ngân sách phường của thành phố hà nội trong thời kỳ đổi mới - Pdf 10

mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Xã, phờng, thị trấn (gọi chung là cấp phờng) là cấp chính quyền cơ sở
trong tổ chức hành chính 4 cấp của nớc ta, là nơi tuyệt đại bộ phận nhân dân
c trú, sinh sống [17, tr.166]. Chức năng, nhiệm vụ của phờng gắn trực tiếp
với việc thực hiện mục tiêu xây dựng một Nhà nớc của dân, do dân, vì dân; là
nơi chính quyền trực tiếp tiếp xúc và giải quyết các mối quan hệ phát sinh ban
đầu của Nhà nớc với dân; thực hiện mọi nguyện vọng, phản ánh mọi tâm t,
tình cảm cũng nh những yêu cầu của dân đến Đảng và Nhà nớc.
Để thực hiện đợc những chức năng, nhiệm vụ đó, chính quyền cấp ph-
ờng phải có nguồn ngân sách đợc hình thành từ nguồn cân đối ngân sách cấp
phờng để đảm bảo nhu cầu chi tiêu theo những nguyên tắc ổn định, bền vững.
Với nguồn ngân sách ổn định, hoạt động thu, chi tốt sẽ góp phần thực hiện
những mục tiêu phát triển KT-XH do Đảng và Nhà nớc đề ra.
NSP là một bộ phận cấu thành của NSNN, thông qua thu ngân sách,
chính quyền cấp phờng vừa thực hiện chức năng kiểm tra, kiểm soát các hoạt
động sản xuất-kinh doanh, dịch vụ, chống các hành vi hoạt động kinh tế phi
pháp, trốn lậu thuế và các nghĩa vụ đóng góp khác, vừa thực hiện việc điều tiết
các hoạt động kinh tế trên địa bàn phờng theo những mục tiêu chung. Thu
NSP còn là nguồn chủ yếu để đáp ứng các nhu cầu thiết yếu ở địa phơng, bao
gồm chi thờng xuyên và chi đầu t phát triển.
Là Thủ đô-trung tâm kinh tế tài chính lớn của cả nớc, Hà Nội có mức
động viên vào NSNN lớn, chiếm tỷ trọng cao trong tổng thu ngân sách cả n -
ớc. Trong 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới, thu ngân sách trên địa bàn
thành phố tăng nhanh về lợng và rất đa dạng về nguồn thu. Trong tổng thu
NSNN trên địa bàn thì nguồn thu ở cấp phờng mặc dù chiếm tỷ trọng không
lớn nhng có vai trò quan trọng giúp bảo đảm cơ bản nguồn tài chính của ph-
1
ờng, góp phần ổn định tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội ở địa ph-
ơng.
Với phơng châm hớng về cơ sở, nhiều năm qua chính quyền thành phố

Kể từ khi Quốc hội khoá IX thông qua Luật NSNN (1996), Quốc hội
khoá XI thông qua Luật NSNN sửa đổi (tháng 12/2002) và chính thức có hiệu
lực vào tháng 5/2004, đã có một số công trình nghiên cứu cụ thể về ngân sách
cấp xã, phờng, thị trấn đã đợc công bố:
- Quản lý ngân sách cấp xã trên địa bàn tỉnh KonTum, Luận văn thạc
sỹ, Đào Xuân Quý, Hà Nội, 2000.
- Ngân sách xã ở 11 huyện miền núi tỉnh Thanh Hoá - Thực trạng và
giải pháp, Luận văn tốt nghiệp Đại học chính trị, Bùi Trung Anh, 2002.
- Thu chi ngân sách xã ở tỉnh Nam Định- Thực trạng và giải pháp,
Luận văn tốt nghiệp Đại học chính trị, Trần Thị Thuý, 2004.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đều tập trung đi sâu làm rõ
thực trạng, cách thức quản lý ngân sách ở cấp cơ sở (xã, phờng, thị trấn) trên
bình diện một địa phơng. Hiện cha có công trình nào nghiên cứu một cách đầy
đủ và cụ thể về công tác thu, chi cũng nh đánh giá đợc hiệu quản sử dụng
ngân sách cấp phờng trên địa bàn thành phố Hà Nội từ góc độ kinh tế chính trị
học.
