Khoa QTDN Thương mại Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Qua 10 năm đổi mới, nền kinh tế nước ta đã có những chuyển biến và
đạt được những thành tựu quan trọng. Tuy nhiên, đến nay nước ta vẫn là một
nước nông nghiệp lạc hậu, công nghiệp còn nhỏ bé. Muốn đạt được mục tiêu
dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh tất yếu phải đẩy tới bước
mới CNH - HĐH. Công nghiệp hoá là thực chất xây dựng cơ sở vật chất kỹ
thuật của XHCN. Đó không chỉ là tăng nhanh tốc độ và tỷ trọng của sản xuất
công nghiệp trong GDP mà còn là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn
với đổi mới cơ bản về kỹ thuật và công nghệ, hiện đại hoá các ngành kinh tế
quốc dân , tạo cơ sở cho sự tăng trưởng nhanh , đạt hiệu quả cao và lâu dài
của toàn bộ nền kinh tế quốc dân .
Chúng ta đều biết rằng, hoạt động xuất khẩu có vai trò hết sức quan trọng đối
với sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Đối với Việt Nam, xuất khẩu hàng
hoá đang trở thành một vấn đề hết sức cấp thiết cho sự nghiệp công nghiệp
hoá - hiện đại hoá đất nước, cũng như góp phần nâng cao đời sống nhân dân.
Thông qua hoạt động xuất khẩu, Việt Nam có thể tận dụng được các tiềm
năng sẵn có để sản xuất ra các loại hàng hoá phục vụ cho việc trao đổi, buôn
bán với các quốc gia khác để thu ngoại tệ. Với ngoại tệ thu được từ hoạt động
xuất khẩu, chúng ta có thể mua sắm các loại hàng hoá cần thiết từ các nước
trên thế giới nhằm phục vụ cho quá trình Công nghiệp hoá- hiện đại hoá cũng
như thỏa mãn các nhu cầu sinh hoạt của dân cư. Chính vì vậy, Đại hội Đảng
lần thứ VI đã đưa việc sản xuất hàng xuất khẩu là một trong ba chương trình
kinh tế quan trọng trong thời kỳ đổi mới của nước ta (ba chương trình đó là:
sản xuất lương thực, sản xuất hàng tiêu dùng và sản xuất hàng xuất khẩu ). Từ
đó đến nay, vấn đề sản xuất hàng xuất khẩu cũng như các hoạt động liên quan
đến xuất khẩu hàng hoá ở Việt Nam đang trở thành một vấn đề được nhiều
người quan tâm với mục đích tìm ra các biện pháp hữu hiệu nhất để đưa hoạt
động xuất khẩu của Việt Nam ngày càng có hiệu quả.
Bởi vì, thực tiễn hoạt động xuất khẩu ở Việt Nam cho thấy, bên cạnh một số
thành tựu đã đạt được, chúng ta cũng đang gặp không ít những khó khăn trong
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU TRONG NỀN
KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
I. XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ VÀ VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU
TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG.
1. Khái niệm và đặc điểm của xuất khẩu hàng hoá
1.1. Khái niệm:
Từ sự ra đời của hoạt động thương mại quốc tế có thể nói: Thương mại
quốc tế là quá trình trao đổi hàng hoá giữa các quốc gia khác nhau trên thế
giới thông qua các quan hệ mua bán quốc tế. Hoạt động thương mại quốc tế là
biểu hiện của một hình thức quan hệ xã hội ở phạm vi quốc tế và phản ánh sự
phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa những người sản xuất hàng hoá riêng biệt.
Hoạt động xuất khẩu là m ột mặt quan trọng trong hoạt động thương
mại quốc tế của một quốc gia với phần còn lại của thế giới. Nó là quá trình
bán những hàng hoá của quốc gia đó cho một hay nhiều quốc gia khác trên
thế giới nhằm thu ngoại tệ.
