thực trạng hoạt động cho thuê tài chính ở việt nam - Pdf 10

Đề tài nghiên cứu khoa học
LỜI NÓI ĐẦU
Vấn đề vốn để khởi sự doanh nghiệp luôn là sự đau đầu của bất kỳ ai
muốn bước chân vào thương trường. Các doanh nghiệp không có sẵn vốn
để đầu tư vào những yếu tố như máy móc, thiết bị sản xuất, thiết bị văn
phòng, tin học, viễn thông và các động sản khác hoặc để dành vốn vào
mục đính kinh doanh khác. Cho thuê tài chính sẽ là kênh tín dụng hữu hiệu
giúp bạn giải quyết những khó khăn đó.
Đầu thập kỷ 50 của thế kỷ này, giao dịch thuê mua đã có những bước
nhảy vọt. Nhằm đáp ứng nhu cầu vốn trung và dài hạn, nghiệp vụ tín dụng
thuê mua hay còn gọi là thuê tài chính được sáng tạo ra trước tiên ở Mỹ vào
năm 1952. Sau đó nghiệp vụ tín dụng thuê mua phát triển sang châu âu và
phát triển mạnh mẽ tại đó từ những năm của thập kỷ 60. Tín dụng thuê mua
cũng phát triển mạnh mẽ ở Châu Á và nhiều khu vực khác từ đầu thập kỷ
70. Ngành công nghiệp thuê mua có giá trị trao đổi chiếm khoảng 350 tỷ
USD vào năm 1994. Hiện nay ở Mỹ, ngành thuê mua thiết bị chiếm khoảng
25-30% tổng số tiền tài trợ cho các giao dịch mua bán thiết bị hàng năm
của các doanh nghiệp. Nguyên nhân chính thúc đẩy các hoạt động cho thuê
tài chính phát triển nhanh là do nó thể hiện hình thức tài trợ có tính chất an
toàn cao tiện lợi, và hiệu quả cho các bên giao dịch.
Tại Việt Nam nghiệp vụ cho thuê tài chính hay còn gọi là tín dụng
thuê mua đã được ngân hàng NN-VN cho áp dụng thí điểm bởi quyết định
số 149/QĐ-NHNN ngày 17/5/1995. Đến ngày 02/05/20001 Chính phủ đã
ban hành Nghị định 16/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của Công ty cho
thuê tài chính. Các tổ chức cho thuê tài chính ở Việt Nam đã và đang hoạt
động thực sự có hiệu quả và đã ngày càng đóng góp một cách tích cực đối
với hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trong nước.
1
Đề tài nghiên cứu khoa học
Nhận thấy sự quan trọng và đóng góp tích cực của hoạt động cho thuê
tài chính trong doanh nghiệp, chúng tôi đã tập trung nghiên cứu đề tài này

ở Việt Nam từ năm 1995 nhưng thực sự cho thuê tài chính là khái niệm còn
khá mới mẻ với nhiều doanh nghiệp. Có thể hiểu rằng cho thuê tài chính
là hình thức tài trợ tín dụng thông qua cho thuê các loại tài sản, máy
móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển… là nhu cầu mà các doanh
nghiệp, các nhà đầu tư mong muốn để đổi mới máy móc, thiết bị, hiện
đại hóa công nghệ sản xuất kinh doanh.
3
Đề tài nghiên cứu khoa học
Đặc trưng của phương thức này là - đơn vị cho thuê là chủ sở hữu tài
sản sẽ chuyển giao tài sản cho người thuê, tức là người sử dụng tài sản
được quyền sử dụng và hưởng dụng những lợi ích kinh tế mang lại từ các
tài sản đó trong một thời gian nhất định. Người thuê có nghĩa vụ trả một số
tiền cho chủ tài sản tương xứng với quyền sử dụng và quyền hưởng dụng.
