc tới Vườn kiến kiến
trúc thì không thể không nhắc tới khu trưng bày thường xuyên Các dân tộc
Việt Nam, hai phần trưng bày này bổ sung cho nhau để tạo nên bức tranh tổng
thể văn hóa của 54 dân tộc ở Việt Nam” [phỏng vấn ngày 24/10/2015].
Việt Nam có tới 54 dân tộc, tuy nhiên với một diện tích đất hạn chế
(hơn 2ha), trong Vườn kiến trúc của Bảo tàng DTHVN chỉ có thể lựa chọn
trưng bày một số công trình kiến trúc dân gian: một khuôn viên của người
Chăm ở Ninh Thuận, một khuôn viên của người Việt ở Thanh Hóa, ngôi nhà
rông của người Bana, ngôi nhà sàn dài của người Êđê, nhà mồ người Giarai,
nhà mồ người Cơtu, nhà sàn của người Tày, nhà nửa sàn nửa trệt của người
Dao, nhà trệt lợp gỗ pơmu của người Hmông và nhà trình tường của người Hà
Nhì. Bên cạnh đó, còn có một số hạng mục khác như: ghe ngo của người Khơ
Me, thủy đình phục vụ trình diễn rối nước của người Việt, lò rèn của người
Nùng, lò đúc gang của người Hmông, cối giã gạo dùng sức nước của người
Dao. Các hạng mục trưng bày ở đây phản ánh dự đa dạng, phong phú về kiến
trúc dân gian: từ loại hình, công năng, chất liệu đến kỹ thuật và tri thức bản
địa của các chủ nhân văn hóa khác nhau, nhằm đạt mục đích: “Chúng tôi
muốn giới thiệu ở đó các loại hình kiến trúc của các dân tộc thích ứng với môi
trường sinh thái khác nhau” [35, tr.619]. Ý tưởng của Bảo tàng là phản ánh
môi sinh của 3 vùng theo độ cao: vùng đồng bằng và ven biển; vùng núi thấp
và cao nguyên; cuối cùng là vùng cao. Cho nên, hành trình tham quan khu
trưng bày này bắt đầu từ nhà người Chăm, nhà người Việt (vùng đồng bằng
và ven biển); sau đó, lên vùng rẻo giữa (thể hiện bằng các bậc tam cấp gần

16


thủy đình), một bên là nhà rông Bana, nhà dài Êđê, nhà mồ Giarai, nhà mồ
Cơtu và bên kia là nhà người Tày; tiếp đến vùng núi cao (thể hiện bằng dốc
đá đi lên nhà người Dao), với các ngôi nhà của người Dao, người Hmông và

tế, văn hóa giữa Việt Nam với các nước Đông Nam Á ngày càng đóng vai trò
quan trọng trong khu vực. Tuy nhiên, sự hiểu biết của chúng ta về Đông Nam
Á còn rất hạn chế. Trong bối cảnh như vậy, việc xây dựng tại Bảo tàng
DTHVN một tòa bảo tàng để trưng bày, giới thiệu về các dân tộc ở Đông
Nam Á là cần thiết, rất có ý nghĩa về văn hóa và chính trị [6, tr.114]. Ngày
30/11/ 2013, tòa nhà Cánh diều được được khánh thành và khai trương phần
trưng bày đầu tiên nhằm phục vụ mục đích này.
Hiện nay, trong tòa nhà Cánh diều đã có các trưng bày ở tầng 1 và tầng 2.
Khu trưng bày tầng 1 dành cho trưng bày văn hóa Đông Nam Á. Đây là
trưng bày thường xuyên, giới thiệu khái quát về văn hóa các dân tộc ở Đông
Nam Á thông qua năm chủ đề: đồ vải, sinh hoạt thường ngày, nghệ thuật biểu
diễn, đời sống xã hội và tôn giáo - tín ngưỡng. Với chủ đề đồ vải, Bảo tàng
giới thiệu các kỹ thuật dệt (ikat - Campuchia, batik - Indonesia, bổ sung sợi
ngang - Lào), chất liệu dệt (sợi dứa; sợi chuối - Philippines, sợi tơ tằm Indonesia) và một số sản phẩm dệt truyền thống của cư dân Đông Nam Á.
Trong nội dung cuộc sống hằng ngày, rất nhiều nghề thủ công nổi tiếng của
các quốc gia được Bảo tàng giới thiệu như: nghề kim hoàn ở Malaysia,
Singapore; nghề sơn mài ở Myanmar; điêu khắc gỗ ở Brunei. Kiến trúc nhà ở
truyền thống, các tập quán liên quan tới ma chay, cuới xin, chữ viết… của cư
dân Đông Nam Á bản địa được giới thiệu thông qua hệ thống các bài viết và
hiện vật trong chủ đề đời sống xã hội. Riêng lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn,
Bảo tàng giới thiệu về rối bóng - một loại hình nghệ thuật nổi tiếng của
Indonesia. Một số loại hình tôn giáo như Phật giáo, Hindu giáo cũng được đề
cập tới trong trưng bày này.