Như vậy, về bản chất hoạt động xuất khẩu và hoạt động buôn bán trong
nước đều là một quá trình trao đổi hàng hoá (bán hàng), đó là quá trình thực
hiện giá trị hàng hoá của người sản xuất hoặc người bán. Tuy nhiên, về hình
thức và phạm vi thì hoạt động xuất khẩu có nhiều điểm khác biệt mà các nhà
xuất khẩu cần nhận thấy để có sự vận dụng hợp lý.
1.2. Đặc điểm:
Thứ nhất, khách hàng trong hoạt động xuất khẩu là người nước ngoài.
Do đó, khi muốn phục vụ họ, nhà xuất khẩu không thể áp dụng các biện pháp
giống hoàn toàn như khi chinh phục khách hàng trong nước. Bởi vì, giữa hai
loại khách hàng này có nhiều điểm khác biệt về ngôn ngữ, lối sống, mức
sống, phong tục tập quán. . . Điều này sẽ dẫn đến những khác biệt trong nhu
Phạm Thành Hải K33 - A6
3
Khoa QTDN Thương mại Chuyên đề tốt nghiệp
Khoa QTDN Thương mại Chuyên đề tốt nghiệp
Thứ nhất, xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu, phục vụ
công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước.
Ở các nước kém phát triển, một trong những vật cản chính đối với sự
tăng trưởng kinh tế là thiếu tiềm lực về vốn. Vì vậy, nguồn vốn huy động từ
nước ngoài được coi là nguồn chủ yếu cuả họ cho quá trình phát triển. Nhưng
mọi cơ hội đầu tư hoặc vay nợ từ nước ngoài và các quốc tế chỉ tăng lên khi
các chủ đầu tư và người cho vay thấy được khả năng xuất khẩu của nước đó,
vì đây là nguồn chính để đảm bảo nước này có thể trả được nợ.
Thứ hai, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản
xuất phát triển. Dưới tác động của xuất khẩu, cơ cấu sản xuất và tiêu dùng
của thế giới đã, đang và sẽ thay đổi mạnh mẽ hoạt động xuất khẩu làm chuyển
dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch
vụ.
Có hai cách nhìn nhận về tác động của xuất khẩu đối với sản xuất và
sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế:
- Coi thị trường là mục tiêu để tổ chức sản xuất và xuất khẩu. Quan
điểm này tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất
phát triển. Cụ thể là:
+ Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành cùng có cơ hội phát triển.
+ Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng thị trường sản phẩm, góp phần ổn
định sản xuất, tạo ra lợi thế nhờ qui mô.
+ Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản
xuất, mở rộng khả năng tiêu dùng của một quốc gia. Hoạt động ngoại thương
cho phép một nước có thể tiêu dùng tất cả các mặt hàng với số lượng lớn hơn
nhiều lần so với khả năng sản xuất của quốc gia đó.
+ Xuất khẩu là phương tiện quan trọng để tạo vốn và thu hút kỹ thuật
công nghệ từ các nước phát triển nhằm hiện đại hoá nền kinh tế nội địa, tạo
năng lực cho sản xuất mới.
Phạm Thành Hải K33 - A6
6
Khoa QTDN Thương mại Chuyên đề tốt nghiệp
triển theo. Ngược lại sự phát triển của các ngành này lại tạo điều kiện thuận
lợi cho hoạt động xuất khẩu phát triển.
2. 2. Đối với doanh nghiệp
Hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp có vai trò to lớn đối với bản
thân các doanh nghiệp tham gia vào thương mại quốc tế.
Thứ nhất, thông qua xuất khẩu, các doanh nghiệp trong nước có điều
kiện tham gia vào các cuộc cạnh tranh trên thị trường thế giới về giá cả, chất
lượng. Những yếu tố này đòi hỏi các doanh nghiệp phải hình thành một cơ
cấu sản xuất phù hợp với thị trường.
Thứ hai, sản xuất hàng xuất khẩu giúp doanh nghiệp thu hút được nhiều
lao động, tao ra thu nhập ổn định cho họ, tạo nguồn ngoại tệ để nhập khẩu
hàng tiêu dùng. Nó vừa đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của nhân dân,
vừa thu được lợi nhuận. Sản xuất hàng xuất khẩu còn giúp doanh nghiệp phải
luôn luôn đổi mới và hoàn thiện công tác quản lý kinh doanh, đồng thời có
vốn để tiếp tục đầu tư vào sản xuất không chỉ về chiều rộng mà cả về chiều
sâu.
