TRƯỜNG………………………
KHOA……………………
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
“Một số giải pháp thúc đẩy hoạt động
xuất khẩu ở công ty dâu tằm tơ I- Hà
Nội”
1
MỤC LỤC
ĐỀ MỤC TRANG
Lời mở đầu. 3
Chương I: Cơ sở lý luận về hoạt động xuất khẩu. 4
I. Tổng quan về hoạt động xuất khẩu. 4
1. Nguồn gốc của TMQT. 4
2. Vai trò của hoạt động xuất khẩu đối với sự phát
triển của mỗi quốc gia. 5
3. Chức năng và nhiệm vụ của hoạt động xuất khẩu. 7
4. Các loại hình xuất khẩu. 8
II. Nội dung của hoạt động xuất khẩu. 11
1. Nghiên cứu và lựa chọn thị trường xuất khẩu. 11
2. Lập phương án kinh doanh hàng xuất khẩu. 15
3. Kí kết hợp đồng xuất khẩu. 16
4. Thực hiện hợp đồng xuất khẩu. 17
5. Đánh giá hiệu qủa xuất khẩu. 21
III. Khái quát về lịch sử tơ tằm thế giới và đặc điểm
của ngành sản xuất tơ tằm xuất khẩu. 22
1. Lịch sử tơ tằm thế giới. 22
2. Các yếu tố đặc trưng của hàng tơ tằm xuất khẩu. 26
3. Đặc điểm của ngành sản xuất tơ tẵm xuất khẩu. 27
4. Sự cần thiết phát triển nghề trồng dâu nuôi tằm,
ươm tơ dệt lụa cho xuất khẩu tơ lụa của Việt
45
3.2: Thị trường xuất khẩu chủ yếu của công ty. 46
3.3: Tình hình xuất khẩu theo mặt hàng. 47
3.4: Phương thức xuất khẩu của công ty. 48
3.5: Phương thức thanh toán áp dụng trong xuất
khẩu.
48
3.6: Nỗ lực thúc đẩy hoạt động xuất khẩu ở công
ty.
49
3.7: Quy trình nghiệp vụ xuất khẩu của công ty. 49
4. Đánh giá hiệu quả hoạt động xuất khẩu của công
ty dâu tằm tơ I.
52
4.1: Những mặt đã làm được. 52
4.2: Những tồn tại chủ yếu và nguyên nhân kìm
hãm
sự phát triển hoạt động xuất khẩu ở công ty.
53
Chương III: Định hướng và giải pháp thúc đẩy hoạt động
xuất khẩu
ở công ty dâu tằm tơ I - Hà Nội trong thời
gian tới.
56
I. Định hướng phát triển hoạt động xuất khẩu của công ty
trong thời gian tới. 56
1. Định hướng phát triển ngành tơ tằm Việt Nam
trong thời gian tới.
56
2. Định hướng phát triển hoạt động xuất khẩu
tiên tiến từ bên ngoài, duy trì và phát triển văn hoá dân tộc, tiếp thu
những tinh hoa văn hoá của nhân loại. Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc
tế, chiến lược phát triển kinh tế mà Đảng và Nhà nước ta đã lựa chọn là
hướng mạnh về xuất khẩu, từng bước thay thế nhập khẩu.Với chiến lược
đó các nhà doanh nghiệp đã có nhiều cơ hội để tăng trưởng và phát triển
mạnh, tham gia vào TMQT.
Công ty dâu tằm tơ I- Hà Nội là một điển hình, trong những năm vừa
qua nhờ hoạt động xuất khẩu tơ lụa công ty đã đạt được những thành tựu
đáng kể, lợi nhuận liên tục gia tăng, uy tín được tăng cường, đời sống của
cán bộ công nhân viên ngày một cải thiện. Tuy vậy, trong quá trình xuất
khẩu công ty không tránh khỏi những khó khăn hạn chế. Trong thời gian
thực tập tại công ty, thấy được thực trạng như vậy, đồng thời nhận thức
được tầm quan trọng của của công tác xuất khẩu đối với hoạt động sản
xuất kinh doanh của công ty, với sự giúp đỡ hướng dẫn nhiệt tình của thầy
giáo, Thạc Sĩ Nguyễn Trọng Hà cùng các cô chú, các anh chị trong công
ty, em đã chọn đề tài: “Một số giải pháp thúc đẩy hoạt động xuất khẩu ở
công ty dâu tằm tơ I- Hà Nội”.
4
Báp cáo được chia làm 3 phần:
Chương I: Cơ sở lý luận về hoạt động xuất khẩu.
Chương II: Thực trạng hoạt động xuất khẩu ở công ty dâu tằm tơ I-
Hà Nội.
Chương III: Định hướng và giải pháp thúc đẩy hoạt động xuất khẩu
ở công ty dâu tằm tơ I- Hà Nội trong thời gian tới.
