LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY HOẠT ĐỘNG
KINH DOANH CỦA TRUNG TÂM KINH
DOANH THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ MÍA ĐƯỜNG
I
Giáo viên hướng dẫn : Pgs Nguyễn Thừa Lộc
Sinh viên thực hiện : LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây nền kinh tế nước ta có nhiều chuyển biến quan
trọng,chuyển từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường, đã
đặt các nghành ,các doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh gay gắt, bên cạnh
đó là các biến động khoa học ,công nghệ,kinh tế ,chính trị , mang đến cho doanh
nghiệp những cơ hội, nhưng cũng đặt các doanh nghiệp vào môi trường kinh
doanh ngày càng biến động, phức tạp và nhiều rủi ro thách thức. Vì vậy kinh
doanh trong cơ chế thị trường đòi hỏi các doanh nghiệp phải hết sức năng động
,nhạy bén, linh hoạt trước sự biến động của môi trường để khai thác ,tận dụng các
cơ hội và hạn chế rủi ro trong kinh doanh. Một doanh nghiệp kinh doanh có hiệu
quả đòi hỏi phải kết hợp chặt chẽ giữa các chính sách ,chiến lược,kế hoạch ,đồng
thời phải quản lí được mọi hoạt động như mua ,bán ,dự trữ, lao động ,vốn chi phí
,điều chỉnh hoạt động kinh doanh linh hoạt thích ứng với mọi biến động của thị
trường ,trong mối quan hệ kinh tế đa dạng và phức tạp .Trung tâm kinh doanh
thương mại dịch vụ mía đường I là một đơn vị tiêu biểu cho loại hình doanh
nghiệp thương mại nhỏ ở Việt Nam ,hiện nay,đang phải đối mặt với nhiều khó
mại
Chương II: Thực trạng hoạt động kinh doanh của trung tâm kinh doanh
thương mại dịch vụ mía đường :
I-Lịch sử hình thành và phát triển của trung tâm
1-Lịch sử hình thành và phát triển của trung tâm .
2-Chức năng hoạt động của trung tâm .
3-Nhiệm vụ và quyền hạn của trung tâm
4-Chế độ hoạt động tài chính
5-Cơ cấu tổ chức bộ máy hoạt động kinh doanh của trung tâm .
2
6-Mối quan hệ của trung tâm với các đơn vị khác .
II- Đặc điểm hoạt động kinh doanh của trung tâm :
1-Đặc điểm mặt hàng kinh doanh .
2-Đặc điểm thị trường kinh doanh .
III-Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của trung tâm :
1-Các nhân tố khách quan .
2-Các nhân tố chủ quan .
IV-Phân tích thực trạng hoạt động kinh doanh của trung tâm .
1-Hoạt động nghiên cứu thị trường .
2-Hoạt động mua hàng .
3-Hoạt động bán hàng .
4-Chi phí kinh doanh .
5-Hoạt động dự trữ .
6-Khách hàng .
7-Đối thủ cạnh tranh.
8- kết quả hoạt động kinh doanh của trung tâm
V-Nhận xét hoạt động kinh doanh của trung tâm :
1-ưu điểm .
2-Nhược điểm .
tiêu dùng, lao động đó là cần thiết và có ích cho xã hội, nhằm chuyển đổi hình thái
giá trị từ H-T và lĩnh vực lao động đó cũng đòi hỏi được chuyên môn hoá cao, lao
động trong lĩnh vực lưu thông nhằm giúp đỡ cho các nhà sản xuất khỏi việc phân
phối, trao đổi để tập trung chuyên môn hoá cao hơn, nâng coa năng suất và hiệu
quả lao động do yêu cầu khách quan của hoạt động sản xuất kinh doanh, ngành
lưu thông hàng hoá- ngành thương mại dịch vụ ra đời.
Trong lĩnh vực lưu thông hàng hoá có một loại người chuyên dùng tiền tổ
chức mua hàng hoá từ nơi này sang bán ở nơi khác người ta gọi là những nhà buôn
( thương nhân ), những người hoạt động trong lĩnh vực lưu thông hàng hoá chuyên
nghiệp, đó là người kinh doanh thương mại. Giữa các nhà kinh doanh thương mại
và nhà sản xuất có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và tuân theo những quy định
nhất định, mối quan hệ này thể hiện thông qua hoạt động của các doanh nghiệp
thương mại trong nền kinh tế hàng hóa.