Điều này cũng nói lên việc cấp tín dụng dưới hình thức cho thuê tài chính
không đòi hỏi sự bảo đảm tài sản có trước, tạo cho doanh nghiệp tiếp cận
hình thức cấp tín dụng mới, vừa giải tỏa được áp lực về tài sản làm đảm
bảo nếu phải vay ở ngân hàng. Ngoài ra, các công ty cho thuê tài chính có
thể mua tài sản của doanh nghiệp và cho thuê lại tài sản đó nếu doanh
nghiệp thiếu vốn lưu động do đã tập trung vốn để đầu tư mua sắm tài sản
cố định. Như vậy doanh nghiệp vừa có tài sản để sử dụng lại vừa có vốn
lưu động để sản xuất kinh doanh.
1.2 Phân loại các hoạt động cho thuê tài chính
Ngày nay hoạt động cho thuê tài chính đã trở thành phổ biến trong các
hoạt động kinh tế quốc tế và nó góp phần to lớn vào việc thúc đẩy sự phát
triển sản xuất kinh doanh. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ đó, nghiệp vụ
tài trợ cho cho thuê tài chính tại mỗi quốc gia, khu vực đều có những đặc
điểm riêng thể hiện sự phong phú và đồng thời sự phức tạp của hoạt động
này . Tuy nhiên, dù đã có một quá trình phát triển lâu dài với quy mô rộng
lớn, cùng với sự đa dạng như ngày nay thì vẫn có một quy trình phát triển
chung xuyên suốt quá trình phát triển của lịch sử thuê mua. Quá trình này

5
Đề tài nghiên cứu khoa học
Người cho thuê cung cấp thêm các loại dịch vụ bảo trì, sửa chữa hay
cho phép người thuê có quyền lựa chọn đối với tài sản thuê khi kết thúc
hợp đồng như quyền gia hạn hợp đồng, quyền chọn mua tài sản theo giá cố
định, quyền lựa chọn với giá trị còn lại của tài sản…. Những quyền này cho
người thuê có thể đạt được sự thuận tiện và có lợi khi thuê mướn tài sản.
Mặt khác các loại dịch vụ và các ưu đãi chọn mua được người thuê áp dụng
rất linh hoạt tuỳ theo từng giao dịch cho thuê cụ thể.
Trong giai đoạn này các mặt hàng thiết bị, tài sản được sử dụng trong
các giao dịch thuê mua cũng rất đa dạng, phong phú. Sự phát triển này đã
kéo theo các luật về thuế, kế toán được ban hành nhằm chế định các hoạt
động này và làm tiền đề phát triển cho ngành công nghiệp thuê mua.
Giai đoạn 3 : Thuê vận hành ( operating leases )
Do sự tác động của nguyên tắc kế toán và thuế đã dẫn đến sự phân
nhánh trong hoạt động cho thuê theo sản phẩm và hình thành những công
ty cho thuê được chuyên môn hoá cao theo từng loại thiết bị cho thuê. Mặt
khác, áp lực cạnh tranh ngày càng gia tăng cũng là một nguyên nhân thúc
đẩy sự chuyên môn hoá tín dụng thuê mua theo sản phẩm.
Trong giai đoạn này, do đặc điểm của phương thức thuê mua vận
hành, rủi ro đối với giá trị còn lại của thiết bị thuê thuộc về người cho thuê.
Từ đó làm nảy sinh nhu cầu phát triển loại thị trường mua bán trao đổi các
loại máy móc thiết bị cũ. Mặt khác do người thuê có quyền huỷ ngang hợp
đồng vào bất cứ thời điểm nào nên đòi hỏi người cho thuê fải nâng cao kỹ
năng quản lý các hoạt động cho thuê và phát triển các kỹ thuật chống rủi ro.
Các loại tài sản thường được sử dụng cho hình thức này rất đa dạng
như các loại xe ô tô, máy vi tính, nhà văn phòng làm việc, các con tàu ,
6
Đề tài nghiên cứu khoa học
máy bay và cả những tổ hợp công nghiệp… Mức độ rủi ro công nghệ của

vượt bậc của ngành trong tương lai.
