MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sở hữu tư liệu sản xuất là một nhân tố cơ bản cấu thành hệ thống quan
hệ sản xuất trong từng chế độ kinh tế - xã hội. Trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội, một trong những nội dung cơ bản cần phải giải quyết là phải tiến
hành cải tạo các quan hệ sản xuất mà điểm xuất phát là cải biến quan hệ sở
hữu tư nhân về tư liệu sản xuất sang quan hệ sở hữu công cộng để đáp ứng
yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất.
Ở nước ta, trước thời kỳ đổi mới, quá trình chuyển sở hữu tư nhân sang
sở hữu nhà nước được thực hiện thông qua quốc hữu hoá các tư liệu sản xuất
của giai cấp tư sản dưới hai hình thức không bồi thường và có bồi thường;
chuyển sở hữu tư nhân của những người sản xuất nhỏ sang sở hữu tập thể
thông qua phong trào hợp tác hoá để tập thể hoá tư liệu sản xuất. Việc làm đó
đããđưa quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất vượt quá xa so với khả năng quản l›
và trình độ phát triển lực lượng sản xuất.
Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng ta đã đề ra đường lối đổi mới,
trước hết là đổi mới tư duy kinh tế, thực hiện đa dạng hóa các hình thức sở
hữu, phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị
trường, có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Cương
lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và văn kiện
các kỳ Đại hội Đảng từ Đại hội VII đến nay đều khẳng định thực hiện nhất
quán chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần. Trong đó sở hữu toàn
dân và sở hữu tập thể phải ngày cảng trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc
dân. Điều đó có nghĩa là song song với phát triển kinh tế tư nhân phải từng
bước chuyển sở hữu tư nhân sang sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất.
Thực hiện chủ trương đó, việc nghiên cứu các vấn đề lý luận về kinh tế thị
trường ở nước ta nói chung và sở hữu tư liệu sản xuất nói riêng đã được triển khai
mạnh mẽ. Tuy vậy, đến nay trên một số lĩnh vực việc nghiên cứu lý luận vẫn chưa
đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn trong quá trình phát triển kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Chẳng hạn, kinh tế tư nhân, kinh tế tập
1
Năm 1998, Viện Thông tin khoa học xã hội xuất bản cuốn Vai trò của
nhà nước trong nền kinh tế trị trường, cũng năm này Nxb Chính trị quốc gia
xuất bản cuốn Xu hướng biến động của nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt
Nam do PGS.PTS Nguyễn Tĩnh Gia chủ biên.
Tác phẩm Những nhận thức kinh tế chính trị trong giai đoạn đổi mới ở
Việt Nam của hai tác giả PGS.PTS Nguyễn Đình Kháng và PTS Vũ Văn Phúc
xuất bản năm 1999.
Năm 2004, Nxb Chính trị quốc gia xuất bản cuốn Một số vấn đề về sở
hữu ở nước ta hiện nay do GS.TS Nguyễn Văn Thạo và TS Nguyễn Hữu Đạt
đồng chủ biên. Cùng năm này, Nxb Khoa học xã hội cũng giới thiệu cuốn Sở
hữu: Lý luận và vận dụng ở Việt nam của tác giả Nguyễn Văn Thức.
Năm 2006, Nxb lý luận chính trị cho ra mắt bạn đọc cuốn Sở hữu nhà
nước và doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa ở Việt nam của hai tác giả PGS.TS Nguyễn Cúc và PGS.TS
Kim Văn Chính.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu và diễn đàn trên đã làm rõ vị trí,
vai trò của từng hình thức sở hữu trong việc thúc đẩy kinh tế - xã hội phát
triển. Song, việc nghiên cứu sự biến đổi sở hữu tư nhân sang sở hữu công
cộng về tư liệu sản xuất dưới các hình thức còn chưa được nghiên cứu đầy đủ.
Do đó chưa làm rõ nội dung và yêu cầu xã hội hóa sở hữu tư liệu sản xuất ở
nước ta để xác định phương hương và giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện quan
hệ sở hữu tư liệu sản xuất trong quá trình phát triển kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa. Với những nhận xét đó, luận văn mong muốn góp
phần vào việc giải quyết những vấn đề đang đặt ra trên đây.
3. Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục đích
Khái quát hoá những luận điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về vị
trí, vai trò của sở hữu tư liệu sản xuất và sự biến đổi của quan hệ sở hữu tư
nhân sang sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất để làm cơ sở cho việc phân
3
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận
- Những nguyên lý kinh tế, những luận điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác
- Lênin về vấn đề sở hữu nói chung và sở hữu tư liệu sản xuất trong quá trình
phát triển kinh tế thị trường trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
- Những quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về giải quyết vấn đề sở
hữu trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
- Kế thừa những kết quả của các công trình nghiên cứu đã công bố liên
quan đến đề tài.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Vận dụng thế giới quan và phương pháp luận của Triết học Mác -
Lênin, thông qua phương pháp trừu tượng hóa nhằm làm rõ các quan hệ lợi
ích kinh tế từ sở hữu và sự cần thiết biến đổi quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất
để thực hiện lợi ích kinh tế.
Trong quá trình thực hiện đề tài, luận văn sử dụng tổng hợp các phương
pháp cụ thể như điều tra khảo sát, thu thập và xử lý tư liệu để làm cơ sở cho
việc phân tích và tổng hợp, rút ra những kết luận cần thiết.
5. Những đóng góp về khoa học của luận văn
- Làm rõ những cơ sở lý luận về sự biến đổi quan hệ sở hữu tư liệu sản
xuất ở nước ta trong quá trình đổi mới.
- Phân tích, đánh giá thực trạng biến đổi quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất
trong thời gian qua.
- Đề xuất các giải pháp nhằm củng cố và phát triển sở hữu công cộng về tư
liệu sản xuất trong quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở
nước ta.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Góp phần làm rõ một số vấn đề lý luận trong quá trình thực hiện
đường lối đổi mới kinh tế của Đảng ta.
5
- Những kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham
phẩm, mà nghiên cứu mối quan hệ giữa người với người, xét cho đến cùng là
giữa giai cấp với giai cấp, nhưng các quan hệ đó bao giờ cũng gắn với các vật
phẩm và biểu hiện ra như là những vật phẩm” [31, tr.615]. Cho nên, nói đến
sở hữu là nói đến quan hệ xã hội giữa người và người đối với vật.
Hai là, sở hữu được coi là điều kiện của nền sản xuất xã hội. Mác viết:
“Bất cứ nền sản xuất nào cũng đều là việc con người chiếm hữu những vật
7
phẩm của tự nhiên trong phạm vi một hình thái xã hội nhất định và thông qua
hình thái đó. Theo ý nghĩa đó, nói rằng sở hữu (sự chiếm hữu) là một điều
kiện của sản xuất ” [30, tr.860]. Mác lại nói “Nhưng khi người ta nói rằng,
nơi nào không có một hình thái sở hữu nào cả thì ở đó cũng không thể có một
nền sản xuất nào cả, do đó cũng không có một xã hội nào cả, thì đấy chỉ là
một điều lắp lại” [30, tr.860].
Trên thực tế, sản xuất xã hội lại là cơ sở tồn tại và phát triển của xã hội
loài người, vì thế sở hữu là vấn đề trọng yếu trong lịch sử nhân loại.
Ba là, quan hệ sở hữu luôn luôn biến đổi, không có một hình thức sở
hữu nào tồn tại vĩnh viễn. Nguyên nhân của sự biến đổi đó là sự phát triển của
lực lượng sản xuất mới, đòi hỏi phải có quan hệ sở hữu mới phù hợp.
F.Ăngghen viết: “Bất cứ một sự thay đổi nào của chế độ xã hội, bất cứ một sự
cải biến nào về mặt quan hệ sở hữu cũng đều là kết quả tất yếu của việc tạo
nên những lực lượng sản xuất mới, không còn phù hợp với các quan hệ sở
hữu cũ nữa” [29, tr.467]. C.Mác cũng đã nói về sự chuyển biến liên tục của
quan hệ sở hữu từ thấp đến cao: “Quan hệ sở hữu “cổ đại” đã bị quan hệ sở
hữu “phong kiến” tiêu diệt, và quan hệ sở hữu phong kiến đã bị quan hệ sở
hữu “tư sản” tiêu diệt. Như vậy, chính lịch sử đã phê phán những quan hệ sở
hữu đã qua” [32, tr.41].