Do những hạn chế về thời gian, tài liệu nghiên cứu và khả năng của
người viết, bài viết chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót. Em mong
nhận được sự góp ý chân thành để đề tài được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình và quý báu của thầy
giáo Th.s Nguyễn Trọng Hà và các cô chú, các anh chị trong công ty đã
nhiệt tình giúp đỡ em hoàn thành bài viết này.
gì? Xuất khẩu là việc bán sản phẩm hàng hoá sản xuất ra nước ngoài nhằm
mục đích thu ngoại tệ, tăng tích luỹ cho ngân sách nhà nườc, phát triển sản
xuất kinh doanh khai thác ưu thế tiềm năng đất nước và nâng cao đời sống
nhân dân. Khác với hoạt động mua bán sản phẩm diễn ra trên thị trường
nội địa, hoạt động xuất khẩu phức tạp hơn nhiều, bởi đây là hoạt động
buôn bán trao đổi qua biên giới quốc gia, thị trường vô cùng rộng lớn khó
kiểm soát, thanh toán bằng ngoại tệ đồng thời phải tuân thủ theo những tập
quán thông lệ quốc gia cũng như luật pháp của từng địa phương.
Hoạt động xuất nhập khẩu diễn ra trên mọi lĩnh vực trong mọi điều
kiện từ xuất nhập khẩu hàng hoá tiêu dùng, máy móc thiết bị và cả công
nghệ cao. Tất cả các hoạt động buôn bán trao đổi này đều nhằm mục đích
là đem lại lợi ích cho các quốc gia tham gia.
1. Nguồn gốc của TMQT.
TMQT có từ hàng ngàn năm nay, nó ra đời sớm nhất và hiện nay vẫn
giữ vị trí trung tâm trong các quan hệ kinh tế quốc tế.
TMQT trước hết là sự trao đổi hàng hoá dịch vụ giữa các quốc gia.
Tiền đề xuất hiện sự trao đổi là phân công lao động xã hội. Với tiến bộ
khoa học kỹ thuật, phạm vi chuyên môn hoá ngày càng tăng, số sản phẩm
và dịch vụ để thoả mãn nhu cầu con người ngày một dồi dào, sự phụ
thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia ngày càng lớn. Thương mại bắt nguồn từ
sự đa dạng và điều kiện tự nhiên của sản xuất giữa các nước, nên chuyên
môn hoá sản xuất một số mặt hàng có lợi thế và nhập khẩu các mặt hàng
khác từ nước ngoài mà sản xuất trong nước kém lợi thế thì chắc chắn đem
lại lợi nhuận lớn hơn.
Sự khác nhau về điều kiện sản xuất ít nhất cũng giải thích được sự
hình thành TMQT giữa các nước trong kinh doanh các mặt hàng như dầu
lửa, lương thực, dịch vụ du lịch... Song như chúng ta đã biết phần lớn số
lượng thương mại trong các mặt hàng không xuất phát từ điều kiện tự
nhiên vốn có của sản xuất. Một nước có thể sản xuất được mặt hàng này
tại sao lại nhập khẩu chính mặt hàng đó từ một nước khác? Làm sao nước
giá trị thặng dư cao, hướng về xuất khẩu là chính, đồng thời thay thế
những sản phẩm trong nước sản xuất có hiệu quả hơn để khai thác tốt nhất
lợi thế so sánh về nguồn nhân lực, tài nguyên thiên nhiên, vốn, kỹ thuật,
công nghệ, thị trường cho sự phát triển. Để thấy rõ điều này chúng ta hãy
xem xét những vai trò sau đây của TMQT nói chung và của xuất khẩu nói
riêng.
2.Vai trò của hoạt động xuất khẩu đối với sự phát triển của
mỗi quốc gia.
Quốc gia cũng như cá nhân không thể sống một cách riêng rẽ mà có
được đầy đủ mọi thứ hàng hoá. Buôn bán quốc tế có ý nghĩa sống còn, mở
rộng khả năng tiêu dùng của một nước. Xuất khẩu là một hoạt động
TMQT có vai trò quan trọng thể hiện trên các mặt sau:
7
2.1: Xuất khẩu nhằm khai thác lợi thế, phát triển có hiệu quả kinh tế
trong nước.
Trong thế giới hiện đại không một quốc gia nào bằng chính sách
đóng cửa của mình lại phát triển có hiệu quả kinh tế trong nước. Muốn
phát triển nhanh mỗi nước không thể đơn độc dựa vào nguồn lực của
mình mà phải biết tận dụng các thành tựu kinh tế khoa học kỹ thuật của
loài người để phát triển. Nền kinh tế “mở cửa”, trong đó xuất khẩu đóng
vai trò then chốt sẽ mở hướng phát triển mới tạo điều kiện khai thác lợi
thế tiềm năng sẵn có trong nước nhằm sử dụng phân công lao động quốc
tế một cách có lợi nhất.
Đối với những nước mà trình độ phát triển kinh tế còn thấp như nước
ta, những nhân tố tiềm năng là: tài nguyên thiên nhiên và lao động. Còn
những yếu tố thiếu hụt là vốn, kỹ thuật, thị trường và kĩ năng quản lý.
Xuất khẩu là giải pháp mở cửa nền kinh tế nhằm tranh thủ vốn và kỹ thuật
của nước ngoài, kết hợp chúng với tiềm năng trong nước về lao động và
tài nguyên thiên nhiên để tạo sự tăng trưởng mạnh cho nền kinh tế, góp
phần rút ngắn khoảng cách chênh lệch với các nước giàu.
mọi tầng lớp, mọi dân tộc trên toàn thế giới. Sản xuất phải gắn với thị
trường, có thị trường là điều kiện tiên quyết để thúc đẩy sản xuất hàng
xuất khẩu, đến lượt nó sản xuất hàng xuất khẩu lại là nơi thu hút hàng
triệu lao động vào làm việc và tăng thu nhập. Xuất khẩu còn tạo ra nguồn
vốn để nhập khẩu vật phẩm tiêu dùng thiết yếu phục vụ đời sống và đáp
ứng ngày một phong phú thêm nhu cầu tiêu dùng của nhân dân.
2.4: Xuất khẩu góp phần vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy
sản xuất phát triển.
Thay đổi cơ cấu sản xuất và tiêu dùng một cách có lợi nhất đó là
thành quả của công cuộc khoa học và công nghệ hiện đại. Sự chuyển dịch
cơ cấu kinh tế trong qúa trình công nghiệp hoá phù hợp với xu hướng
phát triển của kinh tế thế giới là tất yếu đối với đất nước ta. Vì vậy xuất
khẩu có vai trò quan trọng đối với sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
- Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành khác có cơ hội phát triển thuận
lợi, tức là sự phát triển của ngành hàng xuất khẩu này sẽ kéo theo sự
phát triển của một ngành khác có quan hệ mật thiết.
- Thông qua xuất khẩu, hàng hoá của ta sẽ tham gia vào cuộc cạnh tranh
trên thị trường thế giới về giá cả, chất lượng. Cuộc cạnh tranh này đòi
hỏi chúng ta phải tổ chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu sản xuất luôn
thích nghi với thị trường.
- Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản
xuất, nâng cao năng lực sản xuất trong nước.
- Xuất khẩu tạo ra những tiền đề kinh tế- kỹ thuật nhằm cải tạo và nâng
cao năng lực sản xuất trong nước.
- Xuất khẩu còn đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn đổi mới, hoàn thiện
công việc quản trị sản xuất và kinh doanh.
2.5: Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối
ngoại của nước ta.
Xuất khẩu và các quan hệ kinh tế đối ngoại luôn có tác động qua lại
phụ thuộc lẫn nhau. Xuất khẩu là một bộ phận rất quan trọng của kinh tế
lớn đáp ứng những đòi hỏi cuả thị trường thế giới và của khách hàng về
chất lượng và số lượng, có sức hấp dẫn và khả năng cạnh tranh cao.
- Mở rộng thị trường và đa phương hoá đối tác.
- Hình thành các vùng, các ngành sản xuất hàng xuất khẩu tạo các chân
hàng vững chắc, phát triển hệ thống thu mua hàng xuất khẩu.
- Xây dựng các mặt hàng chủ lực ở phạm vi chiến lược, từ đó có kế
hoạch phát triển và mở rộng mặt hàng chủ lực.
4.Các loại hình xuất khẩu.
Xuất khẩu có thể được tổ chức theo nhiều hình thức khác nhau phụ
thuộc vào số lượng và các loại hình trung gian thương mại. Mỗi phương
thức có đặc điểm riêng, có kỹ thuật tiến hành riêng. Thông thường có các
loại hình xuất khẩu chủ yếu sau:
4.1: Xuất khẩu trực tiếp.
10
Giống như các hoạt động mua bán thông thường trực tiếp ở trong
nước, phương thức xuất khẩu trực tiếp trong kinh doanh TMQT có thể
được thực hiện ở mọi lúc, mọi nơi trong đó người mua và người bán trực
tiếp gặp mặt ( hoặc thông qua thư từ, điện tín...) để bàn bạc và thoả thuận
với nhau về hàng hoá, giá cả, điều kiện giao dịch, phương thức thanh
toán... mà không qua người trung gian. Những nội dung này được thoả
thuận một cách tự nguyện, việc mua không nhất thiết gắn liền với việc
bán.
Tuy nhiên, hoạt động mua bán theo phương thức này khác với hoạt
động nội thương ở chỗ: bên mua và bên bán là những người có trụ sở ở
các quốc gia khác nhau, đồng tiền thanh toán có thể là ngoại tệ đối với
một trong hai bên, hàng hoá là đối tượng của giao dịch được di chuyển
qua khỏi biên giới của một nước.
Hoạt động xuất khẩu trực tiếp thường có những ưu điểm sau:
- Thông qua thảo luận trực tiếp dễ dàng dẫn đến thống nhất, ít xảy ra
những hiểu lầm đáng tiếc.
những lợi ích như:
Những người trung gian thường có hiểu biết rõ tình hình thị trường,
pháp luật và tập quán địa phương, do đó, họ có khả năng đẩy mạnh việc
buôn bán và tránh bớt rủi ro cho người uỷ thác.
Những người trung gian, nhất là các đại lý thường có cơ sở vật chất
nhất định, do đó, khi sử dụng họ, người uỷ thác đỡ phải đầu tư trực tiếp
ra nước ngoài.
Nhờ dịch vụ của trung gian trong việc lựa chọn, phân loại, đóng gói,
người uỷ thác có thể giảm bớt chi phí vận tải.
Tuy nhiên việc sử dụng trung gian có khuyết điểm như:
Công ty kinh doanh xuất nhập khẩu mất sự liên hệ trực tiếp với thị
trường. Công ty cũng thường phải đáp ứng những yêu sách của đại lý
hoặc môi giới.
Lợi nhuận bị chia sẻ
Trước sự phân tích lợi hại như vậy, người ta chỉ thường sử dụng
trung gian trong những trường hợp cần thiết như: khi thâm nhập vào một
thị trường mới, khi mới đưa vào thị trường mới một mặt hàng mới, khi tập
quán đòi hỏi phải bán hàng qua trung gian, khi mặt hàng đỏi hỏi sự chăm
sóc đặc biệt như hàng tươi sống chẳng hạn.
4.3: Buôn bán đối lưu.
Buôn bán đối lưu (counter- trade) là một phương thức giao dịch trao
đổi hàng hoá, trong đó xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với nhập khẩu, người
bán đồng thời là người mua, lượng hàng giao đi có giá trị tương xứng với
lượng hàng nhận về. Ở đây mục đích của xuất khẩu không phải nhằm thu
về một khoản ngoại tệ, mà nhằm thu về một hàng hoá khác có giá trị tương
đương.
Buôn bán đối lưu đã ra đời lâu trong lịch sử quan hệ hàng hoá- tiền
tệ, trong đó sớm nhất là “ hàng đổi hàng”, rồi đến trao đổi bù trừ. Ngày
nay, ngoài hai hình thức truyền thống đó, đã có nhiều loại hình mới ra đời
từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai.
Gia công quốc tế ngày nay khá phổ biến trong buôn bán ngoại
thương của nhiều nước. Đối với bên đặt gia công, phương thức này giúp
họ tận dụng được giá rẻ về nguyên liệu phụ và nhân công của nước nhận
gia công. Đối với bên nhận gia công, phương thức này giúp họ giải quyết
công ăn việc làm cho nhân dân lao động trong nước hoặc nhận được thiết
bị hay công nghệ mới về nước mình, nhằm xây dựng một nền công nghiệp
dân tộc. Nhiều nước đang phát triển đã nhờ vận dụng được phương thức
gia công quốc tế mà có được một nền công nghiệp hiện đại như Hàn
Quốc, Thái Lan, Xingapo...
4.5: Giao dịch tái xuất.
Là hoạt động xuất khẩu trở ra nước ngoài những hàng trước đây đã
nhập khẩu chưa qua chế biến ở nước tái xuất.
4.6: Xuất khẩu theo nghị định thư.
Là hình thức xuât khẩu hàng hoá (hay trả nợ) được kí theo nghị định
thư của chính phủ. Xuất khẩu theo hình thức này có ưu điểm: khả năng
thanh toán chắc chắn (do nhà nước trả cho đối tác xuất khẩu), giá cả hàng
hóa dễ chấp nhận.
13
II. Nội dung của hoạt động xuất khẩu.
Kinh doanh TMQT là hoạt động thương mại phức tạp hơn nhiều so
với kinh doanh thương mại nội địa bởi nhiều lý do: bất đồng ngôn ngữ, hệ
thống luật pháp, phong tục tập quán, thói quen tâm lý... rất khác nhau.
Hoạt động xuất khẩu được tổ chức thực hiện với nhiều nghiệp vụ, nhiều
khâu từ điều tra thị trường, lựa chọn thị trường xuất khẩu... cho đến khi
hàng hoá chuyển đến cảng chuyển giao quyền sở hữu cho người mua hoàn
tất các thủ tục thanh toán. Đó là cả một qua trình phức tạp cần phải được
nghiên cứu đầy đủ kĩ lưỡng, đặt chúng trong mối quan hệ lẫn nhau, tranh
thủ nắm bắt những lợi thế nhằm đảm bảo hiệu quả cao nhất, phục vụ đầy
đủ và kịp thời cho sản xuất và tiêu dùng trong nước.
Nội dung của hoạt động xuât khẩu bao gồm những nghiệp vụ cơ bản
nhân và với người tiêu dùng. Biện pháp cụ thể: điều tra, phỏng vấn, quan
sát, thực nghiệm.
Như vậy, xét về tính phức tạp và mức độ chi phí, nghiên cứu tại thị
trường là một hoạt động tốn kém và không phải ai cũng đủ trình độ để làm
được. Tuy vậy, phương pháp nghiên cứu này cho kết quả khá chính xác.
Vì vậy, trước hết cần sơ bộ xử lý các thông tin về các thị trường đã đề cập,
chọn ra những thị trường có nhiều triển vọng nhất. Sau đó căn cứ vào kết
quả lựa chọn để tiến hành nghiên cứu hiện trường và lập kế hoạch khảo
sát.
+ Thông tin thứ cấp (Secondary information):
Đối với loại thông tin này người ta sử dụng phương pháp nghiên cứu tại
bàn (Desk study). Về cơ bản nghiên cứu tại bàn bao gồm việc thu thập
thông tin từ các nguồn tư liệu xuất bản hay không xuất bản và tìm những
nguồn đó. Chìa khoá thành công của nghiên cứu tại bàn là phát hiện ra các
nguồn thông tin và triệt để khai thác những nguồn thông tin đó. Ngày nay,
trong thời đại tin học, thông tin về thị trường, hàng hoá, giá cả... rất phong
phú. Có thể lấy được thông tin từ các nguồn như: qua hệ thống Internet,
qua các cơ quan xúc tiến thương mại, các cơ quan thống kê, qua các sách
báo thương mại được xuất bản, qua quan hệ với thương nhân... Trong đó,
số liệu thông kê là một trong những loại thông tin quan trọng nhất, được
sử dụng nhiều nhất trong nghiên cứu thị trường, đặc biệt là nghiên cứu tại
bàn. Đó là những số liệu thống kê về sản xuất, tiêu thụ, xuất khẩu, dự trữ
tồn kho, giá cả... Nó giúp cho người nghiên cứu có một cái nhìn bao quát
về dung lượng thị trường và xu hướng phát triển.
Nghiên cứu tại bàn, có thể nói là phương pháp phổ thông nhất về
nghiên cứu thị trường, vì nó đỡ tốn kém và phù hợp với khả năng của
những người xuất khẩu mới tham gia vào thị trường thế giới. Tuy nhiên,
nó cũng có những hạn chế như chậm và mức độ tin cậy có hạn. Kết quả
nghiên cứu tại bàn cũng cần phải bổ sung bằng nghiên cứu tại thị trường.
Nội dung thông tin cần thu thập khi nghiên cứu thị trường: nghiên cứu
doanh số bán ra của sản phẩm giảm đi rất nhiều. Để tránh khả năng bị loại
khỏi thị trường đòi hỏi doanh nghiệp phải có những biện pháp cải tiến, đổi
mới mẫu mã kỹ thuật, hoặc thay thế bằng sản phẩm mới.
Từ sự phân tích như trên ta nhận thấy, việc xuất khẩu những mặt
hàng đang ở giai đoạn triển khai và tăng trưởng gặp thuận lợi lớn nhất.
Tuy vậy, có khi mặt hàng đã ở giai đoạn suy thoái nhưng nhờ thực hiện
các biện pháp xúc tiến tiêu thụ (như quảng cáo, cải tiến hệ thống tổ chức
tiêu thụ, giảm giá...) người ta vẫn có thể đẩy mạnh được xuất khẩu.
Tóm lại, có nắm vững mặt hàng ta đang dự định kinh doanh đang ở
giai đoạn nào của chu kỳ sống thì mới có thể xác định những biện pháp
cần thiết để làm tăng doanh số bán hàng và tăng lợi nhuận.
Cấu trúc của cung, nghĩa là xác định tình hình cạnh tranh trên thị
trường. Nếu sự cạnh tranh đã gay gắt, điều đó không có nghĩa là doanh
nghiệp phải rút lui, nó có thể giữ vị trí thế thủ chờ đợi giai đoạn chuyển
sang tấn công
Nghiên cứu những sản phẩm khác cùng đáp ứng nhu cầu còn phải
xác định xem sự cạnh tranh ấy tồn tại được bằng cách nào, tỷ lệ hoa hồng
thường được chấp nhận là bao nhiêu, hậu quả của cạnh tranh như thế nào,
nó sẽ diễn biến ra sao... và khả năng phản ứng của nó trước một đối thủ
mới.
Phân tích tình hình cầu:
16
Từ những thông tin về hàng hoá đang bán cần xác định xem những
sản phẩm nào có thể thương mại hoá được. Người tiêu dùng hiện nay là
những ai, họ được phân nhóm như thế nào, nhóm xã hội, nghề nghiệp,
tuổi, dân tộc, tôn giáo, nam nữ, cách sống...
. Thống kê số lượng khách hàng có nhu cầu mua hàng hoá.
. Sức mua trung bình của một doanh nghiệp, một khách hàng.
. Nhịp độ mua hàng của họ (chu kỳ mua lặp lại).
. Sản phẩm của hãng đang ở thế hệ nào.
văn háo của họ, không thể so bì với văn hoá của ta mà cho rằng nền văn
hoá của họ không tốt, kinh doanh TMQT cần luôn hiểu “ không có một
nền văn hoá nào là tốt hay xấu mà chỉ có sự khác biệt”. Nghiên cứu
chính sách, thể chế của quốc gia khác đặc biệt là yếu tố về luật, thể chế
17
tài chính. Nghiên cứu yếu tố tự nhiên của từng đoạn thị trường: vị trí
địa lý, khí hậu...
1.2: Lựa chọn thị trường xuất khẩu.
Trên cơ sở nghiên cứu tình hình thị trường xuất khẩu giúp đơn vị
kinh doanh lựa chọn thị trường, việc lựa chọn thị trường phải căn cứ vào
những tiêu chuẩn mà các thị trường phải đáp ứng được:
Tiêu chuẩn chung:
- Về chính trị: có những chính thể này thuận lợi hơn những chính thể
khác đối với hoạt động xuất khẩu, nghiên cứu cả những bất chắc chính
trị và sự ổn định của chính thể.
- Về địa lý: khoảng cách địa lý, khí hậu, tháp dân số...
- Về kinh tế: những chỉ tiêu về tổng sản phẩm quốc nội (GDP), GDP
bình quân đầu người, tỷ lệ tăng GDP...
- Về kỹ thuật: những khu vực phát triển và triển vọng phát triển.
Tiêu chuẩn về quy chế thương mại và tiền tệ:
- Biện pháp bảo hộ mậu dịch: thuế quan, các giấy phép và hạn ngạch...
- Tình hình tiền tệ: tỷ lệ lạm phát, sự diễn biến của tỷ giá hối đoái
Tiêu chuẩn về thương mại:
- Phần của sản xuất nội địa
- Sự hiện diện của hàng hoá Việt Nam trên các thị trường
- Sự cạnh tranh quốc tế trên các thị trường lựa chọn.
Những tiêu chuẩn này sau đó phải được cân nhắc, điều chỉnh tuỳ theo
mức quan trọng của chúng đối với doanh nghiệp.
Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp kết quả hoạt động kinh doanh còn
phụ thuộc vào khách hàng. Trong cùng những điều kiện như nhau việc
lập phương án rút ra những nét tổng quát về tình hình, phân tích thuận
lợi và khó khăn trong kinh doanh.
- Lựa chọn mặt hàng, thời cơ, điều kiện và phương thức kinh doanh. Sự
lựa chọn này phải có tính thuyết phục trên cơ sở phân tích những tình
hình có liên quan.
- Đề ra mục tiêu. Những mục tiêu đề ra trong một phương án kinh doanh
bao giờ cũng là mục tiêu cụ thể như: sẽ bán được bao nhiêu hàng với
giá cả bao nhiêu, sẽ thâm nhập vào những thị trường nào...
- Đề ra biện pháp thực hiện. Những biện pháp này có thể bao gồm nhiều
biện pháp trong nước (như đầu tư vào sản xuất, cải tiến bao bì, ký hợp
đồng kinh tế, tăng giá thu mua...) và cả các biện pháp ở ngoài nước
(như đẩy mạnh quảng cáo, lập chi nhánh ở nước ngoài, mở rộng mạng
lưới đại lý...)
- Sơ bộ đánh giá hiệu quả kinh tế của việc kinh doanh thông qua một số
chỉ tiêu chủ yếu: chỉ tiêu tỷ suất ngoại tệ, chỉ tiêu thời gian hoàn vốn,
chỉ tiêu tỷ suất doanh lợi, chỉ tiêu điểm hoà vốn.
Sau khi phương án đã được đề ra, đơn vị kinh doanh phải cố gắng để thực
hiện phương án, tức là tiến tới ký kết hợp đồng mua bán với khách hàng
đã chọn. Nhưng để tiến tới ký kết hợp đồng mua bán với nhau người xuất
khẩu và nhập khẩu thường phải qua một quá trình giao dịch, thương thảo
về các điều kiện giao dịch. Quá trình đó có thể bao gồm những bước chính
như: hỏi hàng, chào hàng, đặt hàng.
- Hỏi hàng: hỏi hàng còn gọi là hỏi giá, tuy không ràng buộc trách nhiệm
của người hỏi, nhưng nếu hỏi nhiều nơi, nhiều hãng quá có thể gây lên
hiểu lầm về nhu cầu của mình. Vả lại, hỏi nhiều sẽ kéo theo việc trả lời
và các công việc hành chính văn thư khác. Điều này cũng dễ gây nên
tốn thời gian và chi phí.
19
- Chào hàng: là lời đề nghị biểu thị muốn bán hàng do người bán đưa ra.
Trước khi chào hàng cần nắm được quan hệ cung cầu về hàng hoá đó
nghĩa vụ nhận tiền hàng và trả tiền hàng.
Về điều kiện hiệu lực của hợp đồng TMQT, theo điều 81 của Luật
Thương mại Việt Nam, hợp đồng mua bán quốc tế có hiệu lực khi có
đủ các điều kiện sau đây:
- Chủ thể của hợp đồng là bên mua và bên bán phải có đủ tư cách pháp
lý.
- Hàng hóa theo hợp đồng là hàng hóa được phép mua bán theo quy định
của pháp luật.
- Hợp đồng mua bán quốc tế phải có các nội dung chủ yếu mà luật pháp
đã quy định.Theo điều 50 của Luật Thương mại Việt Nam, những điều
20
khoản sau buộc phải có trong hợp đồng bao gồm: tên hàng, số lượng,
quy cách chất lượng, giá cả, phương thức thanh toán, địa điểm và thời
hạn giao hàng. Ngoài ra, các bên có thể thoả thuận thêm những nội
dung, những điều khoản khác trong hợp đồng.
- Hình thức của hợp đồng phải là văn bản.
- Nội dung chủ yếu của một hợp đồng TMQT thường bao gồm những
nội dung sau:
. Số hợp đồng
. Địa điểm và ngày tháng ký kết hợp đồng
. Tên và địa chỉ của các đương sự
. Những định nghĩa dùng trong hợp đồng
. Cơ sở pháp lý để kí kết hợp đồng
. Các điều khoản và điều kiện của hợp đồng: điều khoản thương
phẩm, điều khoản tài chính,
điều khoản vận tải, điều khoản pháp lý...
4. Thực hiện hợp đồng xuất khẩu.
Sau khi hợp đồng mua bán ngoại thương được ký kết, đơn vị kinh
doanh xuất khẩu- với tư cách là một bên ký kết- phải tổ chức thực hiện
hợp đồng đó. Đây là một công việc rất phức tạp. Nó đòi hỏi phải tuân thủ
Thương mại theo mã số của danh mục biểu thuết xuất, biểu thuế nhập
khẩu (nếu có). Việc điều chỉnh danh mục hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu
theo giấy phép của Bộ Thương mại, bao gồm cả lộ trình bãi bỏ loại giấy
phép này, do Thủ tướng Chính phủ quyết định trên cơ sở đề nghị của Bộ
trưởng Bộ Thương mại. Việc ký hợp đồng xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá
trong danh mục này chỉ được thực hiện sau khi đã có giấy phép của Bộ
Thương mại.
Hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu thuộc diện quản lý chuyên ngành:
Việc điều chỉnh bổ sung danh mục hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu
thuộc diện quản lý chuyên ngành và nguyên tắc áp dụng do Thủ tướng
Chính phủ quyết định trên cơ sở đề nghị của Thủ trưởng cơ quan quản lý
chuyên ngành và Bộ trưởng Bộ Thương mại, các bộ ngành quản lý chuyên
ngành hướng dẫn thực hiện việc xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá trong
danh mục này.
Thủ tục cấp giấy phép:
Khi đối tượng hợp đồng trong phạm vi phải xin giấy phép xuất nhập
khẩu, doanh nghiệp phải xuất trình hồ sơ xin phép gồm:
Bản sao hợp đồng xuất/nhập
Phải có bản giải trình với mặt hàng cấm xuất/nhập
Đơn xin cấp giấy phép
Đối với hàng hoá xuất nhập khẩu có điều kiện ngoài bản sao giấy tờ,
đơn xin phép phải có bản sao hạn ngạch. Sau khi hoàn tất thủ tục gửi đến
cơ quan cấp giấy phép (Bộ Thương mại), sau đó Bộ Thương mại gửi hồ sơ
đến các bộ quản lý chuyên ngành.
Thời gian cấp giấy phép:
Riêng mặt hàng cấm xuất/nhập thì không quy định thời gian
Với mặt hàng xuất nhập khẩu có điều kiện thì giao cho nhân viên quản
lý thụ lý hồ sơ, sau 3 ngày phải trả lời với những hồ sơ xin
phép cần bổ sung, cần sửa đổi hoặc những hồ sơ không cấp giấy phép
Đối với những hồ sơ hợp lệ cấp giấy phép sau 7 ngày.
Tạo điều kiện thuận lợi cho bốc xếp, di chuyển, vận chuyển và giao
nhận hàng hoá.
Tạo điều kiện cho việc nhận biết phân loại hàng hoá.
Gây ấn tượng và làm cho người mua thích thú hàng hoá.
