Đề án kinh tế thương mại Vũ Thị Thanh Thủy
Danh mục bảng biểu
Bảng 2.1 : Tình hình xuất khẩu cao su của Việt Nam.................................23
Bảng 2.2 : Thị phần cao su của Việt Nam...................................................27
Bảng 2.3 : Diện tích, năng suất và sản lượng trồng cao su phân theo địa
phương năm 2007......................................................................30
Bảng 2.4 : Lượng cao su xuất khẩu qua các tháng......................................31
1 1
Đề án kinh tế thương mại Vũ Thị Thanh Thủy
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày này xuất khẩu đã trở thành một hoạt động thương mại quan trọng
đối với mọi quốc gia cho dù đó là quốc phát triển hay đang phát triển. Đối với
một quốc gia đang phát triển như Việt Nam, hoạt động xuất khẩu thực sự có ý
nghĩa chiến lược trong sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế, tạo tiền đề
vững chắc cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Bởi vậy trong chính
sách kinh tế của mình, Đảng và Nhà nước đã nhiều lần khẳng định "coi xuất
khẩu là hướng ưu tiên và là trọng điểm của kinh tế đối ngoại" và coi đó là một
trong ba chương trình kinh tế lớn phải thực hiện.
Với đặc điểm là một nước nông nghiệp, 80% dân số hoạt động trong lĩnh vực
này, Việt Nam đã xác định Nông Sản là mặt hàng xuất khẩu và xuất khẩu
quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế, tạo nguồn thu cho ngân sách và
thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Cao su là một trong những mặt hàng Nông Sản được nhiều người tiêu dùng
biết đến về tính hấp dẫn khi sử dụng và tác dụng vốn có không chỉ ở Việt
Nam, đóng góp một tỷ trọng không nhỏ trong tổng kim ngạch xuất khẩu của
đất nước.
Sau hơn 10 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, xuất
khẩu cao su đã đạt được những thành tích đáng khích lệ, khối lượng và kim
ngạch tăng nhanh, đem về một khoản ngoại tệ lớn cho ngân sách Nhà nước,
hoá, dịch vụ từ quốc gia này sang quốc gia khác. Dưới góc độ marketing, xuất
khẩu được coi là một hình thức thâm nhập thị trường nước ngoài ít rủi ro và
chi phí thấp. Mục đích của hoạt động xuất khẩu là nhằm khai thác được lợi
thế so sánh của từng quốc gia trong phân công lao động quốc tế.
Nghị định 57/1998/NĐ-CP ban hành ngày 31/7/1998 có hiệu lực ngày
10/8/1998 quy định chi tiết thi hành Luật thương mại về hoạt động xuất khẩu,
nhập khẩu, gia công và đại lý mua bán với nước ngoài thì “Hoạt động xuất
khẩu, nhập khẩu hàng hoá là hoạt động mua, bán hàng hoá của thương nhân
Việt Nam với thương nhân nước ngoài theo các hợp đồng mua bán hàng hoá,
bao gồm cả hoạt động tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập và chuyển khẩu
hàng hoá.
Trên thực tế, hoạt động xuất khẩu diễn ra trên mọi lĩnh vực, dưới nhiều
hình thức khác nhau, từ hàng hoá tiêu dùng cho đến máy móc thiết bị, công
nghệ hay nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất……nhưng mục đích chính
cuối cùng của xuất khẩu cho dù dưới hình thức nào cũng đem lại lợi ích cho
quốc gia. Xuất khẩu là hoạt động không bị giới hạn về không gian hay thời
gian. Nó có thể diễn ra chỉ trong thời gian ngắn hay hàng thập kỉ, có thể chỉ
trong phạm vi lãnh thổ quốc gia hoặc có thể diễn ra ở nhiều quốc gia.
4 4
Đề án kinh tế thương mại Vũ Thị Thanh Thủy
Cao su cung là một loại hàng hoá, do vậy việc xuất khẩu nó một cách
tổng thể cũng như việc xuất khẩu bất kì một loại hang hoá nào khác: xuất
khẩu cao su là việc đưa mặt hàng cao su hay các sản phẩm từ cao su từ quốc
gia này sang quốc gia khác.