C.Mác cũng đã chỉ ra cơ sở khách quan quyết định sự tồn tại của một
hình thức sở hữu nhất định nào đó chính là sự phát triển của lực lượng sản
xuất: Sự chiếm hữu đó nhất thiết phải có một tính chất phổ biến, phù hợp với
những lực lượng sản xuất và sự giao tiếp.
hữu phải là một quá trình lâu dài. Tư tưởng này được F.Ăngghen nêu rõ:
Liệu có thể thủ tiêu chế độ tư hữu ngay lập tức được không?
Trả lời: Không, không thể được, cũng như không thể làm cho lực
lượng sản xuất hiện có tăng lên ngay lập tức đến mức cần thiết để
xây dựng một nền kinh tế công hữu. Cho nên, cuộc cách mạng của
giai cấp vô sản đang có tất cả những triệu chứng là sắp nổ ra, sẽ chỉ
có thể cải tạo xã hội hiện nay một cách dần dần, và chỉ khi nào đã
9
tạo nên được một khối lượng tư liệu sản xuất cần thiết cho việc cải
tạo đó thì khi ấy mới thủ tiêu được chế độ tư hữu [29, tr.469].
Khi bàn về cải tạo chế dộ tư hữu, Ph.Ăngghen còn nói rõ thêm: “Đặc
trưng của chủ nghĩa cộng sản không phải là xóa bỏ chế độ sở hữu nói chung,
mà là xóa bỏ chế độ sở hữu tư sản” [29, tr.615], và “Chủ nghĩa cộng sản
không tước bỏ của ai cái khả năng chiếm hữu những sản phẩm xã hội cả. Chủ
nghĩa cộng sản chỉ tước bỏ quyền dùng sự chiếm hữu ấy để nô dịch lao động
của người khác” [4, tr.618].
Vận dụng quan điểm này, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội,
chúng ta phải tuân theo di huấn của các nhà kinh điển: không nôn nóng xóa
bỏ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, sử dụng các thành phần kinh tế dựa trên
tiền đề sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất đang phù hợp với yêu cầu phát triển
lực lượng sản xuất nhưng phải tìm cách hạn chế và ngăn cấm lợi dụng quyền
sở hữu tư liệu sản xuất để nô dịch người lao động.
Bảy là, sự tồn tại nhiều hình thức sở hữu trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội. Trong một giai đoạn nào đó của sự phát triển xã hội, bên cạnh
một phương thức sản xuất chủ đạo còn phải kế thừa những tàn dư của các
phương thức sản xuất tàn dư, điều đó khiến cho trong cùng một thời gian,
trong một nước có thể cùng tồn tại nhiều hình thức sở hữu. C.Mác viết:
Chúng ta đau khổ không những vì sự phát triển của nền sản
xuất tư bản chủ nghĩa, mà còn đau khổ vì nó phát triển chưa đầy đủ.
Ngoài những tai họa của thời đại hiện nay ra, chúng ta còn phải chịu
tư sản hiện đại là thứ sở hữu dựa trên “bóc lột lao động làm thuê”, thứ sở hữu
vận động trong sự đối lập giữa hai cực: Tư bản và lao động, C.Mác và
Ph.Ăngghen đã chỉ rõ:
Đặc trưng của chủ nghĩa cộng sản không phải là xóa bỏ chế độ
sở hữu nói chung, mà là xóa bỏ chế độ sở hữu tư sản. Nhưng chế độ tư
hữu hiện thời, chế độ sở hữu tư sản lại là biểu hiện cuối cùng và hoàn
bị nhất của phương thức sản xuất và chiếm hữu dựa trên cơ sở những đối
kháng giai cấp, trên cơ sở những người này bóc lột những người kia. Theo
11
ý nghĩa đó, những người cộng sản có thể tóm tắt lý luận của mình thành
công thức duy nhất này là: xóa bỏ chế độ tư hữu [29, tr.616].
Trên cơ sở quan điểm duy vật biện chứng về lịch sử, C.Mác đã chỉ rõ vị
trí và vai trò của sở hữu trong sự vận động và phát triển của xã hội loài người.