4
Như vậy doanh nghiệp thương mại là một đơn vị kinh doanh được thành lập
với mục đích chủ yếu là thực hiện các hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực lưu
thông hàng hoá bao gồm đầu tư tiền của, công sức và tài năng… vào lĩnh vực mua
bán hàng hoá đáp ứng nhu cầu của thị trường nhằm kiếm lợi nhuận.
* Chức năng của doanh nghiệp thương mại :
Giống như các doanh nghiệp khác, doanh nghiệp thương mại cũng là một
đơn vị kinh doanh được thành lập hợp pháp thực hiện các hoạt động kinh doanh để
thu lợi nhuận, tuy nhiên doanh nghiệp thương mại hoạt động trong lĩnh vực phân
phối và lưu thông hàng hoá vì vậy chức năng của doanh nghiệp thương mại có
những điểm khác so với các doanh nghiệp khác, nó là tiêu thức để phân biệt doanh
nghiệp thương mại với các doanh nghiệp sản xuất và doanh nghiệp xây dựng.
Doanh nghiệp thương mại có những chức năng cơ bản sau :
Thứ nhất là chức năng lưu chuyển hàng hóa trong nền kinh tế nhằm thoả
mãn mọi nhu cầu của xã hội về các loại hàng hoá và dịch vụ. Để thực hiện tốt
chức năng này doanh nghiệp thương mại phải nghiên cứu, nắm vững các nhu cầu
nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp đều có nhiệm vụ chung sau đây :
- Hoạt động kinh doanh phải đáp ứng được nhu cầu của thị trường, thực
hiện đầy đủ các cam kết với khách hàng về sản phẩm, dịch vụ, giải quyết thoả
đáng quan hệ lợi ích với các chủ thể kinh doanh và chủ thể khác theo nguyên tắc
bình đẳng và có lợi.
- Bảo toàn, tăng tưởng vốn và mở rộng quy mô kinh doanh, chăm lo đời
sống của người lao động trong doanh nghiệp, tạo đủ việc làm, tăng thêm thu nhập,
thực hiện phân phối cong bằng quỹ khen thưởng, phúc lợi.
- Tuân thủ các quy định cảu nhà nước về môi trường sinh thái, bảo đảm an
ninh và trật tự xã hội, chấp hành các quy định về chế độ hạch toán kế toán, kiểm
toán, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với nhà nước.
Bên cạnh nhiệm vụ chung giống như doanh nghiệp khác, doanh nghiệp
thương mại còn có nhiệm vụ cụ thể sau :
- Đẩy mạnh tốc độ chu chuyển của sản phẩm trong nền kinh tế quốc dân, tổ
chức tốt công tác thu mua, phân phối và giảm bớt các khâu trung gian, giảm chi
phí kinh doanh để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh đặc biệt là chi phí lưu
thông.
- Phải thoả mãn kịp thời, đầy đủ và thuận lợi các nhu cầu về hàng hoá, dịch
vụ của khách hàng, tạo nguồn thu mua có chất lượng tốt, ổn định, giá cả phải
6
chăng.
- Đẩy mạnh các hoạt động tiếp tục quá trình sản xuất trong khâu lưu thông
và phát triển các hoạt động dịch vụ thương mại đó là các hoạt động phục vụ cho
hoạt động mua bán, dự trữ, bảo quản nhằm đảm bảo thuận tiện cho khách hàng.
- Không ngừng hoàn thiện bộ máy quản lý và mở rộng mạng lưới kinh
doanh trên thị trường trọng điểm và thị trường tiềm năng.
2. Các loại hình doanh nghiệp thương mại.
Trong nền kinh tế thị trường, các loại hình doanh nghệp thương mại rất
phong phú, tuy nhiên căn cứ vào tính chất các mặt hàng kinh doanh, doanh nghiệp
- Đặc trưng của nền kinh tế thị trường :
+ Trong nền kinh tế thị trường mọi hoạt động kinh doanh đều phải dựa vào thị
trường, điều đó phát huy tính chủ động, sáng tạo của các doanh nghiệp và tăng
được khả năng thích ứng của doanh nghiệp trước sự thay đổi của thị trường.