Lịch sử phát triển của ngành công nghiệp thuê mua tài sản ở mỗi quốc
gia hay ở mỗi ngày công nghiệp đều trải qua những giai đoạn phát triển
như nhau. Tuy nhiên chiều dài thời gian của mỗi giai đoạn, mỗi quốc gia
thì không hoàn toàn giống nhau do những tiến bộ về mặt kỹ thuật tài trợ.
Nhờ những tiến bộ này mà những nền công nghiệp cho thuê tài sản đi sau
có thể kế thừa rút ngắn thời gian phát triển.
1.3 :Các hình thức giao dịch hoạt động cho thuê tài chính :
1.3.1 Các phương thức giao dịch:
1.3.1.1 Thuê vận hành
1.3.1.1.1 Đặc trưng:
Thuê vận hành có hai đặc trưng cơ bản :
- Thứ nhất,thời hạn thuê rất ngắn so với toàn bộ đời sống hữu ích của
tài sản,điều kiện để chấm dứt hợp đồng chỉ cần báo trước trong một thời
gian ngắn.
- Thứ hai, người cho thuê phải chịu mọi chi phí vận hành của tài sản
như chi phí bảo trì, bảo hiểm, thuế tài sản… cùng mọi rủi ro và sự sụt giảm
giá trị của tài sản.
Ngoài ra,người cho thuê được hưởng tiền thuê và sự gia tăng giá trị
của tài sản hay những quyền lợi do quyền sở hữu tài sản mang lại (ví dụ
8
Đề tài nghiên cứu khoa học
như ưu đãi giảm thuế lợi tức,thu doanh thu và những khoản khấu trừ do sự
sụt giảm giá trị tài sản mang lại…)
Do thuê vận hành là hình thức cho thuê ngắn hạn nên tổng số tiền mà
người thuê phải trả cho người cho thuê có giá trị thấp hơn nhiều so với toàn
bộ giá trị của tài sản. Khi hợp đồng hết hạn, người chủ sở hữu có thể bán
tài sản đó, hoặc gia hạn hợp đồng cho thuê hay tìm một khách hàng thuê
mới.
Người thuê có quyền sử dụng tài sản trong thời gian đã thỏa thuận và

4/ Có quyền gia hạn thỏa thuận và
định đoạt tài sản khi kết thúc thời
hạn thuê mua.
1/ Trả các khoản tiền thuê đủ để bù
đắp các chi phí vận hành, bảo trì và
các dịch vu kèm theo.
2/ Không chịu rủi ro và thiệt hại đối
với tài sản đi thuê.
3/ Có quyền hủy bỏ thỏa thuận bằng
một thông báo ngắn gửi cho người
cho thuê.
(Hình 1.2)
1.3.1.1.2 Một số đặc điểm khác:
Tiền thuê thường cao hơn tiền thuê trong các thỏa thuận thuê mua
thuần do ngoài tiền trả cho quyền sử dụng tài sản hay hưởng dịch vụ, người
thuê còn phải trả thêm các chi phí khác như chi phí bảo trì, phụ tùng, sửa
chữa, bảo hiểm rủi ro…
Tuy nhiên trong nhiều trường hợp thực tế, do tính chất chuyên môn
hóa cao các hoạt động phục vụ việc cho thuê của các công ty chuyên kinh
doanh thuê mua nên giá cả thuê thường thấp hơn chi phí thuần để mua tài
sản cộng với phần dịch vụ,bảo trì… mà người thuê tự cung ứng.
10
Đề tài nghiên cứu khoa học
Tiền thuê của phương thức vận hành cao hay thấp hơn so với tiền
mua tài sản không phụ thuộc vào các dịch vụ bảo trì,bảo dưỡng hay các chi
phí vận hành mà chủ yếu phụ thuộc vào tính hiệu quả của việc cung cấp
các dịch vụ đó cộng với giá cả của mua tài sản.