Chế độ sở hữu là yếu tố cơ bản chi phối các yếu tố khác của đời sống xã hội.
Mặt khác, bản thân chế độ sở hữu cũng là một yếu tố động, luôn có sự cải
biến. Một trong những động lực chủ yếu, nguyên nhân chủ yếu của sự vận
động, biến đổi, cải biến đó là sự phát triển không ngừng cả về trình độ, tính
chất và quy mô của lực lượng sản xuất xã hội. Khi chế độ sở hữu thay đổi sẽ
kéo theo sự thay đổi mọi yếu tố khác trong cấu trúc xã hội, cuối cùng sẽ làm
thay đổi toàn bộ hình thái kinh tế - xã hội, một chế độ xã hội nào đó. Mỗi một
hình thái kinh tế - xã hội có một chế độ sở hữu cơ bản đặc trưng cho hình thái
kinh tế - xã hội đó. Từ chế độ sở hữu, trong những quan hệ sở hữu, “bao giờ
chúng ta cũng tìm được cái điều bí ẩn sâu xa nhất, cái nền móng thầm kín của
toàn bộ kết cấu xã hội” [37, tr.499].
C.Mác chỉ ra rằng, giai cấp nào nắm giữ những tư liệu sản xuất chủ yếu
thì giai cấp đó nắm quyền tổ chức quản lý sản xuất, nắm quyền phân phối sản
phẩm xã hội. Giai cấp nào nắm quyền chi phối lĩnh vực sản xuất các giá trị
vật chất thì giai cấp đó cũng nắm quyền chi phối mọi lĩnh vực hoạt động khác
của đời sống xã hội, là giai cấp thống trị trong xã hội.
C.Mác đã nêu lên các giai đoạn phát triển của xã hội loài người, trải
sản xuất mới nhận thức đúng về quan hệ sở hữu và quan hệ tổ chức quản lý
sản xuất. Quan hệ giữa người với người đối với việc chiếm hữu tư liệu sản
xuất là cơ sở quyết định vai trò cũng như việc thực hiện lợi ích kinh tế của
mỗi người, mỗi tập đoàn, giai cấp. Nói cách khác, lợi ích là quan hệ phản ánh
cái bản chất sâu thẳm bên trong của quan hệ sản xuất là quan hệ sở hữu. Lịch
sử cho thấy, con người từ xưa đến nay tranh giành quyền sở hữu, quyền tổ
chức quản lý sản xuất cuối cùng cũng chỉ để thực hiện lợi ích kinh tế mà thôi.
Giai cấp bị trị xưa nay đi theo lực lượng tiến bộ thực hiện các cuộc
cách mạng xã hội để cuối cùng có được lợi ích chính đáng của mình. Xác
13
định điều này có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc xác định mối quan hệ trực
tiếp giữa quan hệ sở hữu, quan hệ tổ chức quản lý và quan hệ phân phối. Khi
lợi ích của người lao động không được bảo đảm thì sớm muộn gì cũng tạo ra
mâu thuẫn với chủ sở hữu mà trước hết là mâu thuẫn về quyền lợi kinh tế rồi
tất yếu sau đó là mâu thuẫn về quyền lợi xã hội, chính trị.
Tuy quan hệ sở hữu có vai trò quyết định đối với những mặt khác của
quan hệ sản xuất, nhưng các quan hệ phân phối và tổ chức quản lý, đến lượt
nó lại quyết định trở lại đối với việc bảo tồn hay phá vỡ quan hệ sở hữu. Nếu
hệ thống tổ chức quản lý thích hợp, giải quyết hài hòa vấn đề lợi ích kinh tế
thì nó duy trì sự tồn tại và thúc đẩy sự phát triển của quan hệ sở hữu. Trái lại,
không có một hệ thống tổ chức quản lý thích hợp và không giải quyết tốt vấn
đề lợi ích thì nó sẽ kìm hãm, thậm chí phá vỡ quan hệ sở hữu. Nói cách khác,
nếu bỏ qua hai yếu tố quản lý và phân phối thì việc xác lập quan hệ sở hữu chỉ
là hình thức, không có tác dụng tích cực trong thực tế. Vai trò của quan hệ
quản lý và quan hệ phân phối là ở chỗ chúng làm cho quan hệ sở hữu từ chỗ
được thừa nhận về mặt pháp lý trở nên có nội dung hiện thực, được cảm nhận
rõ ràng và cụ thể ở việc thực hiện lợi ích kinh tế quyền sở hữu. Lịch sử cho
thấy, nhờ cải cách trong quản lý tổ chức sản xuất và điều hoà vấn đề lợi ích
giữa chủ sở hữu tư bản với người lao động mà xã hội tư bản vẫn tiếp tục tồn
tại và phát triển cho đến ngày nay.