Cây cao su đã xuất hiện lâu đời ở Việt Nam và được xác định là cây
trồng có giá trị cao. Mặt khác phần lớn diện tích vùng Đông Nam Bộ và Tây
Nguyên nước ta rất thích hợp cho việc trồng loại cây này. Đây là lợi thế to lớn
của ngành cao su Việt Nam. Hiện nay, cao su tự nhiên là một trong những mặt
hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Do đó viêc thúc đẩy xuất
khẩu cao su trong điều kiện Việt Nam gia nhập WTO là hết sức cần thiết.
- Đàm phán trực tiếp
Tùy vào từng trường hợp mà doanh nghiệp có thể lựa chọn cách đàm
phán nào để phù hợp nhất và đạt hiệu quả cao nhất đối với doanh nghiệp
mình. Nhưng thông thường đầu tiên, người ta thường dùng các đàm phán qua
thư để thiết lập và duy trì mối quan hệ và đàm phán qua điện thoại để kiểm tra
những thông tin khi cần thiết. Còn với những hợp đồng giá trị lớn thì người ta
dùng cách đàm phán trực tiếp.
2.4. Thực hiện hợp đồng xuất khẩu
Hai bên làm các thủ tục để tiến hành xuất khẩu: Xin giấy phép xuất khẩu ,
chuẩn bị nguồn hàng, kiểm tra chất lượng hàng hóa, thuê tầu lưu cước, mua
bảo hiểm, làm thủ tục hải quan, giao nhận hàng với tàu, làm thủ tục thanh
toán
6 6
Đề án kinh tế thương mại Vũ Thị Thanh Thủy
3. Vai trò của xuất khẩu hàng hóa nói chung và cao su nói riêng.
3.1 Đối với nền kinh tế quốc dân:
3.1.1_Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu
Công nghiệp hoá đất nước theo những bước đi thích hợp là con đường tất
yếu để khắc phục tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, chậm phát triển ở nước ta. Để
CNH đất nước trong một thời gian ngắn đòi hỏi phải có một số vốn rất lớn để
nhập khẩu máy móc thiết bị, kĩ thuật, vật tư và công nghệ tiên tiến. Nguồn
vốn để nhập khẩu có thể được hình thành từ các nguồn như: liên doanh với
nước ngoài, vay nợ, viện trợ, tài trợ, thu từ hoạt động du lịch, dịch vụ, xuất
khẩu sức lao động.
Các nguồn vốn đầu tư nước ngoài vay nợ và viện trợ…..tuy quan trọng
nhưng rồi cũng phải trả bằng cách này hay cách khác ở thời kì sau. Nguồn
vốn quan trọng nhất để nhập nhẩu tiến hành CNH là từ xuất khẩu. Xuuất khẩu
quyết định đến qui mô và tốc độ tảng của nhập khẩu.
Nước ta thời kì 1986-1990, nguồn thu về xuất khẩu đảm bảo trên 55%
nhu cầu ngoại tệ cho nhập khẩu, tương tự như vậy, thời kì 1991-1995 và
cao năng lực sản xuất trong nước. Điều này muốn nói đến xuất khẩu là
phương tiện quan trọng tạo ra vốn và kỹ thuật, công nghệ từ thế giới bên
ngoài vào Việt Nam nhằm hiện đại hóa nền kinh tế của đất nước, tạo ra
một năng lực sản xuất mới.
- Thông qua xuất khẩu, hàng hóa của nước ta sẽ tham gia vào cuộc
cạnh tranh trên thị trường thế giới và giá cả chất lượng. Cuộc cạnh tranh này
đòi hỏi chúng ta phải tổ chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu sản xuất luôn
thích nghi được với thị trường
8 8
Đề án kinh tế thương mại Vũ Thị Thanh Thủy
3.1.3 Xuất khẩu có tác động tích cực đến việc giải quyết công ăn việc làm,
cải thiện đời sống của nhân dân:
Tác động của sán xuất đến đời sống bao gồm rất nhiều mặt. Trước hết sản
xuất hàng xuất khẩu là nơi thu hút hàng triệu lao động vào làm việc và có
thu nhập không thấp. Bên cạnh đó, xuất khẩu còn tạo ra nguồn vốn để nhập
khẩu những vật phẩm tiêu dùng thiết yếu giúp tái sản xuất ra sức lao động,
đồng thời đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng phong phú của nhân dân.