Trong thỏa thuận thuê vận hành, người thuê có quyền hủy ngang hợp
đồng, trả lại tài sản, thiết bị trước khi hết hạn. Đây là một điểm lợi thế đối
với người thuê, bởi trong thời đại bùng nổ công nghệ ngày nay, các loại

được khấu trừ vào tiền thuê hay được coi như một khoản hoa hồng bán
hàng.
Các loại chi phí bảo trì, vận hành, phí bảo hiểm, thuế tài sản và mọi
rủi ra thường do người thuê chịu và tổng số tiền mà người thuê trả người
cho thuê trong suốt thời gian thuê thường đủ để bù đắp lại toàn bộ giá gốc (
giá mua) của tài sản. Bởi các loại chi phí hoạt động, bảo hiểm… của tài sản
do người thuê chịu nên các khoản tiền thuê mà người cho thuê nhận được
coi là trị giá thuần của tài sản, do đó hình thức thuê mua này được gọi là
thuê mua thuần.
Khi đáo hạn hợp đồng, người thuê có quyền lựa chọn một trong các
hình thức mua lại tài sản với giá trị hợp lý hay giá tượng trưng tùy theo sự
thỏa thuận đã được dự liệu sẵn trong hợp đồng- hoặc người thuê cũng có
thể tiếp tục thuê tài sản hay nhận làm đại lý bán tài sản tùy theo sự ủy
quyền của người cho thuê.
Trong suốt thời gian diễn ra hoạt động CTTC quyền sở hữu pháp lý
đối với tài sản thuộc về người cho thuê và quyền sử dụng tài sản thuộc về
người thuê. Do giữ quyền sở hữu pháp lý đối với tài sản nên mọi ưu đãi về
thuế khóa và các khoản tiền bồi thường do cơ quan bảo hiểm trả cho tài sản
đề do người cho thuê hưởng. Nhưng người cho thuê thường chiết khấu tiền
12
Đề tài nghiên cứu khoa học
khuyến khích về thuế vào khoản tiền thuê mà người thuê phải trả theo định
kì, còn khoản tiền bồi thường của công ty bảo hiểm thường được người cho
thuê chuyển cho người thuê sau khi người thuê hoàn thành trọn vẹn mọi
nghĩa vụ theo quy định của hợp đồng.
Trong khoản tiền thuê mà người thuê trả người cho thuê theo định kì
bao gồm:
- Tiền vốn gốc
- Tiền lãi tín dụng
- Phần lợi nhuận hợp lý

4/ Hết hạn hợp đồng cho phép người
thuê quyền lựa chọn mua tài sản hay
kí tiếp hợp đồng thuê, ủy quyền cho
người thuê bán hoặc nhận lại tài sản.
1/ Trả các khoản tiền thuê theo định
kì và được quyền sử dụng tài sản
2/ Chịu mọi rủi ro và thiệt hại liên
quan tới tài sản. Có trách nhiệm mua
bảo hiểm, đóng thuế tài sản.
3/ Không được hủy ngang hợp đồng
thuê mua, trừ trường hợp được sự
đồng ý của người cho thuê.
4/ Mua, tiếp tục hợp đồng thuê, bán
tài sản khi hợp đồng hết hạn theo sự
ủy quyền hoặc trả lại tài sản cho
người cho thuê.
1.4 : Các phương thức cho thuê tài chính:
Với hai loại hợp đồng cho thuê tài chính cơ bản đã nên ở trên ( Thuê
vận hành và thuê mua thuần),phân tích đặc điểm của hai hình thức này dựa
trên hai căn cứ cơ bản đó là :
- Những rủi ro và những biện pháp bảo đảm cho giá trị còn lại của tài
sản thuê do bên nào thực hiện
- Quyền sử dụng và hưởng dụng toàn bộ các lợi ích kinh tế do tài sản
thuê mang lại có được chuyển giao cho người thuê ko.