Logic này cho phép chúng ta khẳng định cách mạng xã hội chủ nghĩa
lấy việc xây dựng và phát triển chế độ công hữu về tư liệu sản xuất làm cơ sở
là đúng đắn, xa rời mục tiêu này sẽ không còn mang ý nghĩa là cuộc cách
mạng xã hội chủ nghĩa. Chế độ công hữu về tư liệu sản xuất không những là
đặc trưng có ý nghĩa quyết định để phân biệt xã hội chủ nghĩa với tư bản chủ
nghĩa, mà còn là cơ sở để các đặc trưng cơ bản khác của chủ nghĩa xã hội tồn
tại và phát huy tác dụng. Trong kiến trúc thượng tầng thì chế độ chính trị là
một bộ phận quan trọng nhằm bảo đảm quyền lực của giai cấp cầm quyền qua
những thiết chế, thể chế tương ứng để thực thi quyền lực về chính trị - kinh tế
- xã hội, chủ yếu là thực hiện lợi ích kinh tế trong đó vấn đề sở hữu là căn bản
nhất. Không phải ngẫu nhiên mà tất cả các cuộc cách mạng xã hội đều coi
15
việc xác lập quyền thống trị của mình đối với tư liệu sản xuất - tài sản quốc
gia như là điều kiện tiên quyết để giữ vững những thành quả cách mạng và
phát triển kinh tế.
Như vậy, chế độ sở hữu và chế độ chính trị là những thành phần cốt lõi
nhất của một chế độ xã hội. Chế độ chính trị là một phạm trù lịch sử, nó biến
động cùng với sự biến động của cơ sở kinh tế, của chế độ sở hữu. Quan hệ sở
hữu lại phụ thuộc vào lực lượng sản xuất ở một trình độ phát triển nhất định.
Thực chất quan hệ giữa chế độ sở hữu và chế độ chính trị là sự phản ánh mối
quan hệ giữa kinh tế và chính trị trong đời sống xã hội hiện thực. Do vậy, để
xác định đúng mối quan hệ giữa sở hữu và chính trị chúng ta phải căn cứ vào
đời sống hiện thực của xã hội. Chế độ sở hữu và chế độ chính trị có mối quan
hệ biện chứng. Tuy sở hữu đóng vai trò là cơ sở của chế độ chính trị nhưng
chế độ chính trị lại là nhân tố tác động mạnh mẽ đến sự hình thành và vận động
của chế độ sở hữu. Thông thường trong lịch sử, khi quan hệ sở hữu lỗi thời, trở
thành lực cản của lực lượng sản xuất thì tất yếu sẽ bị thay thế bởi quan hệ sở hữu
tiến bộ hơn và theo đó chế độ chính trị phải tương ứng. Nhưng mặt khác, giai
cấp thống trị cũng thông qua những thiết chế của hệ thống chính trị để tác động,
xây dựng và bảo vệ chế độ sở hữu, duy trì quyền lợi kinh tế cho mình. Tùy theo
hữu tư bản tư nhân gắn liền với sự ra đời và phát triển của nền sản xuất hàng
hóa, từ sản xuất hàng hóa nhỏ lên sản xuất hàng hóa lớn (còn gọi là sản xuất
hàng hóa tư bản chủ nghĩa). Cách thức thực hiện lợi ích của chủ sở hữu nhỏ
về tư liệu sản xuất là kết hợp trực tiếp sức lao động của bản thân với các
thành viên trong gia đình với tư liệu sản xuất của chính mình sản xuất ra các
sản phẩm để sử dụng trực tiếp gọi là sản xuất nhỏ tự cung tự cấp; hoặc thông
qua trao đổi để sử dụng vào đời sống và sản xuất của gia đình họ, cách thức
thực hiện lợi ích đó gọi là sản xuất hàng hóa nhỏ.