Thứ ba, xuất khẩu tạo điều kiện cho doanh nghiệp mở rộng thị trường,
mở rộng quan hệ kinh doanh với các bạn hàng cả trong và ngoài nước, trên cơ
sở cả hai bên đều có lợi. Vì vậy đã giúp doanh nghiệp tăng được doanh số và
lợi nhuận, đồng thời chia xẻ được rủi ro mất mát trong hoạt động kinh doanh,
tăng cường uy tín kinh doanh của công ty.
Thứ tư, xuất khẩu khuyến khích phát triển các mạng lưới kinh doanh
của doanh nghiệp, chẳng hạn như hoạt động đầu tư, nghiên cứu và phát triển,
các hoạt động sản xuất, Marketing cũng như sự phân phối và mở rộng kinh
doanh.
Như vậy, hoạt động xuất khẩu có vai trò quan trọng và có tác động tích
cực tới sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp cũng như sự phát triển kinh
tế của một quốc gia.
Phạm Thành Hải K33 - A6
8
Khoa QTDN Thương mại Chuyên đề tốt nghiệp
này, hàng hoá trước khi kết thúc quá trình xuất khẩu vẫn thuộc sở hữu của
đơn vị uỷ thác. Doanh nghiệp ngoại thương chỉ có nhiệm vụ làm các thủ tục
về xuất khẩu hàng hoá, kể cả việc vận chuyển hàng hoá và được hưởng một
khoản tiền gọi là phí uỷ thác mà đơn vị uỷ thác trả.
Hình thức xuất khẩu này có ưu điểm là dễ thực hiện, độ rủi ro thấp,
doanh nghiệp ngoại thương không phải là người chịu trách nhiệm cuối cùng
về hàng hoá và cũng không phải tự bỏ vốn ra để mua hàng. Tuy nhiên, phí uỷ
thác mà doanh nghiệp nhận được thường nhỏ nhưng được thanh toán nhanh.
3. Hoạt động gia công xuất khẩu quốc tế.
Gia công quốc tế đó là một hoạt động mà một bên - gọi là bên đặt hàng
- giao nguyên vật liệu , có khi cả máy móc , thiết bị và chuyên gia cho bên kia
gọi kà bên nhận gia công . Để xuất ra một mặt hàng mới theo yêu cầu của bên
đặt hàng . Hàng hoá sau khi sản xuất xong được giao cho bên đặt gia công
.Bên nhận gia công được trả tiền công . Khi hoạt động gia công vượt ra khỏi
biên giới quốc gia thì được gội là gia công quốc tế.
Theo hình thức xuất khẩu này, doanh nghiệp ngoại thương đứng ra
nhập nguyên nhiên vật liệu, bán thành phẩm về cho các đơn vị nhận gia công
từ các khách hàng nước ngoài đặt gia công. Sau đó, đơn vị ngoại thương sẽ
nhận thành phẩm từ các đơn vị nhận gia công và xuất sản phẩm này sang cho
khách hàng nước ngoài đã đặt gia công. Đơn vị ngoại thương sẽ nhận được
khoản tiền thù lao gia công.
Hoạt động gia công xuất khẩu có đặc điểm là doanh nghiệp ngoại
thương không phải bỏ vốn vào kinh doanh nhưng thu được hiệu quả cũng khá
cao, ít rủi ro và khả năng thanh toán đảm bảo vì đầu ra chắc chắn. Tuy nhiên,
nếu doanh nghiệp muốn thực hiện theo hình thức này, doanh nghiệp phải
quan hệ được với các khách hàng đặt gia công có uy tín. Đây là một hình thức
phức tạp, nhất là trong quá trình thoả thuận với bên khách hàng gia công về số
thức tạm nhập tái xuất.
Phạm Thành Hải K33 - A6
10
Khoa QTDN Thương mại Chuyên đề tốt nghiệp
Thời gian hàng hoá kinh doanh theo hình thức tạm nhập tái xuất được
lưu chuyển ở Việt Nam là 60 ngày.