+ Hàng hoá ngày càng phong phú và đa dạng hơn và cạnh tranh trở nên khốc
liệt không những chỉ giữa người bán với người mua mà còn cạnh tranh giữa người
mua với người bán, người mua với người mua.
+ Trong cơ chế thị trường, mỗi doanh nghiệp đều nằm trong mối quan hệ đa
dạng và phức tạp.
- Yêu cầu với doanh nghiệp thương mại trong nền kinh tế thị trường:
+ Doanh nghiệp thương mại thực hiện chức năng lưu thông, thực hiện chu trình
T- H – T’ vì vậy điều trước tiên khi tham gia vào thị trường doanh nghiệp phải có
vốn.
+ Phải thực hiện hành vi mua, bán, mục đích của doanh nghiệp thương mại là
mua hàng để bán kiếm lợi nhuận vì vậy đồi hỏi doanh nghiệp phải nghiên cứu thị
trường, xác định nhu cầu của khách hàng và tìm nguồn hàng để đáp ứng.
+ Không chỉ đối với doanh nghiệp thương mại mà còn với các doanh nghiệp nói
chung để có thể tồn tại và phát triển trong cơ chế thị trường đòi hỏi sau mỗi chu
kỳ kinh doanh phải bảo toàn và phát triển vốn.
- Mục đích của doanh nghiệp thương mại trong nền kinh tế thị trường :
Chúng ta biết rằng kinh doanh là hoạt động đầu tư tiền của, sức lao động
vào một lĩnh vực nào đó nhằm kiếm lợi nhuận, đó là mục tiêu chính của doanh
nghiệp. Tuy nhiên để đạt được mục tiêu cuối cùng đó thì bất cứ doanh nghiệp nào
trên thị trường cũng phải đối mặt với cạnh tranh, giành vị thế và không ngừng mở
rộng thị trường, thu hút khách hàng, mở rộng quy mô kinh doanh, mặt hàng kinh
8
doanh, phục vụ tốt nhất các nhu cầu của khách hàng qua đó giành phần chiếm lĩnh
những khu vực thị trường chính có thể tìm kiếm vị trí đứng đầu để mục đích cuối
cùng là thu được lợi nhuận lớn nhất, cho nên trong những giai đoạn khác nhau,
doanh nghiệp có thể gặp may trong thương vụ này nhưng có thể phải đối mặt với
9
rủi ro không thể lường trước được do sự biến động của môi trường kinh doanh
trong đó có những yếu tố doanh nghiệp dự đoán được nhưng có những yếu tố mà
doanh nghiệp không dự đoán được. Chính vì vậy trong kinh doanh khi quyết định
hay lựa chọn một phương án nào các doanh nghiệp luôn đặt ra tiêu chuẩn mức độ
an toàn, với mục đích này các doanh nghiệp cần phải đa dạng hoá trong kinh
doanh hay dành chi phí bảo hiểm phù hợp.
- Tầm quan trọng của thị trường đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
thương mại :
Thị trường là một phạm trù kinh tế hàng hoá, đứng trên những góc độ khác
nhau người ta mô tả thị trường khác nhau. Đối với doanh nghiệp có thể hiểu thị
trường là nơi mua bán hàng hoá, là quá trình trong đó người mua và người bán
một thứ hàng hoá tác động qua lại với nhau để xác định giá cả, số lượng hàng, thị
trường là nơi diễn ra các hoạt động mua bán bằng tiền trong thời gian và khong
gian nhất định. Đứng dưới giác độ thị trường của một doanh nghiệp thương mại có
thể mô tả thị trường gồm thị trường đầu vào và thị trường đầu ra, thị trường đầu
vào là các nguồn cung ứng hàng còn thị trường đầu ra là các khách hàng ở những
nơi khác nhau. Thị trường đầu ra có liên quan trực tiếp đến mục tiêu của doanh
nghiệp, bất cứ một yếu tố nhỏ nào của thị trường này đều ảnh hưởng đến khả năng
thành công hay thất bại trong kinh doanh. Đặc điểm và tính chất của thị trường
đầu ra là cơ sở để doanh nghiệp hoạch định, tổ chức thực hiện các chiến lược, sách
lược công cụ điều khiển trong kinh doanh.