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
* Mục đích:
Đánh giá thực trạng tình hình thu, chi NSP của thành phố Hà Nội,
những tác động tới đời sống chính trị-kinh tế -văn hoá-xã hội của địa phơng và
kiến nghị một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng NSP với
việc ổn định và phát triển KT-XH ở địa phơng.
* Nhiệm vụ:
Luận văn có 3 nhiệm vụ cụ thể sau:
3
- Làm rõ thực trạng thu, chi NSP của Thủ đô trong thời kỳ đổi mới.
- Những tác động của hoạt động thu, chi NSP tới đời sống chính trị-
KT-XH của địa phơng.
- Đề xuất một số giải pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng NSP trong
thời gian tới.

lục, luận văn đợc kết cấu thành 3 chơng, 9 tiết.
5
Chơng 1
Những vấn đề cơ bản về ngân sách phờng
1.1. quá trình hình thành Ngân sách phờng
1.1.1. Lịch sử hình thành ngân sách phờng
Khái niệm về phờng đã xuất hiện từ những năm đầu của thế kỷ XI,
đây là tổ chức có những quy ớc và tập tục riêng của cộng đồng dân c trong ph-
ờng. Tuy phờng có sự tồn tại và phát triển lâu đời, nhng phải đến năm 1980,
trong điều 113, Hiến pháp nớc Cộng hoà XHCN Việt Nam, thì cấp phờng mới
đợc coi là một cấp chính quyền độc lập. Theo đó, phờng là đơn vị hành chính
nhỏ nhất ở đô thị, là cấp chính quyền hoàn chỉnh đợc tổ chức ở các thành phố,
thị xã ở nớc ta. Quyết định số 94/HĐBT ngày 26-9-1981 của Hội đồng Bộ tr-
ởng đã quyết định: Phờng là đơn vị hành chính cơ sở ở nội thành, nội thị tổ
chức theo khu vực dân c ở đờng phố, có khoảng 7000-12.000 dân. Chức năng
chủ yếu của bộ máy chính quyền cấp phờng là quản lý hành chính Nhà nớc,
quản lý xã hội và chăm lo phục vụ đời sống dân c.
Cũng nh các đơn vị hành chính khác, phờng cũng có những chức năng,
nhiệm vụ nh: tổ chức bộ máy, công tác chuyên môn thông qua việc sử dụng
các phơng tiện vật chất, công cụ tài chính trong đó, NSP là một yếu tố quan
trọng để phục vụ chính quyền cấp phờng hoàn thành đợc nhiệm vụ của mình.
Ban đầu, khi cha đợc coi là một cấp hành chính độc lập, phờng thành
lập một quỹ riêng nhằm phục vụ việc chung, vì phờng đợc thành lập với ý
nghĩa là phờng hội, chứ cha phải là một đơn vị hành chính độc lập , do vậy,
quỹ đó đợc dùng để giải quyết những việc có liên quan đến đời sống, sinh
hoạt, sản xuất của nhân dân trong phờng, đồng thời, thực hiện quan hệ với các
cộng đồng khác và với chính quyền nhà nớc.
6
Ngay khi đơn vị hành chính phờng đợc thành lập, cùng với việc xây
dựng và củng cố chính quyền cấp phờng, vấn đề NSP đợc Đảng và Nhà nớc ta

NSP là một cấp ngân sách nằm trong hệ thống 4 cấp NSNN, nhng thực tế NSP
vẫn đợc quản lý bằng phơng thức gán thu bù chi, trợ cấp chênh lệch, trong đó,
chỉ có số trợ cấp chênh lệch đợc ghi vào chi khác của NSĐP, để tổng hợp vào
NSNN, còn số thu, chi của NSP thì tổng hợp vào một kênh riêng báo cáo về
Bộ Tài chính.