14
Đề tài nghiên cứu khoa học
Dựa trên cơ sở này,Ủy ban tiêu chuẩn Kế Toán Quốc Tế (IASC) đã
đề ra 4 tiêu chuẩn làm cơ sở chung để phân loại và nhận diện các loại hợp
đồng thuê tài sản thuộc phương thức nào:
- Quyền sở hữu tài sản thuê có được chuyển giao cho người thuê khi

Thời hạn thuê chiếm
phần lớn thời gian hữu
dụng của tài sản
Giá trị hiện tại của các
khoản tiền thuê tối thiểu
lớn hơn hay tương
đương với giá trị của tài
sản.
Thuê vận hành Thuê thuần
16
Đề tài nghiên cứu khoa học
1.5.1 : Lợi ích đối với nền kinh tế
1.5.1.1 : Cho thuê tài chính góp phần thu hút vốn đầu tư cho nền kinh tế
Do hoạt động cho thuê tài chính có mức độ rủi ro thấp, phạm vi tài
trợ rộng rãi hơn các hình thức tín dụng khác…nên cho thuê tài chính có thể
khuyến khích các thành phần kinh tế, tác nhân và nhất là các định chế tài
chính đầu tư vốn để kinh doanh.Do đó, hoạt động này đã huy động được
những nguồn vốn còn nhàn rỗi trong nội bộ nền kinh tế cũng như vốn từ
các lĩnh vực đầu tư khác.
Không những thế, trong điều kiện giao lưu quốc tế ngày nay, cho
thuê tài chính góp phần giúp các quốc gia thu hút các nguồn vốn quốc tế
thông qua các máy móc thiết bị cho thuê mà quốc gia đó nhận được.
Đối với các nền kinh tế đang phát triển, hoạt động cho thuê ngày
càng phát huy tác dụng mạnh mẽ bởi việc tích luỹ vốn của các nền kinh tế
này thường rất khó khăn do các doanh nghiệp đều thuộc loại vừa và nhỏ,
thu nhập quốc dân thấp, hiệu quả của nền kinh tế thấy nên cho thuê tài
chính có thể thu hút vốn quốc tế giúp các doanh nghiệp hiện đại hoá sản
xuất, gia tăng hiệu quả, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển.
1.5.1.2: Cho thuê tài chính góp phần thúc đẩy đổi mới công nghệ, thiết bị,
cải tiến khoa học kỹ thuật

Khi tiến hành tài trợ thông qua thuê tài chính sẽ đảm bảo cho khoản
tiền tài trợ được sử dụng đúng mục đích mà người tài trợ yêu cầu. Nhờ vậy
đảm bảo khả năng trả nợ của người vay.
Tài trợ thuê tài chính giúp cho người cho thuê không bị khó khăn về
khả năng thanh khoản do tiền thuê và vốn được thu dựa trên hiệu quả hoạt
động của tài sản.
1.5.2.2 . Cho thuê tài chính cho phép người cho thuê linh hoạt trong kinh doanh.
Cho thuê tài chính là phương thức cho vay mà trong đó người vay sẽ
phải trả gốc và lãi vay hàng kỳ, vì vậy trong thời gian diễn ra giao dịch thuê
tài chính ,vốn tài trợ được thu hồi dần cho phép người cho thuê tái đầu tư
18
Đề tài nghiên cứu khoa học
chúng vào hoạt động kinh doanh sinh lợi khác, nhằm tạo ra những lợi
nhuận tăng thêm cho doanh nghiệp. Ví dụ như một nhà đầu tư, nếu cho vay
khoản tiền 5 tỷ trong 5 năm theo phương thức trả lãi hàng kỳ và trả gốc vào
thời điểm đáo hạn thì sau 5 năm ông ta mới thu hồi được vốn gốc, còn nếu
ông ta tài trợ theo phương thức thuê mua tài sản thì hàng năm ông ta đều
thu hồi được một phần vốn và tiền thuê để dùng vào các thương vụ khác.