6.2. Chuyển khẩu hàng hoá
Chuyển khẩu hàng hoá là việc mua hàng của một nước (nước xuất
khẩu) để bán cho một nước khác (nước nhập khẩu) nhưng không làm thủ tục
nhập khẩu vào Việt Nam cũng như thủ tục xuất khẩu từ Việt Nam.
6.3. Quá cảnh hàng hoá
Hàng hoá của một nước được gửi đi tới một nước thứ ba qua lãnh thổ
Việt Nam, có sự cho phép của Chính phủ Việt Nam. Các doanh nghiệp Việt
Nam nếu có đủ điều kiện như quy định của Nhà nước Việt Nam có thể được
xem xét cho thực hiện dịch vụ này để tăng thêm thu nhập.
III. NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG
XUẤT KHẨU CỦA DOANH NGHIỆP NƯỚC TA
Việc xem xét những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh nói
chung và hoạt động xuất khẩu nói riêng là rất cần thiết, bởi vì những nhân tố
này thường xuyên làm ảnh hưởng đến các kết quả cũng như tiến triển trong
tương lai của hoạt động xuất khâu của doanh nghiệp. Mục đích của việc
nghiên cứu này là nhằm nhận diện các nhân tố ảnh hưởng, chiều hướng tác
động của chúng đến hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp.
1. Nhóm các nhân tố ảnh hưởng trong nước.
1.1. Nhóm nhân tố bên ngoài doanh nghiệp.
Đây là nhóm nhân tố ảnh hưởng nằm bên trong đất nước nhưng không
chịu sự kiểm soát của doanh nghiệp. Các nhân tố đó là:
- Chiến lược, phát triển kinh tế - xã hội chính sách và pháp luật liên
quan đến hoạt động xuất khẩu của Nhà nước. Đây là nhân tố không chỉ tác
động đến hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp ở hiện tại, mà còn cả trong
Phạm Thành Hải K33 - A6
12
Khoa QTDN Thương mại Chuyên đề tốt nghiệp
Để có biết được tỷ giá hối đoái, doanh nghiệp phải được cơ chế điều
hành tỷ giá hối đoái hiện hành của nhà nước và theo dõi biến động của nó
từng ngày.
- Khả năng sản xuất hàng xuất khẩu của từng nước: Khả năng này đảm
bảo nguồn hàng cho cho doanh nghiệp, biểu hiện ở các mặt hàng có thể được
sản xuất với khối lượng, chất lượng quy cách, mẫu mã, có phù hợp với thị
trường nước ngoài hay không. Điều này quyết định khả năng cạnh tranh của
các mặt hàng khi doanh nghiệp đưa ra chào bán trên thị trường quốc tế.
Nếu một đất nước có trình độ khoa học công nghệ phát triển, có khả
năng tạo ra được nhiều loại mặt hàng đa dạng, chất lượng tiêu chuẩn quốc tế,
hình thức mẫu mã đảm bảo thẩm mỹ cao và giá cả phải chăng thì đây là điều
kiện thuận lợi rất lớn cho doanh nghiệp khi tham gia hoạt động xuất khẩu.
Ngược lại, khả năng sản xuất trong nước yếu kém, với chúng loại mặt hàng
đơn điệu, thô sơ, sẽ hạn chễ rất lớn khả năng cạnh tranh và mở rộng xuất khẩu
của các doanh nghiệp.
Hiện nay, ở nước ta năng lực sản xuất hàng sản xuất hàng xuất khẩu
còn thấp kém, mặt hàng xuất khẩu còn đơn sơ, chất lượng chưa đạt tiêu chuẩn
quốc tế. Đây là một khó khăn cho các doanh nghiệp ngoại thương khi tham
gia vào hoạt động xuất khẩu.