Đối với một doanh nghiệp, thị trường luôn ở vị trí trung tâm, thị trường có
sức ảnh hưởng mạnh mẽ đến từng hoạt động của doanh nghiệp vì thị trường là
mục tiêu của người kinh doanh cũng là môi trường của hoạt động kinh doanh hàng
hoá:
+ Thị trường là yếu tố quyết định đến sự sống còn của doanh nghiệp vì hoạt
động kinh doanh diễn ra trên thị trường, thông qua hoạt động này các doanh
nếu như trước kia các doanh nghiệp kinh doanh theo kế hoạch của nhà nước thì
bây giờ mọi hoạt động kinh doanh đều xuất phát từ thị trường, thị trường đầy bí ẩn
và không ngừng thay đổi. Do vậy để kinh doanh có hiệu quả, doanh nghiệp phải
nghiên cưú thị trường.
Nghiên cứu thị trường là quá trình tìm kiếm khách quan và có hệ thống cùng
với sự phân tích thu tạp thông tin cần thiết để giải quyết các vấn đề cơ bản của
11
kinh doanh. Bởi vậy nghiên cứu thị trường giúp nhà kiinh doanh có thể đạt được
hiệu quả cao và thực hiện được các mục đích của mình, đó cũng là khâu mở đầu
cho hoạt động kinh doanh, quyết định sự thành công hay thất bại của doanh
nghiệp.
Cơ chế thị trường làm cho hàng hoá phong phú, cung luôn có xu hướng lớn
hơn cầu, bán hàng ngày càng khó khăn, mức độ rủi ro cao, các doanh nghiệp muốn
thành công thì phải thoả mãn tốt nhu cầu của khách hàng, mọi hoạt động kinh
doanh đều hướng vào khách hàng.
Nghiên cứu nhu cầu thị trường đòi hỏi doanh nghiệp phải nắm được thông tin
về loại hàng hóa, dịch vụ kinh doanh, dung lượng, yêu cầu về quy cách, chất
lượng, mẫu mã… hiểu rõ thị hiếu, phong tục tập quán tiêu dùng ở mỗi nhóm và
mỗi khu vực, tìm hiểu thông tin về đối thủ cạnh tranh, thể hiện :
- Thứ hạng phẩm cấp chất lượng nào phù hợp với nhu cầu thị trường của doanh
nghiệp.
- Đâu là mục tiêu của doanh nghiệp, sản phẩm xương sống của doanh nghiệp,
khách hàng nào? khu vực? nhu cầu hiện tại và tương lai của hàng hoá mà doanh
nghiệp kinh doanh và các mặt hàng khác doanh nghiệp đang quan tâm.
- Các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu của hàng hoá doanh nghiệp kinh doanh, ưu
và nhược điểm của đối thủ cạnh tranh.
- Nguồn hàng nào thì phù hợp với nhu cầu của khách, phân phối như thế nào
cho hợp lý và nên cạnh tranh bằng hình thức nào ?
Đó là toàn bộ thông tin cơ bản và cần thiết mà một doanh nghiệp phải nghiên
quan hệ với bạn hàng, khách hàng và đơn vị có liên quan.
Nguồn vốn hữu hình bao gồm tài sản cố định và tài sản lưu động. Tài sản cố
định bao gồm toàn bộ cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động kinh doanh như văn
phòng, cửa hàng, hệ thống kho, các trang thiết bị, phương tiện vận chuyển…nguồn
này góp phần tạo nên sức mạnh, uy thế của doanh nghiệp và giúp cho hoạt động
kinh doanh thuận lợi. Tài sản lưu động bao gồm vật liệu đóng gói, bao bì, nhiên
liệu, dụng cụ và các khoản tiền mặt, ngân phiếu, tiền nhờ thu…
13
Trong một doanh nghiệp kinh doanh, vốn là vấn đề quan trọng và được quan
tâm nhiều nhất. Không có vốn hoặc quá ít vốn doanh nghiệp không thể kinh doanh
có hiệu quả được. Vốn lớn giúp doanh nghiệp thanh toán cho người cung cấp đúng
hẹn, tránh nợ đọng tràn lan, tạo dựng niềm tin và củng cố các quan hệ với đơn vị
nguồn hàng, doanh nghiệp có thể áp dụng hình thức trả tiền trước để có được
nguồn hàng ổn định nhất là khi nhu cầu thị trường căng hoặc có thể áp dụng hình
thức thanh toán chậm với khách hàng để duy trì thu hút thêm khách. Ngoài ra còn
khắc phục hiện tượng dự trữ quá ít hoặc không có dự trữ, tránh tình trạng không
đủ đáp ứng nhu cầu khách .