Người đầu tư có khả năng tập trung theo chiều sâu, cả về kiến thức lẫn
kinh nghiệm, kỹ thuật, nghiệp vụ … do đó có thể nâng cao hiệu quả kinh
doanh của họ.
1.5.3. Lợi ích đối với người thuê
1.5.3.1. Người thuê có thể gia tăng năng lực sản xuất trong những điều
kiện hạn chế về nguồn vốn đầu tư.
Trong quá trình kinh doanh, nhu cầu gia tăng công suất của doanh
nghiệp có thể được đặt ra vàp bất cứ lúc nào. Việc đáp ứng các nhu cầu này
đòi hỏi phải có nguồn vốn tích luỹ. Trong khi đó các doanh nghiệp, nhất là
các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường gặp rất nhiều khó khăn về nguồn vốn
trung và dài hạn.Thông qua tín dụng thuê mua, các doanh nghiệp có tể từ
tay không mà vẫn có thể có được máy móc thiết bị phục vụ yêu cầu sản

có thể tự tìm kiếm nguồn cung ứng tài sản thiết bị hay đàm phán , thoả
thuận trước về hợp đồng mua bán thiết bị với nhà cung cấp sau đó mới yêu
cầu công ty thuê mua tài chình tài trợ nên có thể cho phép người thuê rút
ngắn thời gian tiến hành đầu tư thiết bị.
1.5.3.5. Thuê tài chính cho phép người thuê hiện đại hoá sản xuất theo kịp
tốc độ phát triển với công nghệ mới.
Trong điều kiện bùng nổ công nghệ như hiện nay, việc thay đổi thiết
bị máy móc theo kịp đà phát triển của công nghệ mới, góp phần sản xuất ra
các sản phẩm có chất lượng cao, có sức cạnh tranh trên thị trường. Nhưng
đây cũng là một khó khăn đối với nhà sản xuất nhất là các doanh nghiệp có
quy mô vừa và nhỏ
20
Đề tài nghiên cứu khoa học
1.5.3.6. Cho thuê tài chính cho phép doanh nghiệp Việt Nam thu hút được
vốn nước ngoài.
1.5.3.7. Cho thuê tài chính cho phép người thuê hoãn thuế.
Các khoản tiền thuê phải trả hàng năm được tính vào chi phí của
doanh nghiệp. Do đó chúng làm giảm mức lợi nhuận của doanh nghiệp
bằng chính những khoản chi phí đó.
Ví dụ : tổng số tiền thuê phải trả hằng năm của doanh nghiệp là 10
triệu đồng, mức thuế lợi tức là 35%/ nưm, lãi suất cho vay của ngân hàng là
20%. Khoản tiền tiết kiệm do hoãn thuế trong năm của doanh nghiệp là
10tr * (20% ( 1- 0.35 ) = 1.3 tr
Kết quả này phản ánh trong năm, doanh nghiệp đã tiết kiệm được 1.3
triệu đồng nhờ nộp chậm thuế, có thể sử dụng khoản tiền này đầu tư cho
sản xuất mà không cần đi vay ngân hàng và không phải trả lãi vay.
1.5.4. Bất lợi của hoạt động cho thuê tài chính :
Bên cạnh những lợi ích thuê tài chính đem lại, các doanh nghiệp đi
thuê cũng có những bất lợi mà doanh nghiệp phải xem xét, đo lường trước
khi ra quyết định.

sản như một món nợ nên tín dụng
thuê mua giữ vững vị thế tài chính
của doanh nghiệp .