- Mức độ cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu trong nước: Cạnh
tranh một mặt có tác động thúc đẩy sự vươn lên của các doanh nghiệp, mặt
khác nó cũng chèn ép và “ dìm chết” các doanh nghiệp yếu kém. Mức độ
cạnh tranh ở đây biểu hiện số lượng của các doanh nghiệp tham gia xuất khẩu
cùng ngành hoặc cùng mặt hàng có thể thay thế nhau. Hiện nay, nhà nước có
chủ trương khuyến khích mọi doanh nghiệp, mọi thành phần kinh tế tham gia
xuất khẩu đã dẫn đến sự bùng nổ số lượng doanh nghiệp tham gia hoạt động
xuất khẩu, do đó đôi khi dẫn đến sự cạnh tranh không lành mạnh. Đây là một
có và khả năng huy động vốn của doanh nghiệp. Năng lực tài chính có thể
Phạm Thành Hải K33 - A6
14
Khoa QTDN Thương mại Chuyên đề tốt nghiệp
làm hạn chế hoặc mở rộng các khả năng khác của doanh nghiệp, vì vốn là tiền
đề cho mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
- Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp có tác động không nhỏ tới
kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp .Nếu chiến lược kinh doanh
không phù hợp làm cho doanh nghiệp bị thua lỗ dẫn đến phá sản còn phù hợp
(đúng hướng) sẽ phát triển tốt.
1.3 Nhân tố tài nguyên thiên nhiên và địa lý.
Vị trí địa lý cũng như nguồn tài nguyên thiên nhiên là những cái mà tự
nhiên ban cho, thông qua đó các nước khai thác tiềm năng của nó để phục vụ
xuất khẩu.
Nguồn tài nguyên thiên là một trong những nhân tố quan trọng làm cơ
sở cho quốc gia xây dựng cơ cấu ngành và vùng để xuất khẩu. Nó góp phần
ảnh hưởng đến loại hàng , quy mô hàng xuất khẩu của quốc gia.
Vị trí địa lý có vai trò như là nhân tố tích cực hoặc tiêu cực đối với sự
phát triển kinh tế cũng như xuất khẩu của một quốc gia. Vị trí đị lý thuận lợi
là điều kiện cho phép một quốc gia tranh thủ được phân công lao động quốc
tế , hoặc thuúc đẩy xuất khẩu dịch vụ như du lịch , vận tải , ngân hàng…
2. Nhóm các nhân tố ảnh hưởng ngoài nước.
Đây là các nhân tố nằm ngoài phạm vi kiểm soát của quốc gia, có ảnh
hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp. Có
thể kể đến các nhân tố sau:
- Tình hình phát triển kinh tế của thị trường xuất khẩu: Có ảnh hưởng
đến nhu cầu và khả năng thanh toán của khách hàng xuất khẩu, do đó có ảnh
hưởng đến hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp. Các nhân tố phản ánh sự
phát triển kinh tế của thị trường xuất khẩu là tổng sản phẩm quốc nội (GDP),
thu nhập của dân cư, tình hình lạm phát, tình hình lãi suất.
kết và phụ thuộc giữa các nước ngày càng tăng lên. Chính vì điều này mà mỗi
Phạm Thành Hải K33 - A6
16
Khoa QTDN Thương mại Chuyên đề tốt nghiệp
sự biến động của tình hình kinh tễ- xã hội ở nước ngoài đều có những ảnh
hưởng nhất định đối với hoạt động kinh tế trong nước. Lĩnh vực hoạt động
xuất khẩu là lĩnh vực trực tiếp quan hệ với các chủ thể ở nước ngoài, chịu sự
chi phối và tác động của các nhân tố ở nước ngoài nên nó lại càng rất nhạy
cảm. Bất kỳ một sự thay đổi nào về chính sách xuất khẩu, tình hình lạm
phát , thất nghiệp hay tăng truởng về suy thoái kinh tế...của các nước đều ảnh
hưởng tới hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp xuất khẩu ở nước ta.
Phạm Thành Hải K33 - A6
17
Khoa QTDN Thương mại Chuyên đề tốt nghiệp
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU CỦA CÔNG TY XUẤT
NHẬP KHẨU HÀ TÂY
I. Tổng quan về Công ty
1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty.