18


Khu trưng bày tầng 2 bố trí 3 nội dung: Tranh kính Indonesia, Một
thoáng châu Á và Vòng quanh thế giới. Đây là 3 bộ sưu tập hiện vật của 3 cá
nhân đã hiến tặng cho Bảo tàng DTHVN. Trưng bày Tranh kính Indonesia



tiến trên thế giới được học tập và cuối cùng “chúng tôi chủ trương sưu tầm
những hiện vật đời thường trong cuộc sống thường nhật của các dân tộc,
không chú trọng đi tìm, đi nghiên cứu chỉ những gì thuộc về đặc tính dân tộc,
đặc trưng tộc người như các nhà dân tộc học đã làm trước đây, mà cố gắng có
một cái nhìn rộng rãi hơn. Văn hóa và cuộc sống thường nhật của các thành
viên hay nhóm người trong dân tộc đó” [6, tr.27].
Quan niệm này trong quá trình thực hiện đã vấp phải những tranh luận trái
chiều như khi trưng bày chiếc xe đạp chở đó ở tầng 1 của toà Trống đồng, có ý
kiến cho rằng “chẳng khác gì đã kéo nền văn hóa Việt lùi cả ngàn năm”, hay một
số cán bộ giảng dạy về bảo tàng cho rằng những hiện vật đời thường ở Bảo tàng
DTHVN không xứng đáng là hiện vật bảo tàng, vì nó không quý hiếm, không có
giá trị cao… [6, tr.28].
Văn hóa như sự pha trộn, đa dạng, vận động và biến đổi
Như đã nói trên, Vườn kiến trúc ở Bảo tàng DTHVN là khu trưng bày
các công trình kiến trúc dân gian của nhiều dân tộc. Trong quá trình xây dựng
và hoàn thiện khu trưng bày này, nhiều quan điểm dân tộc học/nhân học đã
hình thành và ngày càng được củng cố một cách rõ nét. Tuy nhiên, cùng thời
điểm đó, cũng có quan điểm trái ngược trong giới dân tộc học nước ta. Ví dụ
như sau khi trưng bày ngôi nhà của người Dao Họ (năm 1999), PGS.TS
Nguyễn Khắc Tụng, một nhà dân tộc học nghiên cứu về nhà cửa 1 đã lên tiếng
phê phán. Ông cho rằng: 1/ Nhóm Dao Họ được Bảo tàng chọn không phải
nhóm điển hình; dân tộc Dao có nhiều nhóm địa phương, phải chọn nhóm
Dao Đỏ, Dao Tiền mới điển hình, tiêu biểu; 2/ Người Dao có cả 3 loại hình
nhà: nhà sàn, nhà trệt và nhà nửa sàn nửa trệt, loại hình nhà trệt mới là nguyên
gốc, phổ biến, điển hình; 3/ Trưng bày nội thất của ngôi nhà này không đúng:
người ở nhà nửa sàn nửa trệt là dân du canh du cư, không có ruộng, chỉ làm
1


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status