1 - Chi phí thuê tài chính thường cao
hơn chi phí vay vốn để công ty tự đầu
tư, vì công ty thuê tài chính thu lợi
nhuận của họ trên các khoản tiền
vayđể tài trợ cho các giao dịch thuê tài
chính.
2- Doanh nghiệp không được hưởng
khoản tiền chiết khấu như mua tài sản
bằng tiền mặt.
3 - Nếu tài sản được chuyển trả người
cho thuê ở thời điểm kết thúc hợp
đồng thuê tài chính thì doanh nghiệp
không được hưởng giá trị còn lại của
tài sản.
4 – Doanh nghiệp không được hưởng
những khoản miễn giảm tiền thuế
dành cho tài sản cho thuê.
5 - Doanh nghiệp phải chịu những
ràng buộc bởi một số biện pháp bảo
đảm cho tài sản thuê: không vay dài
hạn, không thuê , mua chịu … khi
chưa có ý kiến của người cho thuê.
Tóm lại : các hoạt động cho thuê tài chính diễn ra rất đa dạng và
phong phú tạo nên nhiều hình thức rất phức tạp. Các hình thức này đan
xen vào nhau tạo ra nhiều biến thể rất sinh động đòi hỏi được xem xét ở
nhiều góc độ. Việc nhận thức bản chất, vai trò của loại hình tài trợ này và
22

thống mãy móc thiết bị hiện đại đòi hỏi lượng tiền lớn, vượt quá khả năng
của ngành và cần có sự đầu tư của các tổ chức bên ngoài.
24
Đề tài nghiên cứu khoa học
Trong giai đoạn này các doanh nghiệp nước ta đang hoạt động sản
xuất kinh doanh trong một tình trạng quy mô tài sản cố đinh nhỏ bé , trình
độ công nghệ rất lạc hậu so với trình độ công nghệ trong khu vực và thế
giới. Đa số các doanh nghiệp nước ta thuộc loại vừa và nhỏ, số doanh
nghiệp có quy mô tài sản cố định trên 10 tỷ đồng chỉ chiếm 17% tổng số
các doanh nghiệp, các doanh nghiệp có quy mô từ 1 tỷ - 10 tỷ đồng chíêm
58%, còn lại 25% có quy mô dưới 1 tỷ.
Tình độ công nghệ của các loại máy móc thiết bị nước ta ở trình độ rất
thấp so với thế giới, số thiết bị có trình độ lạc hậu chiếm tỷ lệ rất cao. Các
thiết bị hiện đại chỉ chiếm 10%. Hệ quả là hàng hoá sản xuất trong nước có
giá thành cao, chất lượng thấp, mẫu mã chậm thay đổi cho phù hợp với thị
hiếu người tiêu dùng, hàng hoá trong nước bị mất uy tín và không cạnh
tranh được với hàng hoá nước ngoài ngay tại thị trường trong nước.
Bối cảnh kinh tế xá hội, nhất là những nhu cầu về vốn, thiết bị , công
nghệ cùng với thực trạng công nghệ máy móc thiết bị như trên đã đưa ra
yêu cầu về tính cấp bách của nhu cầu đổi mới công nghệ và vì thế đã tạo ra
những tiền đề cần thiết thúc đẩy việc hoàn chỉnh các cơ sở pháp lý và kỹ
thuật các hoạt động thuê mua ra đời và phát triển ở Việt Nam
2.2 Nhu cầu của hoạt động cho thuê tài chính ở Việt Nam
Thị trường cho thuê tài chính ở Việt Nam trong tương lai sẽ là một thị
trường có tính hấp dẫn cao đối với các nhà đầu tư trong nước cũng như
quốc tế. Tính hấp dẫn của thị trường thuê tài chính nước ta do ba đặc trưng
chủ yếu tạo thành:
• Là thị trường mới đối với hoạt động cho thuê tài chính.
• Khối lượng cầu lớn, đã bắt đầu bộc phát.
• Mức độ cạnh tranh chưa gay gắt.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status