- Công ty Xuất nhập khẩu Hà Tây được thành lập ngày 01/12/1992
theo Quyết định số 471-QĐ/UB của UBND tỉnh Hà Tây. Trạm thu mua hàng
xuất khẩu đặt tại các tỉnh, huyện.
- Công ty được cấp giấp phép đăng ký kinh doanh số 104356 ngày 11
tháng 12 năm 1993. Và có giấp phép kinh doanh xuất nhập khẩu số
2.06.1.002 ngày 23 tháng 3 năm 1993 của Bộ Thương mại.
- Ngày 20/11/1991 theo Quyết định số 388/HĐBT của Hội đồng Bộ
trưởng ban hành theo quy chế về việc "Thành lập và giải thể Doanh nghiệp
Nhà nước" - Công ty chuyển giao các đơn vị hạch toán độc lập sang các cơ sở
chuyên ngành quản lý.
- Công ty xuất nhập khẩu Hà Tây là một doanh nghiệp Nhà nước, trực
* Nhiệm vụ của Công ty:
- Xây dựng và tổ chức thực hiện các kế hoạch dài hạn, ngắn hạn về sản
xuất, kinh doanh xuất nhập khẩu, gia công, lắp ráp theo đúng luật pháp hiện
hành của Nhà nước và hướng dẫn của Sở Thương mại Hà Tây .
- Tổ chức nghiên cứu nâng cao năng suất lao động, đổi mới trang thiết
bị, tổ chức tiếp thị tốt để nâng cao năng lực kinh doanh và cạnh tranh lành
mạnh, đảm bảo kinh doanh có hiệu quả ngày càng cao.
- Chấp hành pháp luật Nhà nước, thực hiện các chế độ, chính sách về
quản lý và sử dụng tiền vốn, vật tư, tài sản, nguồn lực, thực hiện hạch toán
kinh tế, bảo toàn và phát triển vốn, thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước.
Phạm Thành Hải K33 - A6
19
Khoa QTDN Thng mi Chuyờn tt nghip
- Thc hin bỏo cỏo theo ngnh v chu s thanh tra ca phỏp lut.
- T chc tt b mỏy doanh nghip, qun lý ton din, o to v phỏt
trin i ng cỏn b cụng nhõn viờn chc theo phỏp lut, chớnh sỏch ca Nh
nc v s phõn cp qun lý ca S Thng mi thc hin nhim v sn
xut, kinh doanh ca Cụng ty. Chm lo i sng, to iu kin thun li cho
ngi lao ng lm vic, thc hin phõn phi cụng bng.
- Bo v doanh nghip, bo v mụi trng, gi gỡn trt t an ninh chớnh
tr v an ton xó hi trong phm vi qun lý ca Cụng ty theo quy nh ca
phỏp lut.
3. C cu t chc b mỏy ca Cụng ty.
Cụng ty Xut nhp khu H Tõy gm cú 169 cỏn b cụng nhõn viờn
c biờn ch thnh 04 phũng ban v 02 chi nhỏnh.Cỏc phũng qun lý chc
nng cú 01 trng phũng v 01 n 02 phú. Mt s cỏn b, nghip v chuyờn
mụn.
C CU T CHC B MY CA CễNG TY
S 1
chính
Phòng
Nvụ
Mây
tre
XN
Tơ
thảm
thêu
Trạm
XK
Hà
Đông
Trạm
XK
Ba
Vì
Trạm
XK
tre đan
Thường
Tín
Trạm
XK
tre
đan
C.Mỹ
Chi
nhánh
TP
án kinh doanh,liên doanh liên kết tiêu thụ hàng hóa và phối hợp thực hiện các
phương án đó sau khi đã được Công ty phê duyệt.
+ Giúp Giám đốc tỗ chức xây dựng kế hoạch xuất - nhập khẩu,các kế
hoạch thâm nhập thị trường mới,mở rộng thị trường truyền thống.
* Phòng Tổ chức hành chính:
- Giúp Giám đốc trong công tác tổ chức hoạt động hành chính, quản lí
tài sản và nhân sự, tiền lương. Phối hợp với các phòng chức năng để quản lí
và điều hành hoạt động của Công ty theo đúng định hướng và kế hoạch.