Khi quy mô sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất vượt quá khả năng sử
dụng của các thành viên trong gia đình thì chủ sở hữu phải sử dụng sức lao
động của những người ngoài gia đình để thực hiện lợi ích kinh tế quyền sở
hữu các tư liệu sản xuất. Trong lịch sử, việc thực hiện lợi ích kinh tế quyền sở
hữu ấy đã diễn ra như sau: thời cổ đại, chủ nô sử dụng lao động nô lệ; thời
17
trung cổ, chủ sở hữu ruộng đất - địa chủ sử dụng lao động tá điền; thời hiện
đại, chủ sở hữu tư bản sử dụng lao động công nhân làm thuê. Trong các thời
đại ấy, sở hữu tư bản tư nhân là đỉnh cao nhất, là hình thái cuối cùng của sở
hữu tư nhân về tư liệu sản xuất.
Sự chuyển hóa sở hữu tư nhân của những người sản xuất hàng hóa nhỏ
sang sở hữu tư bản tư nhân được thực hiện trước hết là do sự tác động của quy
luật giá trị đã làm phân hóa những người sản xuất hàng hóa nhỏ. Quy luật này
đòi hỏi: trong quá trình sản xuất hàng hóa, người sản xuất phải thực hiện
nguyên tắc hao phí lao động xã hội cần thiết, nghĩa là tiết kiệm lao động (cả
lao động quá khứ và lao động sống) thì người sản xuất hàng hóa mới có lãi.
Muốn vậy, người sản xuất hàng hóa phải tìm mọi cách để hạ thấp giá trị cá
biệt của sản phẩm so với thời gian lao động xã hội cần thiết; còn trong trao
đổi phải thực hiện nguyên tắc ngang giá, nghĩa là giá cả bằng giá trị, phải đảm
bảo bù đắp được chi phí cho người sản xuất hàng hóa (dựa trên cơ sở hao phí
lao động xã hội cần thiết).
Để tồn tại và phát triển, người sản xuất phải tìm mọi biện pháp để
Thực chất của tích lũy nguyên thủy tư bản là dùng bạo lực để tước đoạt
quyền sở hữu tư liệu sản xuất của những người sản xuất nhỏ, nhất là người
nông dân để tập trung tiền của vào tay các nhà tư bản và biến họ thành những
người lao động làm thuê. Điển hình của quá trình này là ở nước Anh, giai cấp
tư sản dựa vào nhà nước phong kiến dùng bạo lực đuổi nông dân, biến đồng
ruộng thành bãi chăn cừu. Đồng thời, ban hành các đạo luật hà khắc để buộc
những người nông dân bị mất đất phải vào làm thuê trong các xí nghiệp tư
bản. Tích lũy nguyên thủy tư bản còn được thực hiện bằng việc đi chinh phục
và bóc lột thuộc địa, buôn bán nô lệ da đen từ Châu Phi đến các vùng đất mới
ở Châu Mỹ, thực hiện thương mại không bình đẳng,v.v…
Tóm lại, quá trình chuyển sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất của những
người sản xuất nhỏ sang sở hữu tư nhân tư bản được thực hiện thông qua tác
động của quy luật giá trị trong nền sản xuất hàng hóa nhỏ và thông qua tích
lũy nguyên thủy tư bản. Trong đó, tác động của quy luật giá trị là nguyên
19
nhân sâu xa làm xuất hiện sở hữu tư nhân tư bản; tích lũy nguyên thủy tư bản
là nhân tố trực tiếp tạo ra sở hữu tư bản tư nhân quy mô lớn và làm xuất hiện
phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa từ cuối thế kỷ XVII.