Tham gia vào hoạt động xuất khẩu không chỉ đơn thuần đem hàng hóa đến
với bạn bè thế giới, góp phần vào việc mở rộng khả năng tiêu dùng của nhận
loại mà còn mang bản sắc của dân tộc mình giới thiệu cho thế giới
3.1.4 Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối
ngoại của nước ta
Xuất khẩu thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại và làm cho nền kinh
tế quốc dân gắn chặt với sự phân công lao động quốc tế . Hoạt động xuất
khẩu ra đời sớm hơn các hoạt động kinh tế đối ngoại khác nên nó thúc đẩy
các quan hệ này phát triển chẳng hạn như xuất khẩu và sản xuất hàng xuất
khẩu thúc đẩy quan hệ tín dụng , đầu tư ,vận tải quốc tế …. Đến lượt mình
các quan hệ kinh tế đối ngoại lại tạo tiền đề cho mở rộng xuất khẩu
3.2 Đối với doanh nghiệp ngoại thương
Dưới góc độ vĩ mô của một nền kinh tế hoạt động xuất khẩu đem lại
lao động :
- Có thể khẳng định rằng, cho đến nay, trên vùng đất Đông Nam Bộ và
Tây Nguyên có ít cây công nghiêp nào mang lại hiệu quả kinh tế cao như cây
cao su. Theo tính toán, năm 2006, bình quân mỗi ha cao su đã đạt mức tổng
thu khoảng 46 triệu đồng (đối với khối quốc doanh), và khoảng 27 triệu đồng
10 10
Đề án kinh tế thương mại Vũ Thị Thanh Thủy
(đối với cao su tiểu điền), riêng của Tổng công ty Cao su Việt Nam đạt mức
bình quân hơn 50 triệu đồng/ha.
- Cây cao su gắn liền với việc làm và đời sống của hàng chục vạn nông
dân vùng Đông Nam Bộ và Tây Nguyên. Ngoài hiệu quả kinh tế như đã đuợc
ghi nhận, cây cao su còn góp phần giải quyết việc làm cho khoảng 110.000
lao động khối quốc doanh và trên 77.000 hộ nông dân tiểu điền. Những năm
gần đây, do thị trường và giá cả thuận lợi, năng suất lại gia tăng..., nên thu
nhập của người trồng cao su có nhiều cải thiện đáng kể; nhiều địa phương đã
sử dụng cây cao su như một giải pháp xóa đói giảm nghèo.
- Thực tế, tại các vùng trồng cây cao su, hệ thống giao thông vận
chuyển được đầu tư mới và nâng cấp nhiều, góp phần thay đổi bộ mặt nông
thôn, nhất là ở các vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới mới phát triển cây cao
su trong những năm gần đây.
3.3.2 Góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất, giúp cân bằng môi trường
sinh thái:
Việc phát triển cây cao su đã khai thác hiệu quả tiềm năng đất đai, bảo
vệ môi trường sinh thái. Thiên nhiên ưu đãi cho Việt Nam có nhiều vùng đất,
khí hậu thích hợp cho cây cao su. Tính đến nay, vừa tròn 110 năm cây cao su
được du nhập vào Việt Nam (1897) và 100 năm hình thành những đồn điền
kinh doanh (1907). Theo thống kê năm 1976, tổng diện tích cao su mới chỉ có
76.600 ha (riêng các tỉnh phía Bắc có khoảng 5.000 ha), với sản lượng 40.200
tấn. Năm 2005, cả nước đã có 480.000 ha, và đạt sản lượng 468.600 tấn mủ.
Riêng khối quốc doanh có khoảng 287.800 ha (chiếm 72,7%) và 380.500 tấn
12 12
Đề án kinh tế thương mại Vũ Thị Thanh Thủy
dạng, khác nhau về lứa tuổi, giới tính, mức thu nhập, nơi cư trú….Người ta có
thể căn cứ vào các tiêu thức khác nhau để phân chia khách hàng nói chung
thành các nhóm khách hàng khác nhau, như phân chia theo phạm vi địa lý thì
có khách hàng trong vùng, trong địa phương; trong nước, ngoài nước…Mỗi
nhóm có đặc trưng riêng, phản ánh quá trình mua sắm của họ và những đặc
điểm này sẽ là gợi ý quan trọng để doanh nghiệp đưa ra biện pháp phù hợp
thu hút khách hàng.