Bên cạnh yếu tố vốn kinh doanh thì yếu tố con người cũng góp phần không
nhỏ trong kinh doanh. Nguồn vốn mà doanh nghiệp huy động vào kinh doanh là
quý tuy nhiên nguồn vốn thì có hạn nhất là trong điều kiện huy động vốn khó
khăn. Sử dụng và khai thác nguồn vốn này có hiệu quả phụ thuộc vào tài năng,
kinh nghiệm và trình độ quản lý, bộ máy điều hành của doanh nghiệp hay nói tóm
lại đó là nhờ vào yếu tố con người. Đội ngũ cán bộ của doanh nghiệp là phần cơ
bản quan trọng, nếu bộ phận này thực hiện tốt chức năng của mình doanh nghiệp
mới tồn tại và phát triển được, ngược lại nó chỉ có tác dụng hình thức thì hoạt
động của doanh nghiệp không thể có hiệu quả được.
3. Tổ chức các hoạt động nghiệp vụ.
Các hoạt động nghiệp vụ của doanh nghiệp thương mại bao gồm công tác tạo
nguồn, dự trữ, phân phối, bán hàng và thực hiện các hoạt động dịch vụ.
+Mua của người chán bán cho người cần .
+Mua nơi giá thấp, bán nơi giá cao .
+Mua tận gốc bán tận ngọn .
-Khi mua hàng phải lập kế hoạch thu mua có cơ sở khoa học :
+Mua phải bán được và có lợi nhuận .
+Cơ cấu thu mua phải phù hợp với nhu cầu .
+Phải xác định được khối lượng mặt hàng chủ lực .
+Số lượng mua theo kế hoach phải lớn hơn hoặc bằng số lượng bán ra theo kế
hoạch (Khối lượng lớn hoưn ở mức có giới hạn )
15
-Doanh nghiệp phải nắm bắt được thông tin kịp thời ,lựa chọn cơ hội mua hàng tốt
nhất
* Hoạt động dự trữ : Doanh nghiệp thương mại làm nhiệm vụ lưu thông hàng
hoá, trong quá trình vận động đưa hàng từ sản xuất đến tiêu dùng thường xuyên có
một bộ phận hàng hoá đang trên đường vận chuyển, ở các kho của doanh nghiệp
thương mại hoặc được giữ lại chờ tiêu dùng, bộ phận hàng hoá này gọi là dự trữ.
Mục đích của dự trữ ở doanh nghiệp thương mại là để đảm bảo bán hàng diễn
ra liên tục, đều đặn, sẵn sàng phục vụ khách hàng ngay khi có nhu cầu, tạo dựng
niềm tin, uy tín với khách hàng, tạo điều kiện mở rộng quy mô kinh doanh.
Thông thường ở doanh nghiệp thương mại có 2 loại dự trữ là dự trữ thường
xuyên và dự trữ bảo hiểm. Dự trữ thường xuyên là lượng dự trữ chủ yếu nhằm
thoả mãn thường xuyên, đều đặn nhu cầu của khách hàng. Dự trữ bảo hiểm là bộ
phận dự trữ đề phòng khi có trường hợp công tác thu mua tạo nguồn không theo
đúng kế hoạch về thời gian, số lượng, chủng loại để đáp ứng nhu cầu.
Ngoài ra với doanh nghiệp kinh doanh những mặt hàng có tính thời vụ về sản
xuất, lưu thông, tiêu dùng thì có bộ phận dự trữ thời vụ.
Dự trữ đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp, dự trữ không đủ mức cần thiết có nguy cơ làm gián đoạn hoạt động kinh
doanh, mặt khác dự trữ quá nhièu dẫn đén tình trạng ứ đọng hàng hoá, vốn chậm
tăng tiền bán ra và chỉ thông qua bán hàng cho người tiêu dùng giá trị của sản
phẩm dịch vụ mới được thực hiện do đó mới có điều kiện thực hiện mục đích của
doanh nghiệp.
Bán hàng chỉ là một phương pháp giao tiếp trong kinh doanh cho phép các
thượng vụ phù hợp với yêu cầu của khách trong quá trình mua bán. Người bán
hàng có thể đáp ứng yêu cầu của người mua và quan sát phản ứng của họ, một
nhân viên bán hàng thành cong phải là người có kinh nghiệm đánh giá khách hàng
và có thê điều chỉnh nội dung thực hiện bán cho phù hợp với yêu cầu của người
mua.