Từ sau Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (tháng
12/1986), đất nớc ta bớc vào thực hiện đờng lối đổi mới toàn diện do Đảng
khởi xớng và lãnh đạo, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế; với tinh thần nhìn
thẳng vào sự thật, tại Đại hội này, Đảng ta thống nhất lãnh đạo nền kinh tế
đất nớc chuyển từ cơ chế kế hoạch hoá, tập trung quan liêu bao cấp sang vận
hành theo cơ chế thị trờng, có sự quản lý của nhà nớc, thực hiện nền kinh tế
hàng hoá nhiều thành phần. Trung ơng định lại chế độ phân cấp quản lý thu,
chi ngân sách cho phù hợp trên cơ sở khuyến khích đúng mức để phát triển
nhanh nguồn thu từ nội bộ nền kinh tế, chống thất thu. Mặt khác, phải căn cứ
vào nguồn thu mà bố trí chi, không chi vợt quá thu ngân sách, triệt để tiết
kiệm chi tiêu về mọi mặt và Hội đồng Bộ trởng đã ban hành Nghị quyết số
186/HĐBT ngày 27-11-1989 về phân cấp quản lý ngân sách cho địa phơng.
Việc ra đời Nghị quyết này đã nhấn mạnh phạm vi, trách nhiệm và quyền hạn
của chính quyền Nhà nớc các cấp trong việc quản lý ngân sách, phân phối, sử
dụng công bằng, hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả cao, phục vụ các mục tiêu, nhiệm
vụ phát triển KT-XH của đất nớc. Trong nghị quyết này, ngoài những nội
dung Trung ơng quy định để lại 100% cho NSP, quy định những khoản thu cố
định dành chung cho toàn bộ các địa phơng nh: thuế nhà đất, thuế môn bài,
thuế trớc bạ, thuế sát sinh; còn quy định đối với UBND tỉnh, thành phố cần
quy định tỷ lệ điều tiết số thu về thuế công thơng nghiệp cho NSP trong phạm
vi đợc hởng của NSĐP.
8
Tuy nhiên, vẫn còn khá nhiều phờng cha tổ chức khai thác hết tiềm
năng sẵn có, còn buông lỏng các nguồn thu đợc giao, để thất thu lớn về thuế,
lệ phí trên địa bàn phờng. Còn khá nhiều khoản chi tiêu ở phờng cha hợp lý,

hoàn chỉnh, nằm trong hệ thống NSNN thống nhất. Đây cũng là một sự điều
chỉnh phù hợp trong điều kiện nền kinh tế đất nớc đã có nhiều thay đổi tiến
bộ. Khi chức năng, nhiệm vụ của chính quyền cấp phờng ngày càng đợc mở
rộng thì nội dung thu, chi và quản lý NSP trở nên rộng hơn và phức tạp hơn,
cũng có nghĩa là trách nhiệm về mặt quản lý tài chính của chính quyền cấp
phờng ngày càng nặng nề hơn. Đến kỳ họp thứ hai, Quốc hội (khoá XI) ngày
16-12-2002 đã thông qua Luật NSNN sửa đổi, chính thức có hiệu lực năm
2004; luật NSNN đã tăng cờng nguồn thu, phơng tiện và cán bộ quản lý tài
chính-ngân sách để quản lý tốt, có hiệu quả các nguồn lực tài chính trên địa
bàn phờng. NSP là một cấp ngân sách đầy đủ, đợc bố trí nguồn thu và nhiệm
vụ chi phù hợp với chức năng, nhiệm vụ; không bị giới hạn trong quá trình
thực thi các nhiệm vụ của chính quyền phờng. Qui mô, cơ cấu NSP không chỉ
phụ thuộc vào chức năng và nhiệm vụ của chính quyền cấp phờng mà còn phụ
thuộc vào khả năng và thực tế phát triển KT-XH ở địa bàn phờng.
