Lời nói đầu
Trong nền kinh tế hàng hoá, điều kiện để các doanh nghiệp có thể thực
hiện đợc các hoạt động sản xuất kinh doanh là phải có một số vốn nhất định.
Nếu không có vốn thì không thể nói tới bất kỳ hoạt động sản xuất kinh
doanh nào. Do đó nhiệm vụ đặt ra cho các doanh nghiệp là phải sử dụng vốn
sao cho có hiệu quả cao nhất.
Quản lý và sử dụng vốn sản xuất kinh doanh có ý nghĩa hết sức quan
trọng, là điều kiện tiên quyết để các doanh nghiệp khẳng định đợc vị trí của
mình và tìm chỗ đứng vững chắc trong cơ chế mới. Chính vì thế vấn đề quản
lý và sử dụng vốn đang là một vấn đề rất bức xúc đặt ra đối với tất cả các
doanh nghiệp.
Trong cơ chế bao cấp trớc đây, vốn của doanh nghiệp hầu hết đợc Nhà
nớc tài trợ qua việc cấp phát, số còn lại đợc Ngân hàng cho vay với lãi suất u
đãi. Do đợc bao cấp về vốn đã gay nên sự ỷ lại trông chờ vào Nhà nớc của
các doanh nghiệp trong việc tổ chức nguồn vốn đáp ứng cho nhu cầu sản
xuất kinh doanh, hiệu quả sử dụng vốn thấp, nhiều doanh nghiệp không bảo
toàn và phát triển đợc vốn.
Chuyển sang nền kinh tế thị trờng, các doanh nghiệp nhà nớc cùng tồn
tại với các loại hình doanh nghiệp khác, có quyền tự chủ trong các hoạt động
sản xuất kinh doanh, tự tổ chức đảm bảo đủ vốn, đồng thời có trách nhiệm
bảo toàn và phát triển vốn. Nhiều doanh nghiệp đã thích nghi với tình hình
mới, đã phát huy đợc tính chủ động sáng tạo trong sản xuất kinh doanh, chất
lợng sản phẩm và dịch vụ tăng lên rõ rệt. Tuy nhiên bên cạnh các doanh
nghiệp làm ăn có hiệu quả, không ít các doanh nghiệp còn lúng túng trong
việc quản lý và sử dụng vốn. Nhiều doanh nghiệp không thể tái sản xuất giản
đơn, vốn sản xuât bị mất dần đi sau mỗi chu kỳ kinh doanh. Thực tế này do
1
nhiều nguyên nhân, một trong số đó là do công tác sử dụng vốn của doanh
nghiệp còn nhiều hạn chế, hiệu quả sử dụng vốn còn thấp. Do đó việc đẩy
mạnh công tác sử dụng vốn trong các doanh nghiệp là vấn đề hết sức cần
thiết, nó quyết định sự sống còn của mỗi doanh nghiệp.
lực quan trọng mà mọi dự án đầu t đều phải huy động đó là nguồn vốn.
Theo K Marx, vốn là t bản (Capital), là giá trị đem lại giá trị thặng d.
Theo đó vốn đợc xem xét dới giác độ giá trị, là một đầu vào của quá trình
sản xuất. Quan điểm này có tính khái quát cao mang ý nghĩa thực tiễn đến
tận ngày nay tuy nhiên nó hạn chế ở chỗ cho rằng vốn luôn tạo ra giá trị
thặng d và chỉ ở khu vực sản xuất mới tạo ra giá trị thặng d cho nền kinh tế.
Sau Marx, các nhà kinh tế học đại diện cho các trờng phái kinh tế khác
nhau đã đa ra nhiều quan điểm về vốn. Trong các quan điểm đó phải kể đến
quan điểm về vốn của P. Samuelson và của D. Begg. Theo P. Samuelson vốn
là những hàng hoá đợc sản xuất ra để phục vụ cho quá trình sản xuất mới, là
một trong ba yếu tố đầu vào của hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp (vốn, lao động, đất đai). Nh vậy vốn ở đây đợc xem xét dới hình thái
hiện vật, là tài sản cố định của doanh nghiệp. Khác với Samuelson, trong
cuốn "Kinh tế học " của David Begg, tác giả đa ra hai định nghĩa về vốn là
vốn hiện vật và vốn tài chính. Vốn hiện vật là dự trữ các hàng hoá đã sản
xuất ra để sản xuất ra hàng hoá khác. Vốn tài chính là tiền và các loại giấy tờ
có giá khác của doanh nghiệp.