17
Mạng lưới bán hàng của doanh nghiệp thương mại bao gồm các cửa hàng và
hệ thống đại lý được bố trí rộng và thuận tiện đề phục vụ khách hàng, tuy nhiên
khi xây dựng mạng lưới kinh doanh doanh nghiệp cần phải bố trí phù hợp với quá
trình vận động của hàng hoá từ nguồn hàng đến nơi tiêu dùng, mạng lưới cửa
hàng phải được bố trí ở những nơi đông dân cư, những địa điểm thuận lợi cho mua
bán, phải tính đến hiệu quả của từng điểm bán cũng như của toàn bộ doanh
nghiệp, tránh sự diệt trừ lẫn nhau.
Đối với hoạt động bán hàng doanh nghiệp phải tuân thủ các nguyên tắc:
+ Khối lượng mặt hàng và chất lượng hàng hoá phải đáp ứng được yêu cầu
của khách hàng.
+ Tổ chức tốt các hoạt động dịch vụ trong quá trình bán.
+ Áp dụng phương pháp bán và quy trình bán hoàn thiện đảm bảo năng suất
lao động, chất lượng dịch vụ phục vụ khách hàng không ngừng nâng cao, vì vậy
đối với nhân viên bán hàng phải chọn những người tinh thông về nghiệp vụ hàng
hoá, có khả năng tuyên truyền giới thiệu, phải biết sử dụng các phương tiện, dụng
cụ trong quá trình phục vụ khách tạo không khí vui vẻ thực sự có thể nắm bắt
được tâm lý khách hàng và đáp ứng thoả đáng nhu cầu.
+ Làm tốt công tác quảng cáo, kết hợp quảng cáo với bán hàng làm cho hoạt
động quảng cáo phát huy tác dụng thúc đẩy bán hàng.
nghiệp.
- Vốn kinh doanh đóng vai trò quan trọng đối với sự ra đời, hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp, qua vốn kinh doanh cho phép biết được tièm lực của
doanh nghiệp, vốn kinh doanh quyết định quy mô kinh doanh, mặt hàng kinh
doanh.
Vốn của doanh nghiệp thương mại là thể hiện bằng tiền của tì sản lưu động,
tài sản cố định. Quản tri vốn kinh doanh thực chất là thực hiện sử dụng vốn tong
kinh doanh và theo dõi được kết quả sử dụng vốn lãi hay lỗ qua đó đưa ra biện
pháp khắc phục.
19
Bất kỳ doanh nghiệp nào dù hoạt động trong phạm vi lớn hay nhỏ đều quan
tâm đến hiệu quả sử dụng vốn . Vì vậy quản lý tốt vốn kinh doanh nhằm tăng vòng
quay vốn nhanh tạo ra sự linh hoạt trong kinh doanh.
Vốn kinh doanh có vai trò quan trọng quyết định sự tồn tại và phát triển của
doanh nghiệp tuy nhiên nó chỉ phát huy tác dụng khi được bảo toàn và tăng lên sau
mỗi chu kỳ kinh doanh, sử dụng nó một cách đúng hướng, hợp lý, tiết kiệm và có
hiệu quả vì vậy quản lý vốn là cần thiết. Để quản trị vốn tốt doanh nghiệp phải
thường xuyên đánh giá tình hình sử dụng vốn như : việc phân bổ vốn đã hợp lý
chưa, cơ cấu vốn, xem xét khả năng thanh toán của doanh nghiệp, đồng thời đánh
giá hiệu quả sử dụng vốn qua các chỉ tiêu: sức sản xuất của vốn, sức sinh lợi của
vốn, tốc độ luân chuyển vốn, thời gian một vòng lưu chuyển. Khả năng sinh lời
của vốn qua dánh giá các chỉ tiêu đưa ra kết luận và đề ra biện pháp khắc phục.
- Chi phí kinh doanh bao gồm chi mua hàng và chi phí lưu thông, chi phí
kinh doanh ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp , bởi vì:
lợi nhuận = doanh thu - chi phí.