1.1.2. Khái niệm ngân sách phờng
Hơn hai mơi năm qua, chính quyền cấp phờng đã khẳng định vai trò
quan trọng của mình, nhất là trong điều kiện thực hiện nền kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần; các phờng đã sử dụng tốt các công cụ tài chính, trong đó,
NSP đóng một vai trò quan trọng, tích cực giúp phờng hoàn thành tốt nhiệm
vụ kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội. Qua quá trình triển khai và thực hiện các
văn bản hớng dẫn của Trung ơng và địa phơng, nội dung thu, chi của NSP
ngày càng đợc bổ sung, hoàn thiện phù hợp với tình hình thực tế. Có thể đa ra
một định nghĩa chung về ngân sách cấp phờng nh sau:
10
NSP là một bộ phận của NSNN do UBND phờng xây dựng, quản lý
và HĐND phờng quyết định, giám sát thực hiện. Đó là một quỹ tiền tệ tập
trung lớn nhất của chính quyền cấp phờng để đảm bảo cho các hoạt động
quản lý nhà nớc và góp phần thực hiện mục tiêu phát triển KT-XH tại địa bàn;
hoạt động của quỹ này thể hiện trên hai phơng diện: nguồn thu vào quỹ và
phân phối sử dụng các khoản vốn quỹ đó.

yếu khách quan trong quá trình quản lý nhà nớc.
Về cấp độ phân cấp ngân sách: NSP là cấp ngân sách trong hệ thống
NSNN thống nhất do HĐND cấp tỉnh, thành phố quy định cụ thể nội dung thu,
chi; UBND phờng xây dựng dự toán và thống nhất tổ chức, quản lý thực hiện
dới sự giám sát của HĐND phờng.
1.1.3. Vị trí của ngân sách phờng trong hệ thống ngân sách nhà nớc
Nh nội dung định nghĩa trên, NSP là một bộ phận của NSNN, mà
NSNN đã xuất hiện và tồn tại từ lâu, với t cách là một công cụ tài chính quan
trọng của Nhà nớc. Nó ra đời, tồn tại và phát triển trên cơ sở hai tiền đề là nhà
nớc và nền kinh tế hàng hoá-tiền tệ; nó phản ánh mối quan hệ giữa nhà nớc
với các chủ thể kinh tế, xã hội trong phân phối tổng sản phẩm xã hội, thông
qua việc tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của nhà nớc, chuyển dịch một
bộ phận thu nhập bằng tiền của các chủ thể đó, thành thu nhập của nhà nớc và
nhà nớc chuyển dịch thu nhập đó đến các chủ thể đợc hởng thụ nhằm thực
hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nớc.
Hệ thống NSNN ở đây đợc hiểu là tổng thể các cấp ngân sách có mối
quan hệ hữu cơ với nhau trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thu, chi của mỗi
cấp ngân sách. ở nớc ta, tổ chức hệ thống NSNN gắn bó chặt chẽ với việc tổ
chức bộ máy Nhà nớc và vị trí, vai trò của bộ máy trong qúa trình phát triển
12
KT-XH. Theo Hiến pháp nớc ta, mỗi cấp chính quyền có một cấp ngân sách
riêng cung cấp phơng tiện vật chất cho cấp chính quyền thực hiện chức năng,
nhiệm vụ của mình trên vùng lãnh thổ. Phù hợp với mô hình tổ chức hệ thống
chính quyền Nhà nớc, hiện nay hệ thống NSNN ở nớc ta bao gồm: NSTW và
ngân sách các cấp chính quyền địa phơng, bao gồm: Ngân sách cấp tỉnh và
thành phố trực thuộc TW; Ngân sách cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc
tỉnh và ngân sách cấp phờng, xã, thị trấn. Trong đó, NSTW phản ánh nhiệm vụ
thu chi theo ngành và giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống NSNN. Ngân sách tỉnh,
thành phố phản ánh nhiệm vụ thu chi theo lãnh thổ đảm bảo thực hiện tổ chức
quản lý toàn diện KT-XH của chính quyền cấp thành phố và tỉnh trực thuộc

cũng có những khoản phải thuận chi theo yêu cầu nhiệm vụ công việc của
phờng. Vì vậy, NSP vừa phải quản lý các nguồn thu theo luật định, vừa
quản lý các khoản thu, chi từ các hoạt động KT-XH khác trên địa bàn ph-
ờng, nó không gò bó trong hạn mức kinh phí giống nh một đơn vị dự toán
thông thờng. Để đảm bảo thực hiện tốt vai trò của mình, NSP cần có tiềm
lực, khả năng bảo đảm cho những nhu cầu của chính quyền và nhân dân
trên địa bàn phờng. Nếu chính quyền cấp trên nhìn nhận một cách đúng đắn
về tầm quan trọng cũng nh tính đặc thù này của NSP thì sẽ phát huy tốt vai
trò của nó trong khai thác các nguồn thu trên địa bàn để phục vụ cho phát
triển KT-XH.