3
Trong nền kinh tế thị trờng ngày nay, vốn đợc xem xét dới góc độ là
một yếu tố đầu vào của không chỉ một quá trình sản xuất riêng lẻ mà là của
một quá trình sản xuất và tái sản xuất diễn ra liên tục trong suốt thời gian tồn
tại của doanh nghiệp, thậm chí ngay cả khi doanh nghiệp không còn tồn tại
thì vốn của nó lại đợc chuyển vào các quá trình sản xuất kinh doanh khác.
Theo quan điểm này vốn là toàn bộ giá trị ứng ra ban đầu và các quá trình
tiếp theo, vốn đợc biểu hiện bằng cả tiền mặt lẫn các giá trị vật t, hàng hoá,
tài sản của doanh nghiệp. Vốn ở đây khác với tiền tệ thông thờng khác. Tiền
sẽ đợc coi là vốn khi chúng đợc bỏ vào sản xuất kinh doanh, ngợc lại nó
không đợc coi là vốn khi chỉ đợc dùng để mua sản phẩm phục vụ cho nhu
cầu sinh hoạt của cá nhân và xã hội.
Quan điểm này kế thừa các quan điểm trớc về vốn. Quan điểm này chỉ
hàng hoá bởi nó có giá trị sử dụng và giá trị. Vốn là hàng hoá đặc
biệt bởi lẽ quyền sở hữu và quyền sử dụng có thể tách rời nhau, tức là
vốn có thể đợc đem ra trao đổi lấy quyền sử dụng trên thị trờng (thị
trờng vốn).
2. Phân loại vốn
Tuỳ theo mục tiêu nghiên cứu mà có nhiều tiêu thức phân loại vốn
khác nhau nh theo nguồn hình thành, theo phơng thức chu chuyển, theo thời
gian huy động và sử dụng vốn Để phân tích hiệu quả sử dụng vốn của
doanh nghiệp, ngời ta thờng phân loại vốn theo phơng thức chu chuyển, tức
là phân chia vốn làm hai loại là vốn cố định và vốn lu động, đồng thời kết
hợp với các tiêu thức khác nhau để xem xét vốn dới nhiều góc độ hơn.
5
2.1 Phân loại vốn theo ph ơng thức chu chuyển :
Trong quá trình sản xuất và tái sản xuất, vốn vận động một cách liên
tục. Nó biểu hiện bằng những hình thái vật chất khác nhau, từ tiền mặt đến t
liệu lao động, hàng hoá dự trữ Sự khác nhau về mặt vật chất này tạo ra đặc
điểm chu chuyển vốn, theo đó ngời ta phân chia vốn thành hai loại là vốn cố
định và vốn lu động.
2.1.1 Vốn cố định
Cơ sở để phân biệt vốn cố định là hình thái biểu hiện của nó, tức là
dựa trên cơ sở nghiên cứu về tài sản cố định
a)Tài sản cố định:
Để tiến hành sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần có t liệu sản
xuất. Căn cứ vào tính chất, tác dụng, t liệu sản xuất đợc chia thành hai bộ
phận là t liệu lao động và đối tợng lao động. T liệu lao động đợc sử dụng để
tác động vào đối tợng lao động, tạo ra sản phẩm hàng hoá dịch vụ cho doanh
nghiệp. Đặc điểm cơ bản của t liệu lao động là chúng có thể tham gia trực
tiếp hoặc gián tiếp vào một hay nhiều chu kỳ sản xuất. Trong quá trình đó
giá trị của t liệu lao động bị giảm đi mặc dù giá trị sử dụng vẫn nh ban đầu,
giá trị của chúng đợc chuyển dần từng phần vào giá trị của sản phẩm.
cách khác vốn cố định là giá trị ứng ra ban đầu và trong các quá trình tiếp
theo để đầu t vào tài sản cố định nhằm phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp.
7
Khi tham gia vào sản xuất, tài sản cố định không bị thay đổi hình thái
vật chất ban đầu nhng tính năng và công suất bị giảm dần, sự suy giảm giá trị
đó đợc gọi là hao mòn hữu hình. Đồng thời giá trị thuần tuý của chúng giảm
dần do có những tài sản cố định cùng loại rẻ hơn hoặc hiện đại hơn. Bộ phận
giá trị hao mòn này chuyển dần dần vào giá trị của sản phẩm, điều đó quyết
định đến hình thái biểu hiện của vốn cố định trên hai góc độ: Vốn dới hình
thái hiện vật và vốn tiền tệ.