- Người cung ứng : là các tổ chức, doanh nghiệp cung ứng hàng hóa
dịch vụ cần thiết cho doanh nghiệp và các đối thủ cạnh tranh. Doanh nghiệp
phải xác định số lượng, chủng loại mặt hàng, sự lớn mạnh và khả năng cung
ứng của nguồn hàng trong hiện tại lẫn tương lai. Đây là yếu tố có ảnh hưởng
trực tiếp đến quá trình thực hiện hợp đồng xuất khẩu của doanh nghiệp, đặc
biệt trong hoạt động xuất khẩu cao su của Việt Nam. Vì thế, các doanh nghiệp
xuất khẩu cao su cần nắm rõ đặc điểm của những nguồn hàng , rồi trên cơ sở
đó tiến hành lựa chọn nguồn cung hàng tốt nhất về chất lượng, giá cả và sự ổn
định.
- Đối thủ cạnh tranh : là những đơn vị có mặt hàng giống như mặt hàng
của doanh nghiệp hoặc có khả năng thay thế lẫn nhau. Đây là yếu tố hết sức
phức tạp đối với doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa nói chung và xuất khẩu
cao su nói riêng. Nếu đối thủ cạnh tranh càng yếu, doanh nghiệp có cơ hội để
tăng giá bán và thu được nhiều lợi nhuận hơn. Ngược lại, khi các dối thủ cạnh
tranh hiện tại mạnh thì sự cạnh tranh cả về giá là đáng kể, mọi cuộc cạnh
tranh về giá cả đều dẫn đến những tổn thương. Việc hiểu rõ đối thủ cạnh tranh
của mình trong môi trường kinh doanh không phải là việc đơn giản , hơn nữa
lại là môi trường kinh doanh quốc tế cạnh tranh gay gắt, khốc liệt. Do vậy mà
kinh doanh quốc tế thường hàm chứa tính rủi ro cao.
13 13
Đề án kinh tế thương mại Vũ Thị Thanh Thủy
hẹp trong nội địa mà còn mở rộng ra cả thị trường quốc tế. Vì thế, doanh
nghiệp xuất khẩu phải đương đầu với ít nhất hai mức độ yếu tố không thể
kiểm soát được chúa không phải một như doanh nghiệp thương mại trong
nước.
4.2.1 Môi trường kinh tế
Thực trạng nền kinh tế và xu hướng trong tương lai có ảnh hưởng đến
thành công và chiến lược của một doanh nghiệp. Các nhân tố chủ yếu mà
nhiều doanh nghiệp thường phân tích là: tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế,
lãi suất, tỷ giá hối đoái và tỷ lệ lạm phát. Đây là các yếu tố tác động đến sức
mua của khách hàng và dạng tiêu dùng hàng hóa, chúng quy định cách thức
doanh nghiệp xuất khẩu cao su sử dụng các nguồn lực của mình.
4.2.2 Môi trường công nghệ
Đây là loại nhân tố có ảnh hưởng lớn, trực tiếp cho các chiến lược kinh
doanh của các lĩnh vực ngành cũng như nhiều doanh nghiệp .Thế kỷ XX là
thế kỷ của khoa học và công nghệ. Do đó việc phân tích, phán đoán sự biến
đổi công nghệ là rất quan trọng và cấp bách hơn bao giờ hết. Sự thay đổi của
công nghệ đương nhiên ảnh hưởng tới chu kỳ sống của một sản phẩm hay một
dịch vụ. Hơn nữa sự thay đối công nghệ cũng ảnh hưởng tới các phương pháp
sản xuất, nguyên vật liệu cũng như thái độ ứng xử của người lao động. Kỹ
thuật và công nghệ là cơ sở cho yếu tố kinh tế, bao gồm các yếu tố về cơ sở
vật chất kỹ thuật của nền kinh tế quốc dân, tiến bộ kỹ thuật và khả năng ứng
dụng kỹ thuật trong hoạt động kinh doanh, chiến lược phát triển kỹ thuật,
công nghệ của nền kinh tế .
15 15
Đề án kinh tế thương mại Vũ Thị Thanh Thủy
4.2.3 Môi trường văn hóa – xã hội
Nhân tố này ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc sống và hành vi của con người,
qua đó, ảnh hưởng tới hành vi mua sắm của khách hàng , gồm : dân số và xu
hưống vận động , các hộ gia đình và xu hướng vận động , sự di chuyển của
dân cư … Doanh nghiệp cũng phải tính đến thái độ tiêu dùng , sự thay đổi của
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU CAO SU CỦA
17 17
Đề án kinh tế thương mại Vũ Thị Thanh Thủy
VIỆT NAM
1. Khái quát về tình hình sản xuất, chế biến và xuất khẩu cao su của
Việt Nam.
1.1. Đặc điểm của cao su.
Cao su (danh pháp khoa học: Hevea brasiliensis), là một loài cây thân
gỗ thuộc về họ Đại kích (Euphorbiaceae) và là thành viên có tầm quan trọng
kinh tế lớn nhất trong chi Hevea. Nó có tầm quan trọng kinh tế lớn là do chất
lỏng chiết ra tựa như nhựa cây của nó (gọi là nhựa mủ-latex) có thể được thu
thập lại như là nguồn chủ lực trong sản xuất cao su tự nhiên.
Cao su là một loại vật liệu polime vừa có độ bền cơ học cao và khả năng biến
dạng đàn hồi lớn.
Có hai loại cao su: Cao su tự nhiên và cao su tổng hợp.
- Cao su tự nhiên hay cao su thiên nhiên là loại vật liệu được san xuất
trực tiếp từ mủ cây cao su
- Cao su tổng hợp là những vật liệu polime tương tự cao su thiên nhiên,
do con người điều chế từ các chất hữu cơ đơn giản, thường bằng phản
ứng trùng hợp. Cao su tổng hợp là một sản phẩm từ quá trình craking
dầu mỏ, do đó, giá cả cao su tổng hợp phụ thuộc rất nhiều vào giá
dầu mỏ.
Theo hệ thống phân loại Hài Hoà (HS), cao su tự nhiên (4001) được chia
thầnh các phân nhóm chủ yếu sau:
- 4001.10: Mủ cao su tự nhiên, đã hoặc chưa tiền lưu hoá, được sử
dụng để sản xuất bao tay, bong bóng…
Mủ cao su được chia làm hai loại: Loại có hàm lượng Amoniac thấp và loại
có hàm lượng Amoniac cao.
Đề án kinh tế thương mại Vũ Thị Thanh Thủy
- SVR : Cao su tiêu chuẩn Việt Nam, có các loại SVR3L, SVR5L,
SVR10L, SVR20L,SVR50,60
Sau khi khai thác, mủ cao su tươi có thể được bán trực tiếp cho nhà máy chế
biến. Giá trị được tính theo hàm lượng cao su khô của mủ tươi. Vì thế, việc
bán cao su tươi yêu cầu phải xác định DRC. DRC bị ảnh hưởng bởi giống cây,
tuổi cây và thời gian thu hoạch trong năm.
Cao su đang là mặt hàng nông sản xuất khẩu lớn thứ ba của Việt Nam
sau gạo và cà phê. Thế nhưng chính thành tích này cũng đang đặt ngành cao
su Việt Nam đối diện với nhiều khó khăn, thách thức.
1.2. Tình hình sán xuất, chế biến và xuất khẩu cao su của Việt Nam.
Tại Việt Nam, sản xuất và xuất khẩu cao su có tốc độ phát triển mạnh
trong những năm gần đây. Hiện Việt Nam xuất khẩu cao su đến 40 nước và
vùng lãnh thổ trên thế giới với thị trường xuất khẩu lớn nhất là Trung Quốc
(chiếm tới 64% lượng xuất khẩu), tiếp theo là Singapore, Hàn Quốc, Đài
Loan, Đức, Hoa Kỳ… Từ năm 1995, số lượng cao su thiên nhiên Việt Nam
xuất khẩu sang Trung Quốc khá lớn và có sự tăng vọt từ năm 2005 đến nay.
Sở dĩ vì nhu cầu cao su thiên nhiên của Trung Quốc là 1,7 triệu tấn/năm, trong
khi sản xuất không đáp ứng nổi nhu cầu phát triển của ngành công nghiệp chế
biến. Các cơ quan quản lý kỳ vọng nhiều vào sự tăng trưởng ở giá trị , bởi dự
báo giá cao su trên thế giới vẫn duy trì ở mức tăng cao, do sản lượng trên thế
giới thâm hụt nhiều. Theo khuyến cáo của Bộ Công Thương, để tránh việc bị
chi phối do tập trung quá lớn vào thị trường Trung Quốc, các DN xuất khẩu
cao su nên khai thác, đẩy mạnh xuất khẩu sang các thị trường khác. Theo số
liệu của Tổng cục Hải quan, xuất khẩu cao su năm 2007 có mức tăng trưởng
rất lớn vào thị trường Nga, đặc biệt về giá, ví dụ loại cao su SVR tăng tới 165
USD/tấn, Thổ Nhĩ Kỳ tăng trên 130 USD/tấn, tiếp theo mới là Trung Quốc
khoảng trên 70 USD/tấn, Nhật Bản tăng 64 USD/tấn…
20 20
Đề án kinh tế thương mại Vũ Thị Thanh Thủy
xuất khẩu đạt 522 ngàn tấn nhưng kim ngạch xuất khẩu chỉ đạt 165 triệu
USD. Tuy nhiên trong thời gian gần đây, giá xuất khẩu cao su tự nhiên ngày
càng tăng và kim ngạch xuất khẩu năm 2006 đã vượt mốc 1 tỷ USD. Với tốc
độ tăng trưởng 30.6% về kim ngạch xuất khẩu, Việt Nam đã trở thành nước
đứng thứ tư thế giới về xuất khẩu cao su. Cao su là một trong những nông sản
đóng góp một tỷ trọng không nhỏ trong tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản
Việt Nam.
Hai tháng đầu năm 2008, xuất khẩu cao su của cả nước đạt 82,7 ngàn
tấn, trị giá gần 190 triệu USD, giảm 15,92% về lượng, nhưng lại tăng 14,28%
về trị giá so với hai tháng đầu năm 2007.
Bảng2.1 : Tình hình xuất khẩu cao su của Việt Nam
Năm Khối lượng
xuất khẩu
( tấn )
Kim ngạch
xuất khẩu
( 1000USD )
Giá xuất khẩu
bình quân
( USD/tấn )
2001 495 156841 316.6
2002 522 165073 315.7
2003 449 267832 597
2004 433 377864 872
2005 513 578877 1163
2006 587 804126 1369
2007 717 1306886 1822
Đáng chú ý trong tháng 2/2008, xuất khẩu cao su SVR CV50 tăng rất
mạnh, tăng từ 73 tấn cùng kỳ năm 2006 lên 1,14 ngàn tấn. Loại cao su này
được xuất chủ yếu sang thị trường Nhật Bản, Đức, Mỹ, Hàn Quốc, Italia, với
lượng xuất khẩu.
- Mủ tờ xông khói (RSS – HS400121) chiếm khoảng 1,4% khối lượng
xuất khẩu.
23 23
Đề án kinh tế thương mại Vũ Thị Thanh Thủy
- Cao su Crepe ( HS400129) chiếm khoảng 0,2%
Thời gian qua, cao su Việt Nam chủ yếu được xuất khẩu dưới dạng
SVR3L, SVR5L và một số mủ tờ RSS, Crepe…trong đó loại SVR5L và
SVR3L chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu mặt hàng xuất khẩu.
Bên cạnh đó, các loại cao su như SVR10, SVR20, RSS, Crepe đang
dược ưa chuộng trên thị trường thế giới thì Việt Nam chỉ sản xuất được một
khối lượng hạn chế. Mủ cao su SVR10, SVR20 có nhu cầu nhập khẩu cao tại
các thị trường như Ba Lan, Italia, Tây Ban Nha, Hoa Kì…nhưng do cao su
Việt Nam chưa đáp ứng được nên lượng cao su xuất khẩu chỉ chiếm một tỷ lệ
nhỏ.
Cơ cấu chủng loại là một trong những nguyên nhân chính khiến cao su
Việt Nam phụ thuộc quá nhiều vào thị trường Trung Quốc, điều đó cũng gây
bất lợi cho cao su tự nhiên Việt Nam trong viêc mở rộng thị trường theo cả
chiều sâu lẫn chiều rộng. Vì vậy, Việt Nam chỉ có thể đa dạng hoá thị trường
nếu các doanh nghiệp đa dạng hoá chủng loại sản phẩm vì nhiều chủng loại
sản phẩm hiện nay chỉ có thể tiêu thụ tốt ở thị trường Trung Quốc.
2.2.2. Giá thành sản xuất
Mặc dù năng suất mủ cao su còn thấp nhưng do nguồn lực lao động dồi
dào, chi phí lao động thấp cùng với việc áp dụng các biện pháp canh tác đơn
giản nên giá thành sản xuất cao su của Việt Nam tương đối thấp hơn so với
các nước trong khu vực. Điều này cho thấy rằng Việt Nam cũng là nước có lợi
thế tương đối về chi phí giá thành trong việc sản xuất cao su. Tuy nhiên trong
những năm gần đây, giá thành sản xuất cao su của Việt Nam cũng đã tăng so
với các năm trước đây.
24 24