+ Xây dựng phương án bố trí sắp xếp cán bộ viên chức toàn công ty và
các đơn vị .
+ Làm công tác khác về tổ chức: quản lý hồ sơ cán bộ ,làm thủ tục về
tiếp nhận , nghỉ hưu thôi việc, thuyên chuyển, khen thưởng và kỷ luật cán bộ.
- Tham mưu qiúp giám đốc về công tác hành chính quản trị cụ thể:
+ Xây dựng phương án bảo vệ đảm bảo công tác an ninh trật tự cơ quan
+ Làm tốt văn thư,lưu trữ , quản lý dấu công ty , dấu chức danh.
+ Quản lý nhà khách, đảm bảo các yêu cầu vật chất cho công tác điều
hành hàng ngày.
+ Đảm bảo công tác vệ sinh môi trường cơ quan.
* Phòng Kế toán tài vụ :
Thực hiện theo dõi tình hình hoạt động kinh doanh và báo cáo tình hình
tài chính và các nghiệp vụ tài chính kế toán khác. Chịu trách nhiệm quản lý
vốn, tài sản, hàng hoá, giám sát thu chi tại Công ty.
- Phối hợp với phòng kế hoạch tổng hợp xây xây dựng kế hoạch tài
chính toàn công ty và kế hoạch từng đợn vị thành viên .
Phạm Thành Hải K33 - A6
22
Khoa QTDN Thương mại Chuyên đề tốt nghiệp
- Các phương án kinh doanh đã được Giám đốc duyệt trong thời hạn 3
ngày phải đáp ứng vốn để các đơn vị thực hiện hợp đồng ( hồ sơ vay vốn do
các đơn vị chuẩn bị).
kinh doanh, đề xuất ý kiến với Giám đốc. Thời gian kiểm tra, thẩm định để
trình kế hoạch không quá 2 ngày, kể từ khi nhận được hợp đồng và phương án
các đơn vị gửi đến.
- Chịu trách nhiệm liên đới khi để xẩy ra kinh doanh thua lỗ hoặc thất
thoát vốn do yếu tố chủ quan gây ra.
Phòng Nvụ Mây tre:
- Phòngnghiệp vụ mây tre có nhiệm vụ thu mua, tìm kiếm nguồn hàng
các mặt hàng truyền thống như mây tre , hàng thủ công mỹ nghệ ...
- Tổ chức giới thiệu các mặt hàng ra nước ngoài, mở rộng hợp tác kinh
doanh với các bạn hàng và khách hàng.
- Hợp tác chặt chẽ với các phòng ban khác có liên quan về thu mua tiêu
thụ các sản phẩm mà công ty kinh doanh
* Văn phòng đại diện ở các Tỉnh :
- Giúp Giám đốc làm công tác tiếp thị. Trong một số trường hợp đặc biệt
trưởng văn phòng đại diện được Giám đốc uỷ nhiệm ký một số văn bản của
Công ty. Tổ chức xuất nhập khẩu hàng hóa do tự khai thác được thị trường
đảm bảo có hiệu quả, chấp hành tốt chính sách và các quy định của nhà nước,
của địa phương nơi đặt văn phòng đại diện.
II. TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY
XUẤT NHẬP KHẨU HÀ TÂY
1.Mặt hàng kinh doanh của Công ty :
Công ty Xuất nhập khẩu Hà Tây là một Công ty kinh doanh xuất nhập
khẩu tổng hợp bao gồm hàng tiêu dùng, nguyên vật liệu, thiết bị máy móc đáp
ứng nhu cầu khác nhau của sản xuất và đời sống. Bên cạnh đó, Công ty còn
Phạm Thành Hải K33 - A6
24
Khoa QTDN Thương mại Chuyên đề tốt nghiệp
thực hiện các dịch vụ gia công sản xuất, tái sản xuất hàng hóa, nhận ủy thác
xuất nhập khẩu, chuyển khẩu.
Trong kinh doanh xuất nhập khẩu, mặt hàng chủ yếu của Công ty gồm: