LUẬN VĂN:
Thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của
công ty TMCP Gia Phú sang thị
trường Đài Loan
góp một số ý kiến nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu hàng hóa ra nước ngoài của
công ty TMCP Gia Phú nói riêng và Việt Nam nói chung. 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài:
2.1.Mục đích nghiên cứu đề tài:
Nghiên cứu hoạt động xuất khẩu hàng hóa của công ty TMCP Gia Phú ra
nước ngoài, trọng điểm là thị trường Đài Loan.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài:
Để thực hiện được mục đích trên, đề tài cần phải thực hiện các nhiệm vụ sau
đây:
- Hệ thống hóa những vấn đề lí luận về xuất khẩu
- Phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động xuất khẩu hàng hóa sang thị
trường Đài Loan của công ty TMCP Gia Phú, từ đó rút ra những thành công và
những mặt tồn tại, hạn chế cũng như nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế đó.
- Từ định hướng của xuất khẩu hàng hóaViệt Nam và của công ty TMCP Gia
Phú, dự báo những cơ hội và thách thức của công ty Gia Phú khi xuất khẩu hàng
hóa sang thị trường Đài Loan, mở rộng sang thị trường Đông Nam Á, trên cơ sở đó
đưa ra các giải pháp kiến nghị nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu hàng hóa của
công ty.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài:
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu hàng
tiêu dùng của công ty Gia Phú sang thị trường Đài Loan.
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT
KHẨU HÀNG KHÓA VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG
XUẤT KHẨU CỦA CT TMCP GIA PHÚ
1.1/ MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG VỀ XUẤT KHẨU:
1.1.1 Khái niệm:
Xuất khẩu hay xuất cảng, trong lý luận thương mại quốc tế là việc bán
hàng hóa và dịch vụ cho nước ngoài, trong cách tính toán cán cân thanh toán quốc
tế theo IMF là việc bán hàng hóa cho nước ngoài. Theo điều 28, mục 1, chương 2
luật thương mại việt nam 2005, xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra
khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ việt nam
được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật.
Hoạt đông xuất khẩu chính là hình thức cơ bản của hoạt động ngoại
thương xuất hiện từ lâu và đang ngày càng phát triển mạnh mẽ.
Hoạt động xuất khẩu khác với hoạt động buôn bán trao đổi hàng hóa
trong nước. Nếu như với buôn bán nội địa, hàng hóa được vận chuyển trong phạm
vi quốc gia, đông tiền thanh toán chủ yếu là đông nội tệ của quốc gia đó, các bên
chủ thể tham gia hoạt động này có chung quốc tịch thì ngược lại, với hoạt đông xuất
khẩu, hàng hóa sẽ được vận chuyển qua biên giới giữa các quốc gia, đồng thời đồng
tiền thanh toán là ngoại tệ của một hoặc cả hai bên tham gia, các bên chủ thế phải
có quốc tịch của hai quốc gia khác nhau.
điều kiện đó là: nguồn nhân lực, vốn, tài nguyên, kỹ thuật công nghệ. Nhưng hầu
hết với các quốc gia đang phát triển (như Việt Nam hiện nay ) đều thiếu vốn và kỹ
thuật công nghệ. Do vậy vấn đề đặt ra là làm thế nào để có vốn và công nghệ?
- Xuất khẩu tạo nguồn vốn cho nhập khẩu, phục vụ công cuộc công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước.
Đối với những quốc gia đang phát triển thì bước đi thích hợp nhất là công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước để khắc phục tình trạng nghèo làn, lạc hậu, chậm
phát triển. Tuy nhiên, quá trình này phải có một lượng vốn lớn để nhập khẩu công
nghệ thiết bị tiên tiến.
Trên thực tế, để có nguồn vốn nhập khẩu một quốc gia có thể sử dụng nguồn
vốn huy động chính như sau:
+ Đầu tư nước ngoài, vay nợ các nguồn viện trợ nước ngoài.
+ Thu từ các hoạt động du lịch, dịch vụ thu ngoại tệ trong nước.
+ Thu từ hoạt động xuất khẩu.
Tầm quan trọng của vốn đầu tư nước ngoài thì không một ai có thể phủ
nhận được, song việc huy động chúng không phải là điều rễ dàng. Sử dụng nguồn
vốn này, các nước đi vay đều phải chịu thiệt thòi và chịu một số điều kiện bất lợi và
sẽ phải trả sau này.
Bởi vì vậy xuất khẩu là một hoạt động tạo ra nguồn vốn quan trọng nhất.
Xuất khẩu tạo tiền đề cho nhập khẩu, nó quyết định đến qui mô tốc độ tăng trưởng
của hoạt động nhập khẩu. Ở một số nước, một trong những nguyên nhân chủ yếu
của tình trạng kém phát triển là do thiếu tiềm năng về vốn, do đó họ cho rằng nguồn
vốn ở bên ngoài là chủ yếu, song mọi cơ hội đầu tư vay nợ và viện trợ của nước
ngoài chỉ thuận lợi khi chủ đầu tư và người cho vay thấy được tiềm năng sản xuất
và xuất khẩu – nguồn vốn duy nhất để trả nợ thành hiện thực .
- Xuất khẩu thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển
Dưới tác động của xuất khẩu, cơ cấu sản xuất và tiêu dùng của thế giới đã,
đang và sẽ thay đổi một cách mạnh mẽ. Xuất khẩu làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế
của các quốc gia từ nông nghiệp chuyển sang công nghiệp và dịch vụ.
toán, xuất khẩu luôn góp phần làm tăng dự trữ ngoại tệ một quốc gia. Đặc biệt, với
các nước đang phát triển, đồng tiền không có khả năng chuyển đổi thì ngoại tệ có
được nhờ xuất khẩu đóng vai trò quan trọng trong việc điều hoà về cung cấp ngoại
tệ, ổn định sản xuất, qua đó góp phần vào tăng trưởng và phát triển nền kinh tế.
- Xuất khẩu có tác động tích cực tới việc giải quyết công ăn việc làm, cải
thiện đời sống cho nhân dân. Với công ăn việc làm, xuất khẩu thu hút được hàng triệu lao động thông
qua việc sản xuất hàng xuất khẩu. Mặt khác, xuất khẩu tạo ra ngoại tệ để nhập khẩu
hàng tiêu dùng đáp ứng yêu cầu sản phẩm ngày càng đa dạng và phong phú của
nhân dân.
- Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy sự phát triển mối quan hệ
kinh tế đối ngoại.
Xuất khẩu và các mối quan hệ kinh tế đối ngoại, ngoại giao có tác động
qua lại và phụ thuộc lẫn nhau. Hoạt động xuất khẩu trên cơ sở là tiền đề vững chắc
để xây dựng các mối quan hề kinh tế đối ngoại trong tương lai, từ đó kéo theo các
mối quan hệ khác như phát triển du lịch quốc tế, bảo hiểm quốc tế, tín dụng quốc
tế… Ngược lại, sự phát triển của các ngành này lại tác động trở lại hoạt động xuất
khẩu làm cơ sở hạ tầng cho hoạt động xuất khẩu phát triển.
Có thể nói, xuất khẩu nói riêng và hoạt động thương mại quốc tế nói
chung sẽ dẫn tới những sự thay đổi trong sinh hoạt tiêu dùng hàng hoá của nền kinh
tế bằng hai cách:
+ Khối lượng hàng tiêu dùng nhiều hơn với số hàng hoá được sản xuất ra.
+ Kéo theo sự thay đổi có lợi và phù hợp với các đặc điểm của sản xuất.
Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng quốc gia mà các tác
động của xuất khẩu đối với các quốc gia khác nhau là khác nhau.
1.1.3.2 Vai trò của xuất khẩu đối với doanh nghiệp
Với sự bùng nổi của nền kinh tế toàn cầu thì xu hướng vươn ra thị trường
quốc tế là một xu hướng chung tất yếu của tất cả các quốc gia và các doanh nghiệp
1.2/ GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ CT TMCP GIA PHÚ
Công ty cổ phần thương mại GIA PHÚ
- Tên công ty:
Tên bằng tiếng Việt: Công ty Cổ phần Thương mại Gia Phú
Tên bằng tiếng Anh: Gia Phu Trading joint Stock Company
Tên viết tắt: Giaphu, JSC
- Trụ sở chính của Công ty:
Trụ sở:Phòng 601,lô 5, ô D, khu đô thị mới Cầu giấy, phường Dịch Vọng
Hậu, quận Cầu Giấy, TP Hà Nội
Điện thoại: 04- 62690521
Công ty xuất nhập khẩu Gia Phú được thành lập tháng 01/2005 với hi vọng
mang lại nguồn lợi nhuận từ hoạt động xuất nhập khẩu, tạo nguồn thu nhập ổn định
cho cán bộ công nhân viên.
Công ty có quyền tự chủ về tài chính, có tư cách pháp nhân được mở tài khoản
tại ngân hàng, được sử dụng con dấu riêng theo thể thức Nhà nước quy định.
Công ty Gia Phú với các hoạt động chủ yếu là xuất khẩu các mặt hàng tiêu
dùng sang thị trường Đài Loan.
Cơ cấu tổ chức
- Quy mô công ty: 60 người
- Cơ cấu tổ chức của Công ty bao gồm:
Đại hội đồng cổ đông
Hội đồng quản trị
Thông qua hoạt động xuất nhập khẩu công ty đẩy mạnh và phát triển quan hệ
thương mại, hợp tác đầu tư và các hoạt động khác có liên quan đến kinh tế đối ngoại
với các tổ chức kinh tế Việt Nam và nước ngoài. Đặc biệt là với Đài Loan, Công ty
hoạt động theo pháp luật của nước CHXHCN Việt Nam và những quy định riêng
trong toàn công ty.
Xây dựng và tổ chức thực hiện các kế hoạch kinh doanh của Công ty theo quy
chế pháp luật hiện hành để thực hiện mục đích và nội dung hoạt động của công ty.
Tuân thủ các chính sách, chế độ, pháp luật của Nhà nước về quản lý kinh tế tài
chính, quản lý xuất nhập khẩu. Trong giao dịch đối ngoại thực hiện nghiêm chỉnh
các cam kết hợp đồng kinh tế mà công ty đã ký. Trực tiếp xuất nhập khẩu hàng hóa
giữa nước ta với Đài Loan cùng một số nước khác, Nhận ủy thác xuất nhập khẩu và
nhận làm các dịch vụ thuộc phạm vi kinh doanh của Công ty theo yêu cầu của
khách hàng trong và ngoài nước.
Quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực nhằm mục đích thực hiện tốt
các nhiệm vụ kinh doanh của Công ty.
Nghiên cứu và thực hiện có hiệu quả các biện pháp nâng cao chất lượng hàng
hóa, nâng cao sức cạnh tranh và mở rộng thị trường tiêu thụ.
Góp phần tăng nguồn thu ngoại tệ.
+ Quyền hạn của công ty.
Công ty Thương mại Cổ phần Gia Phú là một doanh nghiệp độc lập, có tư
cách pháp nhân, thứ hai là có tài sản riêng, thứ ba tự chịu trách nhiệm độc lập về
hoạt động kinh doanh bằng tài sản của mình, thứ tư khi tham gia vào các quan hệ
kinh tế với tư cách là nguyên đơn hoặc bị đơn trước các cơ quan tài phán. Do vậy
được quyền chủ động giao dịch, đàm phán ký kết và thực hiện các hợp đồng kinh tế,
hợp đồng mua bán ngoại thương và các văn bản hợp tác liên doanh liên kết với
khách hàng, đối tác trong và ngoài nước.
Được vay vốn trong và ngoài nước, được thực hiện liên doanh hợp tác sản
xuất với các tổ chức kinh tế thuộc các thành phần kinh tế ở trong nước và ngoài
nước phù hợp với quy chế của pháp luật hiện hành của nhà nước.
0
C, mùa đông, tháng Giêng là 18
0
C; lượng mưa
trung bình hàng năm 2.540mm. có động đất và thường xuyên có bão.