Phần giá trị tài sản cố định ứng với mức hao mòn đợc chuyển dần dần
vào giá trị của sản phẩm gọi là khấu hao tài sản cố định. Bộ phận giá trị này
là một yếu tố chi phí sản xuất và cấu thành lên giá thành của sản phẩm dịch
vụ. Hình thái tiền tệ của phần giá trị này đợc gọi là tiền khấu hao tài sản cố
định. Tiền khấu hao tài sản cố định đợc tích luỹ lại qua nhiều quá trình sản
xuất kinh doanh và đợc gọi là vốn tiền tệ của doanh nghiệp. Bộ phận này
dùng để tái sản xuất tài sản cố định, duy trì năng lực sản xuất của donh
nghiệp. Qua các chu kỳ sản xuất phần vốn tiền tệ này tăng dần.
Phần giá trị còn lại của tài sản cố định đợc "cố định" lại trong hình
thái hiện vật của tài sản cố định. Phần giá trị này giảm dần qua các chu kỳ
cùng với sự tăng lên của phần vốn tiền tệ. Khi tài sản cố định hết thời hạn sử
dụng cũng là lúc phần vốn hiện vật bằng không và phần vốn tiền tệ đạt đến
giá trị ứng ra ban đầu về tài sản cố định. Vốn cố định đã hoàn thành một
vòng luân chuyển.
Thông thờng vốn cố định là bộ phận quan trọng chiếm một tỷ trọng
cao trong tổng số vốn của doanh nghiệp. Đặc điểm luân chuyển của nó lại
tuân theo quy luật riêng. Do đó việc quản lý và sử dụng vốn cố định có ảnh
hởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
2.1.2 Vốn l u động:
b)Vốn lu động:
Vốn lu động là số tiền ứng ra về tài sản lu động nhằm đảm bảo cho
quá trình sản xuất kinh đoanh của doanh nghiệp đợc diễn ra một cách liên
tục. Vốn lu động luôn đợc chuyển hoá qua nhiều hình thức khác nhau, bắt
đầu từ hình thái tiền tệ sang hình thái dự trữ vật t, hàng hoá và quay trở về
hình thái tiền tệ ban đầu của nó. Quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra liên
tục do đó vốn lu động cũng tuần hoàn không ngừng theo chu kỳ. Đó là sự
chu chuyển của vốn lu động.
Căn cứ vào công dụng của vốn lu động, ngời ta phân chia vốn lu động
thành ba loại là:
- Vốn lu động nằm trong quá trình dự trữ: đó là giá trị nguyên vật
liệu, nhiên liệu, phụ tùng phục vụ cho quá trình sản xuất của doanh nghiệp.
- Vốn lu động nằm trong quá trình sản xuất: đó là giá trị sản phẩm dở
dang, bán thành phẩm, các phí tổn tính vào giá thành sản phẩm dịch vụ
- Vốn lu động nằm trong quá trình lu thông: là giá trị thành phẩm,
hàng hoá mua ngoài
Các hình thái vốn này cùng song song tồn tại và thay đổi chỗ cho
nhau, vận động không ngừng nhằm làm cho quá trình sản xuất kinh doanh đ-
ợc diễn ra một cách thờng xuyên liên tục. Doanh nghiệp phải nắm rõ các bộ
phận cấu thành của vốn lu động để từ đó có biện pháp huy động và sử dụng
vốn lu động một cách phù hợp, dảm bảo nhu cầu vốn lu động, đẩy nhanh tốc
độ luân chuyển vốn cũng nh tránh ứ đọng vốn
2.2 Phân loại vốn theo nguồn hình thành:
10
2.2.1 Vốn chủ sở hữu:
Là phần giá trị do những ngời sở hữu doanh nghiệp, những nhà đầu t
ứng ra để thành lập và duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp mà doanh nghiệp không phải cam kết thanh toán. Những ngời chủ sở
hữu của doanh nghiệp có thể là nhà nớc hay chủ doanh nghiệp, các cổ đông
hoặc các thành viên của doanh nghiệp. Có thể chia vốn chủ sở hữu làm ba
hợp tác sản xuất với doanh nghiệp đóng góp. Thông qua hình thức này, tổng
số vốn của doanh nghiệp đợc tăng lên mà chất lợng, chủng loại của sản phẩm
đợc cải thiện, tăng tính cạnh tranh của doanh nghiệp.