Trong kinh doanh TMQT người ta thường dùng các loại bao bì như:
hòm, bao, kiện hay bì, thùng... đây là bao bì bên ngoài, ngoài ra còn có
loại bao bì bên trong và bao bì trực tiếp. Nói chung tuỳ thuộc đặc điểm và
tính chất của hàng hoá cần bao gói, vào những điều đã thoả thuận trong
hợp đồng mà lựa chọn loại bao bì thích hợp. Ngoài ra cần phải xét đến
những nhân tố: điều kiện khí hậu môi trường, điều kiện vận tải, bốc xếp
hàng, điều kiện luật pháp thuế quan, chi phí vận chuyển.
Kẻ kýmã hiệu hàng xuất khẩu:
Ký mã hiệu là những ký hiệu bằng chữ, bằng số hoặc bằng hình vẽ
được ghi trên các bao bì bên ngoài nhằm thông báo những chi tiết cần thiết
cho việc giao nhận, bốc dỡ và bảo quản hàng hoá.
23
4.4: Kiểm tra chất lượng hàng xuất khẩu (kiểm nghiệm và kiểm dịch
hàng xuất khẩu).
Một nguyên tắc cơ bản trong mọi khâu, mọi công việc đều cần có
kiểm tra, kiểm nghiệm để có thể hạn chế và loại trừ những lỗi sai trong
quá trình thực hiện.
Trong kinh doanh xuất khẩu cũng vậy, trước khi giao hàng người
xuất khẩu có nghĩa vụ phải kiểm tra hàng về phẩm chất, số lượng, trọng
lượng, bao bì... (tức kiểm nghiệm) hoặc nếu hàng hoá xuất khẩu là động
vật, thực vật phải kiểm tra về khả năng lây lan bệnh tật (tức là kiểm dịch
động vật, kiểm dịch thực vật).
Việc kiểm nghiệm và kiểm dịch phải được tiến hành ở hai cấp: ở cơ
sở và ở cửa khẩu. Trong đó việc kiểm tra ở cơ sở do phòng KCS tiến hành
có vai trò quyết định và có tác dụng triệt để nhất. Còn việc kiểm tra ở cửa
khẩu có tác dụng thẩm tra lại kết quả kiểm tra ở cơ sở và thực hiện thủ tục
Hợp đồng bảo hiểm chuyến: khi mua bảo hiểm chuyến chủ hàng gửi
đến công ty bảo hiểm một văn bản gọi là “giấy yêu cầu bảo hiểm”. Trên cơ
sở giấy yêu cầu này, chủ hàng và công ty bảo hiểm đàm phán ký hợp đồng
bảo hiểm. Hình thức này thường áp dụng với các đợt mua bán riêng lẻ.
Khi ký kết hợp đồng bảo hiểm, cần nắm vững các điều kiện bảo
hiểm, có 3 điều kiện bảo hiểm chính: bảo hiểm mọi rủi ro (điều kiện A),
bảo hiểm có bồi thường tổn thất riêng (điều kiện B), bảo hiểm miễn bồi
thường tổn thất riêng (điều kiện C). Ngoài ra, còn có một số điều kiện bảo
hiểm đặc biệt khác như bảo hiểm chiến tranh, đình công, bạo động.
4.7: Làm thủ tục hải quan.
Hàng hoá vận chuyển qua biên giới quốc gia để xuất khẩu hay nhập
khẩu đều phải làm thủ tục hải quan. Thủ tục hải quan là công cụ để quản lý
hành vi buôn bán theo pháp luật của nhà nước, để ngăn chặn xuất nhập
khẩu lậu qua biên giới, để kiểm tra giấy tờ sai sót giả mạo, để thống kê số
lượng về hàng xuất nhập khẩu. Việc làm thủ tục hải quan bao gồm 3 bước
chủ yếu sau:
Khai báo hải quan: chủ hàng khai báo các chi tiết về hàng hoá lên tờ
khai để cơ quan kiểm tra các thủ tục giấy tờ.
Xuất trình hàng hoá: hàng hoá phải được sắp xếp trật tự thuận tiện cho
việc kiểm soát. Thông thường đối với hàng khối lượng ít, người ta vận
chuyển hàng hoá tới kho của hải quan để kiểm lượng, làm thủ tục hải
quan và nộp thuế (nếu có) đối với hàng xuất khẩu. Còn đối với hàng
hoá xuất nhập khẩu có khối lượng lớn việc kiểm tra giấy tờ hàng hoá có
thể diễn ra ở các nơi sau:
- Tại nơi đóng gói bao kiện
- Tại nơi giao nhận hàng cuối cùng
- Tại cửa khẩu.
Thực hiện các quyết định của hải quan.
4.8: Giao hàng xuất khẩu.
Phần lớn số hàng xuất khẩu ở nước ta được vận chuyển bằng đường