Kinh tế - Công nghiệp chiếm 33%, nông nghiệp: 3% và dịch vụ: 64%.
Kinh tế Đài Loan liên tục trong vòng hơn 40 năm phát triển với tốc độ nhanh
và ổn định, trở thành điển hình kinh tế trong số các nước đang phát triển trên thế
giới, đồng thời được cộng đồng quốc tế tặng cho danh hiệu “kỳ tích Đài Loan”. Sự
phát triển của nền kinh tế Đài Loan không chỉ giới hạn ở ngành chế tạo các sản
phẩm công nghệ cao mà còn ở lĩnh vực cải cách kỹ thuật trong các ngành nghề
truyền thống và khả năng áp dụng công nghệ tiên tiến.
Nền kinh tế năng động, được coi là một con Rồng ở Đông á. Tài nguyên
nghèo nàn: có than đá (trữ lượng nhỏ), khí tự nhiên, đá vôi, đá cẩm thạch, a-mi-
ăng; sản xuất công nghiệp chủ yếu là hàng điện tử, hàng dệt, hoá chất, quần áo,
thực phẩm, gỗ dán, xi măng; sản xuất điện năng 133,6 tỷ kWh, sử dụng 124,3 tỷ
kWh. Nông nghiệp sản xuất gạo, ngô, đậu, rau, chè, thịt lợn, gia cầm, thịt bò, sữa,
cá; xuất khẩu 121,6 tỷ USD, nhập khẩu 101,7 tỷ USD; nợ nước ngoài: 35 tỷ USD.
Các mặt hàng xuất khẩu là máy móc và thiết bị điện, các sản phẩm điện tử, các sản
phẩm dệt, hoá chất, luyện kim. Các mặt hàng nhập khẩu: máy móc và các thiết bị
điện, các sản phẩm điện tử, hoá chất và các dụng cụ chính xác.
Hệ thống hạ tầng rất phát triển: có 38 sân bay, nhiều cảng lớn, đường bộ,
đường ống dẫn dầu dài 3.400km, khí đốt 1.800km; có 2.481 km đường sắt, 1/4 đã
điện khí hoá; tăng trưởng GDP hàng năm 8,5%, tỷ lệ thất nghiệp thấp, dự trữ
ngoại tệ đứng thứ ba thế giới. Các ngành công nghiệp truyền thống dùng nhiều lao
động đang được chuyển ra nước ngoài và thay thế bằng các ngành dùng nhiều vốn
và công nghệ. Do quản lý chặt chẽ về tài chính và tính năng động nên Đài Loan đã
tránh được cuộc khủng hoảng tài chính khu vực năm 1998.
Văn hoá - xã hội - Số người biết đọc, biết viết đạt 94%.
sản phẩm dùng hàng ngày như kem đánh răng, xà bông, bột giặt, nước tinh khiết
vv cũng là những mặt hàng xuất khẩu có thị phần trong thị trường này.
Ngoài ra, với nguồn lao động nước ngoài tại Đài Loan một phần không nhỏ
là lao động đến từ Việt Nam thì nhu cầu dùng hàng Việt càng được đây mạnh.
1.4/ NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU
HÀNG HÓA CỦA VIỆT NAM VÀO THỊ TRƯỜNG ĐÀI LOAN
1.4.1 Nhân tố vĩ mô:
* Chính trị và pháp luật:
Việt Nam, với một nền chính trị luôn ổn định đã tạo điều kiện tốt nhất cho
các doanh nghiệp tham gia hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên Đài Loan lại là một đất
nước có tình hình chính trị rắc rối liên quan tới Trung Quốc. Việc khẳng định chủ
quyền của Trung Hoa Dân Quốc hiện đang làm mối quan hệ giữa Đài Loan- Trung
Quốc ấm dần lên, và quan hệ này ảnh hưởng không nhỏ tới việc kinh doanh thương
mại của các nước đối với Đài Loan và Trung Quốc. Tuy vậy CT TMCP Gia Phú lại
là một đơn vị lấy thị trường trọng tâm là Đài Loan và ít có mối liên hệ với thị
trường Trung Quốc, nên ảnh hưởng này là không rõ ràng.
* Chính sách thuế quan và phi thuế quan:
Hệ thống thuế quan và phi thuế quan ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động
xuất nhập khẩu. Thuế xuất khẩu và nhập khẩu mà doanh nghiệp phải chịu sẽ gây
ảnh hưởng tới mức giá của sản phẩm xuất khẩu và lợi nhuận thu được từ hoạt động
xuất khẩu.
Với các mặt hàng xuất khẩu, công ty phải chịu một khoản thuế xuất khẩu
nhất định như với cafe gói hòa tan là 40%, rượu 56%, Ngoài ra mức thuế nhập
khẩu trung bình vào Đài Loan nằm trong khoảng từ 8,25% tới 32,5 %.
* Hệ thống ngân hàng tài chính:
Việc thanh toán hợp đồng giữa CT TMCP Gia Phú và các công ty phía Đài
Loan thường được thực hiện bởi ngân hàng BIDV của Việt Nam và The bank of
1.5/ SỰ CẦN THIẾT PHẢI THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU HÀNG HÓA CT VÀO
ĐÀI LOAN
1.5.1 Nhu cầu về hàng hóa của Đài Loan ngày càng lớn:
Hàng hóa Việt Nam về chất lượng cũng như giá cả luôn rất hợp lý và phù
hợp với người tiêu dùng Châu Á. Không những thế, sự phát triển về khoa học kỹ
thuật giúp cho hàng hóa VIệt Nam ngày càng có chất lượng tốt hơn, vì vậy nhu cầu
về hàng hóa Việt Nam của Đài Loan ngày càng tăng. Ngoài ra, một lượng lớn lao
động Việt Nam đang tham gia lao động tại thị trường này luôn ưu chuộm và chung
thành với các sản phẩm của nước nhà. Do đó, việc thúc đẩy xuất khẩu hoàng hóa
vào Đài Loàn là việc làm cần thiết.
1.5.2 Những lợi thế xuất khẩu của công ty TMCP Gia Phú:
CT TMCP Gia Phú là một công ty nhỏ, với vốn đầu tư tư nhân, thành lập
năm 2005, do đó CT TMCP Gia Phú là một công ty trẻ và luôn được nhà nước quan
tâm. Các chính sách đãi ngộ đối với các công ty nhỏ và lẻ của nước ta hiện này là
khá tốt, đặc biệt là chính sách tài chính tiền tệ. Ngoài ra, với lợi thế có nhiều bạn
hàng quen và sẵn có nên tình hình hoạt động kinh doanh của công ty luôn ổn định
và đang trên đà đi lên.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU HÀNG TIÊU DÙNG CỦA CT
GIA PHÚ SANG THỊ TRƯỜNG ĐÀI LOAN: 2.1/ PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU HÀNG TIÊU DÙNG CỦA CT
TMCP GIA PHÚ SANG THỊ TRƯỜNG ĐÀI LOAN:
2.1.1 Tình hình xuất khẩu của CT trong thời gian qua
Trong suốt những năm vừa qua kể từ ngày Công ty Thương mại Cổ phần Gia
bước thâm nhập thị trường mới, củng cố thị trường truyền thống, đặc biệt trong
cuộc khủng hoảng tài chính 2008 vừa qua kim ngạch xuất nhập khẩu của công ty
ít bị ảnh hưởng mạnh, các hoạt động kinh doanh và dịch vụ ngày càng phong
phú, cơ cấu mặt hàng đa dạng và có khả năng chiếm lĩnh thị trường cao. Để thấy
rõ được sự tăng trưởng và phát triển của công ty TMCP Gia Phú trong những
năm qua, chúng ta cùng xem xét và nghiên cứu tình hình hoạt động sản xuất kinh
doanh của công ty.
2.1.1.1 Tình hình hoạt động kinh doanh xuất khẩu trong những năm gần đây
2.1.1.1.1 Tình hình tài chính công ty
Yếu tố cơ bản đối với mỗi doanh nghiệp khi bắt đầu hoạt động kinh doanh
chính là vốn. Tùy thuộc vào khả năng tài chính mà các chủ thể kinh doanh tự chọn
cho mình một đối tượng sản xuất, kinh doanh phù hợp. Nguồn vốn cũng là yếu tố có
ảnh hưởng lớn tới việc doanh nghiệp lựa chọn và áp dụng loại công nghệ và ngành
nghề, quy mô tham gia. Công ty huy động nguồn vốn dựa trên việc phát hành cổ
phần, huy động vốn trong nội bộ công ty để đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh,
cùng với sự phát triển của xã hội, và để cạnh tranh có hiệu quả các doanh nghiệp
luôn phải đầu tư cải tiến kỹ thuật, công nghệ, tay nghề, trình độ quản lý, tăng cường
các hình thức quảng cáo, marketing
Công ty Thương mại Cổ phần Gia Phú ra đời trong thời kỳ hội nhập. Là một chủ thể
kinh tế có tư cách pháp lý đầy đủ, thực hiện hoạch toán độc lập với số vốn ban đầu
là 20.370.900.000 Việt Nam đồng. Do đặc điểm của công ty lấy trọng tâm là kinh
doanh xuất khẩu nên việc phân bổ nguồn vốn của công ty chủ yếu là vốn lưu động,
nó chiếm một tỷ lệ khá lớn 68% (năm 2005) giá trị tài sản. Vốn cố định chiếm một
tỷ lệ thấp 32% (năm 2005) trong công ty phân bổ cho toàn bộ công ty dùng để xây
dựng cơ sở hạ tầng, mỗi đơn vị thuộc công ty đều có trách nhiệm tự quản lý và bảo
quản.
Trong quá trình phát triển, nguồn vốn của công ty luôn được mở rộng và phát triển
cả về vốn cố định và vốn lưu động.
14.530.680
15.560.50
0
17.455.70
0
18.500.000
4 Vốn công ty tự bổ sung
1.739.90
0 Nguồn: Báo cáo tình hình tài chính và nguồn vốn hàng năm của Công ty
0
5000000
10000000
15000000
20000000
2006 2007 2008 2009 2010
Vốn cố định Vốn lưu động
Biểu đồ 2.1: Thể hiện khả năng tài chính của công ty từ 2006-2010
Kim ngạch
Xuất khẩu
1,243 1,571 1,857 2,142 2,714
Nguồn: Báo cáo tổng kết hàng năm của Công ty
0
500
1,000
1,500
2,000
2,500
3,000
2006 2007 2008 2009 2010
Kim ngạch xuất khẩu
Biểu đồ 2.2: Thể hiện kim ngạch xuất khẩu của công ty từ 2006-2010
Qua bảng thống kê kim ngạch xuất nhập khẩu của công ty trong những năm
vừa qua kim ngạch xuất khẩu của công ty luôn tăng, thấp nhất là tăng 15,3% trong
năm 2009 cao nhất là 2010 tăng 26,7%. Trong hoàn cảnh nước ta hiện nay là một
nước đang phát triển với trình độ khoa học công nghệ chưa đáp ứng được và theo
kịp với sự phát triển của thế giới, sức cạnh tranh của hàng hóa nước ta còn kém vì
vậy việc chiếm lĩnh thị trường là một việc hết sức khó khăn. Việc kim ngạch xuất
khẩu ngày càng tăng là điều đáng khích lệ, chứng tỏ được sự lớn mạnh trong việc
phát triển thị trường.
2.1.1.1.2.2 Cơ cấu thị trường xuất khẩu:
Bảng số 2.3 :Thị trường xuất nhập khẩu của Công ty từ 2006-2010
Thị trường
Năm (đơn vị %)
2006 2007 2008 2009 2010
kể thì tới năm 2010 kim ngạch xuất khẩu của công ty sang thị trường này đã lên tới
10% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn công ty. Có thể thấy tầm nhìn nắm bắt thị
trường của công ty luôn nhanh nhạy là hợp lý. Việc lựa chọn một thị trường phát
triển tiềm năng để tiếp tục đẩy cao kim ngạch xuất khẩu là vấn đề cần được quan
tâm hiện nay.
2.1.1.1.2.3 Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu:
Trong các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của công ty thì chủ yếu là các mặt hàng