1.2.2. Những luận điểm chủ yếu về sự biến đổi sở hữu tư bản tư
nhân thuần túy sang sở hữu tư bản độc quyền và sở hữu tư bản độc
quyền sang sở hữu tư bản độc quyền nhà nước
Nghiên cứu chủ nghĩa tư bản thời kỳ tự do cạnh tranh, C.Mác đã chỉ rõ:
tự do cạnh tranh sinh ra tích tụ sản xuất; tích tụ sản xuất phát triển tới một
mức nào đó sẽ dẫn tới sự xuất hiện các tổ chức độc quyền, cạnh tranh tự do sẽ
nhường chỗ cho độc quyền. C.Mác cũng xác định sự hình thành các công ty
cổ phần và chế độ độc quyền là: “Điểm quá độ tất nhiên để tư bản lại chuyển
thành sở hữu của những người sản xuất nhưng không phải với tư cách là sở
hữu tư nhân của những người sản xuất riêng lẻ nữa, mà với tư cách là sở hữu
của những người sản xuất liên hiệp, thành sở hữu xã hội trực tiếp” [24, tr.192].
Đó là một xu hướng có tính quy luật của nền kinh tế thị trường tự do tư bản
với nó là các cuộc khủng hoảng kinh tế có tính chu kỳ ở hầu hết các nước tư
bản chủ nghĩa. Những nhà tư bản vừa và nhỏ bị phá sản hàng loạt, còn các
nhà tư bản lớn thì phát tài và tăng quy mô tư bản một cách nhanh chóng hơn
trước. Thêm vào đó, sự ra đời nhanh hơn của các cơ cấu tài chính trung gian
như tín dụng, ngân hàng; sự hoạt động của các công ty cổ phần và chế độ
liên hợp sản xuất đã thúc đẩy nhanh hơn quá trình tích tụ sản xuất trong các
công ty lớn.
Lênin giải thích: tích tụ sản xuất có nghĩa là tập trung sản xuất vào
những xí nghiệp lớn, nhưng không phải chỉ là kết quả của tập trung tư bản mà
mà là kết quả của cả hai quá trình: tích tụ và tập trung tư bản. Các xí nghiệp
cá biệt đã qua quá trình tích tụ tư bản (tích lũy nội bộ, nhờ tư bản hóa giá trị
thặng dư) nay lại diễn ra quá trình tập trung thành những xí nghiệp khổng lồ
và dẫn đến sự thay đổi quan trọng trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa cuối thế
kỷ XIX: đó là sự hình thành các tổ chức độc quyền.
21
Lênin khẳng định rằng: hình thức tích tụ sản xuất là “một đặc điểm cực kỳ
trọng yếu mà người ta gọi là chế độ liên hợp hóa, nghĩa là sự tập trung vào trong
tay một xí nghiệp duy nhất nhiều ngành công nghiệp khác nhau” [20, tr.398].
Các công ty cổ phần lớn và các xí nghiệp liên hợp tạo cơ sở vật chất để
tự do cạnh tranh chuyển thành độc quyền. Khi mỗi ngành sản xuất còn phân
tán trong hàng trăm, hàng ngàn xí nghiệp độc lập nhỏ bé thì không thể có sự
thỏa thuận để chi phối thị trường. Do tích tụ sản xuất, trong mỗi ngành nổi lên
năm, bảy xí nghiệp kếch sù nắm đại bộ phận sản xuất của ngành đó và cạnh
tranh nhau gay gắt thì lúc đó xuất hiện xu hướng thỏa thuận, liên minh với
nhau để “điều tiết việc sản xuất”, “quy định giá cả”, vì trong điều kiện mới,
cạnh tranh khó khăn và ác liệt, tư bản cố định to lớn, không thể dễ dàng di
chuyển tự do từ ngành này sang ngành khác. Cho nên, nghiên cứu quá trình
tích tụ sản xuất, Lênin rút ra kết luận quan trọng: tích tụ và tập trung sản xuất
tất yếu “dẫn thẳng đến độc quyền. Vì vài chục xí nghiệp khổng lồ có thể dễ
dàng thỏa thuận với nhau; mặt khác chính quy mô to lớn của các xí nghiệp
số xí nghiệp dân sự phải chuyển sang hình thức hoạt động mang tính quân sự
hóa. Từ đó Lênin đã rút ra nhận xét: chiến tranh đã thúc đẩy nhanh chóng, phi
thường sự chuyển hóa của chủ nghĩa tư bản độc quyền thành chủ nghĩa tư bản
độc quyền nhà nước.
Nếu “tự do cạnh tranh đẻ ra tập trung sản xuất và sự tập trung sản xuất
này, khi phát triển tới một mức độ nhất định, lại dẫn tới độc quyền” [38, tr.402],
các tổ chức độc quyền dựa trên sở hữu tập thể tư nhân tư bản chủ nghĩa, thì tập
trung sản xuất cao hơn nữa làm cho tính xã hội hóa của lực lượng sản xuất phát
triển, trình độ quốc tế hóa của sản xuất cao hơn nữa làm cho sở hữu tập thể của
tư bản tư nhân trở nên không còn phù hợp, tất yếu ra đời chủ nghĩa tư bản độc
quyền nhà nước. Nội dung chủ yếu của nó là sự liên kết chặt chẽ giữa các tổ
chức độc quyền với nhà nước tư sản về kinh tế và chính trị để chi phối trên tất cả
các mặt của quan hệ sản xuất, qua đó tăng sức mạnh của độc quyền và mở rộng
vai trò kinh tế của nhà nước tư sản, biến nhà nước tư sản thành người đại diện lợi
ích của các tổ chức độc quyền.
23
Sự biến đổi từ sở hữu độc quyền của tập thể các tư nhân sang sở hữu độc
quyền nhà nước là để thích ứng với yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất. Khi đã
đạt trình độ xã hội hóa cao, đòi hỏi phải có một lực lượng kinh tế mới là tư bản
độc quyền nhà nước điều hòa phối hợp quá trình sản xuất xã hội thông qua việc
nhà nước kế hoạch hóa sự phát triển các ngành kinh tế; nhà nước đầu tư vào
những ngành mà tư nhân không có khả năng đầu tư hoặc không muốn đầu tư
nhưng lại rất cần cho sự phát triển; nhà nước đại diện cho lợi ích các tổ chức độc
quyền trong quan hệ kinh tế quốc tế; nhà nước ban hành các chính sách nhằm ổn
định xã hội tạo điều kiện thuận lợi cho giai cấp tư sản phát triển, v.v
Xét về bản chất của sở hữu tư bản độc quyền nhà nước thì sở hữu của
nhà nước tư sản là sở hữu tập thể của toàn bộ giai cấp tư sản, sở hữu độc
quyền là sở hữu tập thể của tư nhân trong các tổ chức độc quyền. Khi chúng
xâm nhập vào nhau hình thành tư bản độc quyền nhà nước thì hoạt động của
nhà nước phụ thuộc vào các tổ chức độc quyền, phải phục tùng lợi ích của các
duy nhất này là: xóa bỏ chế độ tư hữu” [28, tr.447, 616].
Trong “Bản thảo kinh tế - triết học” năm 1844, C.Mác đã đề cập đến
những quan niệm khác nhau của một số trào lưu tư tưởng cộng sản chủ nghĩa
trước đây về vấn đề xóa bỏ chế độ sở hữu tư nhân. Trên quan điểm khách
quan khoa học, ông đã xem xét sự diệt vong của chế độ tư hữu do tính tất yếu
lịch sử của nó và vì thế, ông đã phê phán gay gắt “chủ nghĩa cộng sản thô lỗ”
khi họ chủ trương xóa bỏ tư hữu bằng chủ nghĩa bình quân. Theo C.Mác: với
chủ nghĩa bình quân, “chủ nghĩa cộng sản thô lỗ” chỉ là “hình thức biểu hiện
của sự ty tiện” của chế độ tư hữu. “Người ta thấy rõ điều đó chính là sự phủ
định một cách trừu tượng toàn bộ thế giới văn hóa và văn minh”. Bằng cách
đó, “con người không những không vượt lên trên trình độ của chế độ tư hữu
mà còn chưa đạt tới chế độ đó” [26, tr.126 - 127].
Khuyết tật lớn nhất của chế độ tư hữu đối với con người, theo cách lập
luận của C.Mác, là nó đã làm tha hóa con người. “Chế độ tư hữu đã làm cho
chúng ta ngu xuẩn và phiến diện đến nỗi một đối tượng nào đó chỉ là của
chúng ta khi nào chúng ta chiếm hữu nó, nghĩa là khi nó tồn tại đối với
chúng ta như là tư bản hoặc khi chúng ta trực tiếp chiếm hữu nó, ăn nó, uống
25