Vốn tín dụng thơng mại: là các khoản vốn có nguồn gốc từ các khoản
mua chịu từ ngời cung cấp cho doanh nghiệp hay các khoản ứng trớc của
khách hàng mà doanh nghiệp tạm thời chiếm dụng.
Vốn tín dụng thuê mua: là phần giá trị tài sản có đợc do đi thuê trên
thị trờng. Có hai hình thức đi thuê là thuê vận hành và thuê tài chính. Với sự
phát triển của thị trờng, tài chính tín dụng thuê mua ngày càng đóng vai trò
quan trọng nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp
2.3 Phân loại vốn theo thời gian huy động và sử dụng:
Theo phơng pháp này vốn đợc chia thành hai loại là:
Vốn thờng xuyên bao gồm vốn chủ sở hữu và các khoản nợ dài hạn
của doanh nghiệp. Đặc điểm của nguồn vốn này là ổn định và dài hạn.
12
Vốn tạm thời
Doanh nghiệp có thể dùng nó để đầu t mua sắm tài sản cố định và một phần
tài sản lu động tối thiểu thờng xuyên cần thiết cho hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp. Phần tài sản lu động đợc đầu t bởi vốn thờng xuyên đợc gọi là
tài sản lu động ròng.
Vốn tạm thời là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn (dới một năm) mà
doanh nghiệp có thể sử dụng để đáp ứng các nhu cầu có tính chất tạm thời,
bất thờng phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Nguồn
vốn này bao gồm các khoản vay ngắn hạn ngân hàng và các tổ chức tín dụng,
các khoản nợ ngắn hạn khác.
Việc phân loại này giúp cho ngời quản lý xem xét huy động các nguồn
vốn một cách phù hợp với thời gian và mục đích sử dụng, đáp ứng đầy đủ kịp
thời vốn cho sản xuất kinh doanh và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của
thể chớp dợc thời cơ và có lợi thế trong cạnh tranh.
14
Vốn cũng là yếu tố quyết định đến việc mở rộng phạm vi hoạt động
của doanh nghiệp. Để có thể tiến hành tái sản xuất mở rộng thì sau một chu
kỳ kinh doanh, vốn của doanh nghiệp phải sinh lời tức là hoạt động kinh
doanh phải có lãi đảm bảo vốn của doanh nghiệp đợc bảo toàn và phát triển.
Đó là cơ sở để doanh nghiệp tiếp tục đầu t mở rộng phạm vi sản xuất, thâm
nhập vào thị trờng tiềm năng từ đó tăng khối lợng tiêu thụ, nâng cao uy tín
của mình trên thơng trờng.Trong cơ chế bao cấp trớc đây, mọi nhu cầu về
vốn của doanh nghiệp đều đợc bao cấp qua nguồn cấp phát của ngân sách
nhà nớc và qua nguồn tín dụng với lãi suất u đãi của ngân hàng. Hơn nữa các
doanh nghiệp đều sản xuất theo chỉ tiêu pháp lệnh bởi vậy vốn không đợc coi
là vấn đề cấp bách, điều này đã làm thủ tiêu tính chủ động và sáng tạo của
doanh nghiệp trong việc sử dụng vốn.
Chuyển sang nền kinh tế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc với nhiều
thành phần kinh tế, các doanh nghiệp nhà nớc chỉ còn là một bộ phận song
song tồn tại với các thành phần kinh tế khác. Để duy trì hoạt động của mình,
tất yếu các doanh nghiệp phải năng động nắm bắt nhu cầu thị trờng, đầu t đổi
mới máy móc thiết bị cải tiến quy trình công nghệ, đa dạng hoá sản phẩm
của mình. Điều đó đòi hỏi các doanh nghiệp phải có vốn. Nhu cầu về vốn đã
trở thành động lực và là yêu cầu cấp bách đối với tất cả các doanh nghiệp.
Nó quyết định cơ cấu đầu t, đảm bảo sự sống còn cho doanh nghiệp.
Tuy nhiên, có đủ lợng vốn kinh doanh nhng vấn đề sử dụng sao cho có
hiệu quả vẫn đang còn là vấn đề mà tất cả các nhà quản trị tài chính doanh
nghiệp hết sức quan tâm. Sau đây ta sẽ đi sâu nghiên cứu những vấn đề cơ
bản về hiệu quả hoạt động sử dụng vốn trong các doanh nghiệp.
15
II Hiệu quả sử dụng vốn:
1 Quan điểm và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn:
1.1 Quan điểm về hiệu quả sử dụng vốn:
tại doanh nghiệp.Có hai phơng pháp để phân tích tài chính cũng nh phân tích
hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp, đó là phơng pháp so sánh và phơng
pháp phân tích tỷ lệ.
Phơng pháp so sánh: Để áp dụng phơng pháp này cần phải đảm bảo các
điều kiện so sánh đợc của các chỉ tiêu tài chính (thống nhất về không gian,
thời gian, nội dung, tính chất và đơn vị tính toán ) và theo mục đích phân
tích mà xác định gốc so sánh. Gốc so sánh đợc chọn là gốc về thời gian hoặc
không gian, kỳ phân tích đợc chọn là kỳ báo cáo hoặc kỳ kế hoạch, giá trị so
sánh có thể đợc lựa chọn bằng số tuyệt đối, số tơng đối hoặc số bình quân.
Nội dung so sánh có thể là so sánh giữa số thực hiện năm nay và năm trớc, so
17
sánh giữa số thực hiện và số kế hoạch, so sánh số thực hiện của doanh nghiệp
với số liệu trung bình của ngành
Phơng pháp tỷ lệ: trong phân tích tài chính doanh nghiệp, các tỷ lệ tài
chính đợc phân thành các nhóm tỷ lệ đặc trng, phản ánh những nội dung cơ
bản theo mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp. Đó là các nhóm tỷ lệ về khả
năng thanh toán, nhóm tỷ lệ về cơ cấu vốn và nguồn vốn, nhóm tỷ lệ về năng
lực hoạt động kinh doanh, nhóm tỷ lệ về khả năng sinh lời. Mỗi nhóm tỷ lệ
lại bao gồm nhiều tỷ lệ phản ánh riêng lẻ, từng bộ phận của hoạt động tài
chính, trong mỗi trờng hợp khác nhau, tuỳ theo giác độ phân tích, ngời phân
tích lựa chọn những nhóm chỉ tiêu khác nhau. Để phục vụ cho việc phân tích
hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp ngời ta thờng dùng một số các chỉ
tiêu mà ta sẽ trình bày cụ thể trong phần sau.
1.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn:
1.2.1 Chỉ tiêu về vốn cố định:
Nh trong phần trớc ta đã trình bày, tài sản cố định là hình thái biểu
hiện vật chất của vốn cố định. Vì vậy, để đánh giá đợc hiệu quả sử dụng vốn
cố định thì cần phải đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản cố định qua các chỉ
tiêu sau:
Hiệu suất sử dụng
Tài sản cố định
=
Giá trị TSCĐ lạc hậu, cũ giảm trong kỳ
Giá trị TSCĐ có ở đầu kỳ
Hai chỉ tiêu này không chỉ phản ánh sự tăng giảm thuần tuý về tài sản
cố định mà còn phản ánh trình độ tiến bộ khoa học kỹ thuât, tình hình đổi
mới trang thiết bị của doanh nghiệp.
Để trực tiếp phản ánh hiệu quả sử dụng vốn cố định, ngời ta sử dụng
hai chỉ tiêu sau:
-Hiệu suất sử dụng vốn cố định: đợc đo bằng tỷ lệ giữa doanh thu tiêu
thụ sản phẩm trong kỳ và số vốn cố định bình quân trong kỳ.
Hiệu suất sử
dụng
vốn cố định
=
Doanh thu thuần
Vốn cố định bình quân trong kỳ
19
Trong công thức trên vốn cố định bình quân trong kỳ là bình quân giá
trị còn lại của tài sản cố định đầu kỳ và cuối kỳ. Hiệu suất sử dụng vốn lu
động phản ánh một đồng vốn cố định trong kỳ tạo ra bao nhiêu đồng doanh
thu tiêu thụ sản phẩm hàng hoá trong kỳ.Đối với doanh nghiệp chỉ tiêu này
càng lớn càng tốt.
-Hiệu quả sử dụng vốn cố định: đợc đo bằng tỷ lệ giữa lợi nhuận ròng
trong kỳ và lợng vốn cố định bình quân trong kỳ.