1.2. Nội dung của ngân sách phờng
Là một cấp trong hệ thống NSNN, NSP có những nguồn thu và nhiệm
vụ chi cụ thể, theo quy định của Luật NSNN và theo phân cấp quản lý của
HĐND cấp tỉnh, thành phố mà NSP là hệ thống các mối quan hệ kinh tế phát
sinh trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ của Nhà nớc;
quỹ này đợc xây dựng trên cơ sở các nguồn thu vào NSP để thực hiện các
14
nhiệm vụ chi, nguồn thu vào sẽ quyết định sự phân phối nguồn quỹ đó (thực
hiện nhiệm vụ chi), nhng qua việc thực hiện nhiệm vụ chi cũng có tác động lại
nguồn thu, nó sẽ tạo động lực cho việc thực hiện tốt nguồn thu, tạo thêm
những nguồn thu mới cho phờng.
Nội dung cụ thể của NSP sẽ đợc HĐND tỉnh, thành phố đề xuất phù
hợp với tình hình phát triển KT-XH của phờng, thời kỳ ổn định của nội dung
thu chi ngân sách nói chung và NSP nói riêng là trong 3 năm. Sau 3 năm ổn
định ngân sách, HĐND tỉnh, thành phố sẽ nghiên cứu, điều chỉnh phù hợp với
tình hình thực tế sao cho ngày càng tăng nguồn thu, nâng cao tính chủ động
cho NSP; đồng thời, nhiệm vụ chi ngày càng rõ ràng, minh bạch hơn.
1.2.1. Về nguồn thu của ngân sách phờng
Ngay từ khi Luật NSNN sửa đổi (năm 2002) chính thức có hiệu lực,
theo định kỳ 3 năm, nguồn thu của NSP do HĐND cấp thành phố quyết định,

đợc quy định trong danh mục lệ phí.
Chính quyền cấp phờng có quyền quyết định các biện pháp thực hiện
thống nhất kế hoạch phát triển KT-XH và quy hoạch đô thị nên phờng cũng đ-
ợc có các khoản thu từ các hoạt động sự nghiệp kinh tế, văn hoá-xã hội trên
địa bàn phờng, đó là phần nộp vào NSNN theo quy định của pháp luật do ph-
ờng quản lý.
Theo phân cấp, phờng quản lý và sử dụng hợp lý có hiệu quả đất công
sản đợc để lại nhằm phục vụ các nhu cầu công ích của phờng nên phờng còn
có nguồn thu đấu thầu, thu khoán theo mùa vụ từ quỹ đất công ích và hoa lợi
công sản khác theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, phờng còn đợc hởng theo tỷ lệ 100% các khoản huy động
đóng góp của tổ chức, cá nhân gồm: các khoản huy động đóng góp theo pháp
luật quy định, các khoản đóng góp theo nguyên tắc tự nguyện để đầu t xây
dựng kết cấu hạ tầng xã hội do HĐND phờng quyết định đa vào NSP quản lý;
16
nguồn viện trợ không hoàn lại của các tổ chức và cá nhân ở nớc ngoài trực tiếp
cho NSP theo chế độ quy định và các khoản thu khác của NSP theo quy định
của pháp luật: Thu phạt xử lý vi phạm hành chính trong các lĩnh vực theo Pháp
lệnh xử lý vi phạm hành chính (thu từ các hoạt động chống buôn lậu và kinh
doanh trái pháp luật). Thu về quản lý, sử dụng tài sản công do phờng quản lý:
cho thuê tài sản không cần dùng, thanh lý tài sản
Và cũng nh các cấp ngân sách khác, NSP cũng đợc hởng 100% nguồn
thu kết d ngân sách từ năm trớc.
Hai là, các khoản thu phân chia theo tỷ lệ % giữa NSP với ngân sách
cấp trên, gồm nguồn thu từ thuế chuyển quyền sử dụng đất; từ thuế nhà, đất;
từ thuế môn bài thu từ các cá nhân, hộ kinh doanh từ bậc 4- bậc 6 trên địa bàn
phờng và lệ phí trớc bạ nhà đất.
Đối với các khoản thu trên, tỷ lệ NSP đợc hởng tối thiểu là 70%. Căn
cứ vào nguồn thu và nhiệm vụ chi của phờng mà HĐND cấp thành phố có thể
quyết định tỷ lệ NSP đợc hởng cao hơn, đến tối đa là 100%.

nguồn huy động đóng góp của các tổ chức, cá nhân cho từng dự án nhất định
theo quy định của pháp luật, do HĐND phờng quyết định đa vào ngân sách
quản lý.
Đối với các khoản chi NSP phục vụ nhiệm vụ thờng xuyên, đây là
khoản chi chủ yếu của chính quyền cấp phờng, phục vụ cho hoạt động của hệ
thống chính trị của phờng, chi sự nghiệp kinh tế, y tế, văn hoá-thông tin, thể
dục-thể thao, dân quân tự vệ, quản lý đô thị.
Một là, các khoản chi phục vụ hoạt động của cơ quan Đảng, Nhà nớc
và đoàn thể (Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội Cựu
chiến binh, Hội Liên hiệp phụ nữ, Hội Nông dân) ở phờng, gồm: Tiền lơng,
tiền công, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và các khoản phụ cấp khác
theo quy định của Nhà nớc cho các bộ, công chức cấp phờng. Tiền sinh hoạt
18
phí cho đại biểu HĐND, tiền công tác phí cho cán bộ, công chức của phờng.
Các khoản chi về hoạt động văn phòng, nh chi phí điện, nớc, văn phòng phẩm,
phí bu điện, điện thoại, hội nghị, chi phí tiếp tân, khánh tiết; chi mua sắm, sửa
chữa thờng xuyên trụ sở, phơng tiện làm việc.
Hai là, chi cho công tác dân quân tự vệ, trật tự an toàn xã hội gồm, chi
huấn luyện dân quân tự vệ, các khoản phụ cấp huy động dân quân tự vệ, đăng
ký tổ chức thanh niên đi làm nghĩa vụ quân sự, đón tiếp quân nhân hoàn thành
nghĩa vụ quân sự trở về, tổ chức hội nghị tập huấn, kỷ niệm ngày truyền thống
dân quân tự vệ và các hoạt động khác. Chi tuyên truyền, vận động và tổ chức
phong trào quần chúng bảo vệ an ninh, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn
(ngoài phần sử dụng quỹ bảo trợ an ninh); hỗ trợ các chiến dịch giữ gìn an
ninh trật tự và an toàn xã hội; hỗ trợ công tác phòng cháy chữa cháy; hỗ trợ sơ
kết, tổng kết phong trào quần chúng bảo vệ an ninh và các khoản chi khác về
dân quân tự vệ thuộc nhiệm vụ chi của NSP theo quy định của Pháp lệnh về
Dân quân tự vệ. Chi thực hiện việc đăng ký nghĩa vụ quân sự, công tác nghĩa
vụ quân sự khác thuộc nghĩa vụ chi của NSP theo quy định của pháp luật. Chi
tuyên truyền, vận động và tổ chức phong trào bảo vệ an ninh, trật tự an toàn xã

Sự nghiệp y tế: Hỗ trợ chi thờng xuyên và mua sắm các khoản trang
thiết bị phục vụ cho khám chữa bệnh của trạm y tế phờng; phòng,chữa bệnh,
công tác dân số, kế hoạch hoá gia đình, thực hiện chăm sóc, khám sức khoẻ
ban đầu cho ngời dân, hỗ trợ phờng kiểm tra an toàn thực phẩm.