Hiệu quả sử
dụng
vốn cố định
=
Lợi nhuận
của
vốn lu động
=
Doanh thu thuần
VLĐ bình quân trong kỳ
- Thời gian của một vòng luân chuyển: cho biết số ngày cần thiết để
vốn lu động quay đợc một vòng. Số vòng luân chuyển càng nhỏ thì tốc độ
luân chuyển của vốn lu động càng lớn và làm rút ngắn chu kỳ kinh doanh,
vốn quay đợc nhiều vòng hơn. Thời gian của một kỳ phân tích thờng là 1
năm hay 360 ngày
Thời gian của
một
vòng luân chuyển
=
Thời gian của một kỳ phân tích
Số vòng quay VLĐ trong kỳ
2 Các nhân tố ảnh hởng đến hiệu quả sử dụng vốn:
Doanh nghiệp là một tế bào của nền kinh tế, sự tồn tại và phát triển của
nó không thể tách rời ảnh hởng của các yếu tố ngoại cảnh cũng nh đặc điểm
của riêng nó. Vì vậy, hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp cũng chịu tác
động của các yếu tố đó một cách gián tiếp hoặc trực tiếp.
2.1 Các nhân tố khách quan:
a) Môi trờng tự nhiên: bao gồm toàn bộ các yếu tố tự nhiên có tác động
đến doanh nghiệp, nh thời tiết, môi trờng Ngày nay khoa học càng phát
triển thì sự lệ thuộc của con ngời vào tự nhiên ngày càng giảm đi, ảnh hởng
21
của môi trờng tự nhiên đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
nói chung và hiệu quả sử dụng vốn nói riêng cũng ít hơn, trừ các doanh
nghiệp hoạt động mang tính thời vụ hoặc các doanh nghiệp khai thác
lao động trực tiếp sản xuất kinh doanh và cán bộ lãnh đạo. Trình độ của ngời
lao động cao sẽ làm tăng hiệu suất sử dụng tài sản, kết quả kinh doanh cao
hơn, do đó vốn đợc sử dụng hiệu quả hơn. Trình độ của cán bộ điều hành cao
thể hiện ở sự kết hợp một cách tối u các yếu tố sản xuất, giảm chi phí không
cần thiết đồng thời nắm bắt các cơ hội kinh doanh, đem lại cho doanh nghiệp
sự tăng trởng và phát triển do đó hiệu quả sử dụng vốn đợc nâng cao.
b) Đặc điểm của sản xuất kinh doanh:
23
Các doanh nghiệp hoạt động ở các lĩnh vực khác nhau sẽ có đặc điểm
về chu kỳ sản xuất, kỹ thuật sản xuất, đặc điểm của sản phẩm, nhu cầu của
thị trờng khác nhau do đó cũng có hiệu quả sử dụng vốn khác nhau. Chẳng
hạn nếu chu kỳ ngắn, doanh nghiệp sẽ thu hồi vốn nhanh nhằm tái tạo, mở
rộng sản xuất kinh doanh. Ngợc lại, nếu chu kỳ sản xuất dài doanh nghiệp sẽ
chịu một gánh nặng ứ đọng vốn và lãi phải trả cho các khoản vay. Nếu sản
phẩm là t liệu tiêu dùng nhất là sản phẩm công nghiệp nhẹ nh rợu, bia, thuốc
lá thì sẽ có vòng đời ngắn, tiêu thụ nhanh và qua đó giúp doanh nghiệp thu
hồi vốn nhanh. Hơn nữa những máy móc dùng để sản xuất ra những sản
phẩm này có giá trị không quá lớn do vậy doanh nghiệp dễ có điều kiện đổi
mới. Ngợc lại, nếu sản phẩm có vòng đời dài có giá trị lớn, đợc sản xuất trên
dây truyền công nghệ có giá trị lớn nh ôtô, xe máy việc thu hồi vốn sẽ lâu
hơn.
3 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn:
3.1. Vai trò của việc đảm bảo huy động đủ vốn cho hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp:
Hiệu quả sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp là kết quả tổng thể
của hàng loạt các yếu tố bên trong cũng nh bên ngoài doanh nghiệp. Việc
đảm bảo đầy đủ kịp thời vốn cho nhu cầu sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp có tác động mạnh mẽ đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Điều đó xuất phát từ các lý do chủ yếu sau:
Tất cả các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp ở bất cứ quy mô,
25