Đối với thành phố Hà Nội, nhằm tăng cờng vai trò chủ động cho chính
quyền phờng, HĐND và UBND thành phố Hà Nội đã cụ thể hoá những quy
định của Bộ Tài chính bằng Quyết định số 134/2003/QĐ-UB ngày 24-10-2003
về việc ban hành Quy định phân cấp quản lý ngân sách các cấp chính quyền
thuộc thành phố Hà Nội. Văn bản quy định, ngoài các nguồn thu NSP của Hà
Nội đợc hởng nh quy định chung, các phờng của Hà Nội đợc hởng 100% các
20
nguồn thu từ: thuế môn bài thu từ cá nhân hộ kinh doanh từ bậc 4 đến bậc 6
trên địa bàn phờng (do Chi cục Thuế của quận UNT cho phờng), thuế chuyển
quyền sử dụng đất, lệ phí trớc bạ nhà đất. Các phờng đợc hởng theo tỷ lệ điều
tiết 32% các khoản thu NSP từ: thuế GTGT thu từ cá nhân và hộ kinh doanh
có mức thuế môn bài từ bậc 4 đến bậc 6; thuế thu nhập doanh nghiệp thu từ cá
nhân và hộ kinh doanh có mức thuế môn bài từ bậc 4 đến bậc 6; thuế tiêu thụ
đặc biệt hàng hoá, dịch vụ sản xuất trong nớc của cá nhân và hộ kinh doanh có
mức thuế môn bài từ bậc 4 đến bậc 6. Đối với nguồn thu theo Pháp lệnh ngày
công nghĩa vụ lao động công ích theo Nghị định 81/2000/NĐ-CP của Chính
phủ, các phờng ở Hà Nội đợc hởng 80% tỷ lệ điều tiết với ngân sách cấp trên.
Ngoài các nhiệm vụ chi chung, các phờng ở Thủ đô Hà Nội còn thực
hiện nhiệm vụ chi phụ cấp đối với cán bộ không chuyên trách ở phờng và tổ
dân phố theo quy định của Nhà nớc và của thành phố. Hỗ trợ cho giáo viên
mầm non bán công do phờng trực tiếp quản lý theo quy định của Nhà nớc
và hỗ trợ các hoạt động thể dục thể thao trên địa bàn theo quy định của
Thành phố.
Chi hỗ trợ hoạt động của các tổ chức chính trị-xã hội của phờng; Uỷ
ban MTTQ (kể cả hoạt động của Ban Thanh tra Nhân dân); hoạt động của
Hội Ngời cao tuổi, Hội Chữ thập đỏ và các tổ chức xã hội của phờng theo

mà còn tăng nguồn thu cho NSP.
Hai là, tỷ lệ phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi cho NSP: Theo Luật
NSNN năm 1996, thì các nguồn thu, nhiệm vụ chi của NSP đợc quy định cụ
thể trong luật NSNN, nhng Luật NSNN sửa đổi năm 2002 (có hiệu lực năm
2004) chỉ quy định chung về những nội dung mà NSP đợc thu, còn tỷ lệ điều
tiết lại do HĐND tỉnh, thành phố quy định phù hợp với điều kiện cụ thể của
địa phơng. Ví dụ: Bộ Tài chính quy định chung là NSP đợc hởng theo tỷ lệ
điều tiết một số nguồn thu, HĐND thành phố Hà Nội đã cụ thể hoá, phân cấp
22
ngân sách cấp phờng ở Hà Nội đợc hởng 32% nguồn thu từ thuế môn bài, h-
ởng 100% lệ phí trớc bạ nhà đất v.v
Sự phân cấp của địa phơng có thể làm tăng hoặc giảm nguồn thu của
NSP, phát huy hoặc kìm hãm vai trò, hiệu quả của NSP đối với sự phát triển
KT-XH của phờng. Nếu nguồn thu của phờng, nhất là nguồn thu phờng đợc
hởng 100% tăng lên khi đó, phờng đợc sẽ sở hữu một nguồn vốn lớn , chủ
động hơn trong công tác tổ chức quản lý và tiến hành phân phối hợp lý.
Ba là, tổ chức bộ máy quản lý thu, chi NSP: Bộ máy quản lý tài
chính cấp phờng gồm Đảng uỷ phờng lãnh đạo chung, HĐND và UBND
phờng chỉ đạo, tổ chức thực hiện và Ban Tài chính phờng là cơ quan tham
mu cho phờng về công tác quản lý, sử dụng NSP. Nếu Ban Tài chính ph-
ờng thực sự có năng lực, đợc sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng uỷ, sự chỉ
đạo bằng chủ trơng, chính sách của HĐND và UBND phờng, sự phối kết
hợp nhịp nhàng với tổ chức Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến
binh, Uỷ ban MTTQ v.v , tăng cờng tuyên truyền giáo dục, động viên,
khuyến khích nhân dân thực hiện nghĩa vụ nộp thuế, tích cực phát triển
sản xuất kinh doanh, thi đua làm giàu chính đáng thì sẽ giảm đợc thất thu
thuế, hạn chế đối tợng chây ỳ, nợ đọng thuế, từ đó, tăng nguồn thu cho
NSP. Khi đó, HĐND và UBND phờng phải chỉ đạo Ban Tài chính phờng
tìm các biện pháp để khai thác nguồn thu, biết tận thu, thu đi đôi với bồi
dỡng nguồn thu sẽ làm cho nguồn thu NSP ổn định và phát triển theo hớng

diện với lợi ích của các chủ thể KT-XH khác (có thể là tập thể hoặc cá nhân).
Các quan hệ lợi ích này phát sinh trong cả quá trình thu và chi NSP. Trong quá
trình thu NSP đều có lợi ích giữa các bên, bên thu muốn thu đợc nhiều để tăng
NSP và ngợc lại bên bị thu muốn nộp ít hơn để tăng lợi nhuận cho mình; chính
quyền cấp phờng muốn nguồn thu bổ sung từ ngân sách cấp quận, thành phố
24
là nhiều nhất để thực hiện các nhiệm vụ chi đợc giao. Đó còn là mẫu thuẫn
giữa thực tế nguồn thu và nhu cầu chi ở phờng. Các mâu thuẫn này đòi hỏi
chính quyền các cấp phải hiểu rõ để từ đó đa ra các giải pháp hữu hiệu
nhằm giải quyết thấu đáo, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng NSP.
Thứ ba, là các quan hệ thu, chi NSP rất đa dạng và biểu hiện dới nhiều
hình thức khác nhau. Nhng số thu hoặc số chi theo từng hình thức chỉ có thể
thực thi khi đã đợc ghi vào dự toán và đợc các cơ quan Nhà nớc có thẩm
quyền phê duyệt. Phần lớn các khoản thu của NSP đợc thực hiện theo phơng
thức phân phối lại và không hoàn trả một cách trực tiếp, nh chi xây dựng kết
cấu hạ tầng xã hội, các công trình phục vụ hoạt động văn hoá, xã hội, thể dục
thể thao của phờng; chi thông qua các quỹ phúc lợi xã hội để tổ chức quản lý,
nâng cao hơn nữa đến đời sống của ngời dân trên địa bàn phờng nói chung, tới
các đối tợng chính sách nói riêng.
1.3.2. Vai trò của ngân sách phờng
Cùng với sự chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế từ tập trung quan liêu
bao cấp sang cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc, vai trò của NSP đã có
những thay đổi căn bản. Nếu nh trớc đây, NSP đợc coi là công cụ tài chính
quan trọng để Nhà nớc thực hiện các chức năng kinh tế thì ngày nay, trải qua
các giai đoạn phát triển, NPS đã trở thành công cụ, phơng tiện vật chất bằng
tiền có tác dụng rất quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển phờng,
góp phần quản lý và điều tiết cơ cấu kinh tế trên địa bàn phờng, thực hiện tốt
nhiệm vụ quản lý đô thị, xây dựng phờng thành đô thị văn minh, hiện đại.
Luật NSNN sửa đổi (năm 2002) đã quy định rõ về nguồn thu và nhiệm
vụ chi theo hớng tăng nguồn thu cho NSĐP, trong đó có NSP, đã khẳng định


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status