Do đó chi phí cao làm lợi nhuận giảm. Đối với các doanh nghiệp, chi phí
giữ vai trò quan trọng vì vậy phải quản trị chi phí, quản trị chi phí là phải có kế
hoạch chi, phải theo dõi và tính toán đúng đắn các khoản chi, tiết kiệm chi phí, chi
phải đúng mục đích, đúng kế hoạch và đúng hướng, chi phải có thu, chi để tạo ra
Thông thường người ta phân loại các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp thành các yếub tố chủ quan và các yếu tố khách quan các
yếu tố chủ quan là các yếu tố thuộc bản thân doanh nghiệp ,doanh nghiệp có thể
kiểm soát hoặc điều chỉnh được nó,các yếu tố khách quan là các yếu tố mà doanh
nghiệp không thể điều chỉnh và kiểm soát được.
1-Các nhân tố khách quan :Là các nhân tố mà doanh nghiệp không thể
kiểm soát được nó tác động liên tục đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
theo những xu hướng khác nhau, vừa tạo ra cơ hội vừa hạn chế khả năng thực hiện
mục tiêu của doanh nghiệp. Hoạt động kinh doanh đòi hỏi phải thường xuyên nắm
bắt được các nhân tố này, xu hướng hoạt động và sự tác động của các nhân tố đó
lên toàn bộ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
21
Các nhân tố khách quan bao gồm các yếu tố chính trị, luật pháp, văn hoá, xã
hội, công nghệ, kỹ thuật, kinh tế, điều kiện tự nhiên, cơ sở hạ tầng và quan hệ kinh
tế, đây là những yếu tố mà doanh nghiệp không thể kiểm soát được đồng thời nó
có tác động chung đến tất cả các doanh nghiệp trên thị trường. Nghiên cứu những
yếu tố này doanh nghiệp không nhằm để điều khiển nó theo ý kiến của mình mà
tạo ra khả năng thích ứng một cách tốt nhất với xu hướng vận động của mình.
- Yếu tố chính trị và luật pháp :
Các yếu tố thuộc môi trường chính trị và luật pháp tác động mạnh đến việc
hình thành và khai thác cơ hội kinh doanh và thực iện mục tieue của doanh nghiệp.
ổn định chính trị là tiền đề quan trọng cho hoạt động kinh doanh, thay đổi về chính
trị có thể gây ảnh hưởng có lợi cho nhóm doanh nghiệp này hoặc kìm hãm sự phát
triển của doanh nghiệp khác. Hệ thống pháp luật hoàn thiện và sự nghiêm minh
trong thực thi pháp luật sẽ tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các doanh
nghiệp, tránh tình trạng gian lận,buôn lậu ...
Mức độ ổn định về chính trị và luật pháp của một quốc gia cho phép
doanhnghiệp có thể đánh giá được mức độ rủi ro, của môi trường kinh doanh và
ảnh hưởng của của nó đến doanh nghiệp như thế nào, vì vậy nghiên cứu các yếu tố
thiết bị khả năng sản xuất sản phẩm với chất lượng khác nhau, Năng suất lao động
và khả năng cạnh tranh, lựa chọn và cung cấp công nghệ .
-Điều kiện tự nhiên và cơ sở ha tầng : Các yếu tố điều kiện tự nhieen như khí
hậu ,thời tiết ảnh hưởng đến chu kỳ sản xuất kinh doanh trong khu vực , hoặc ảnh
hưởng đến hoạt động dự trữ , bảo quản hàng hoá. Đối với cơ sở hạ tầng kỹ thuật
,các điều kiện phục vụ cho sản xuất kinh doanh một mặt tạo cơ sở cho kinh doanh
thuận lợi khi khai thác cơ sở hạ tầng sẵn có của nền kinh tế, mặt khác nó cũng có
thể gây hạn chếkhả năng đầu tư, phát triển kinh doanh đặc biệt với doanh nghiệp
thương mại trong quá trình vận chuyển, bảo quản, phân phối…
-Yếu tố khách hàng : Khách hàng là những người có nhu cầu và khả năng
thanh toán về hàng hoá và dịch vụ mà doanh nghiệp kinh doanh . Khách hàng là
nhân tố quan trọng quyết định sự thành bại của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị
23
trường. Khách hàng có nhu cầu rất phong phú và khác nhau tuỳ theo từng lứa tuổi,
giới tính mức thu nhập, tập quán …Mỗi nhóm khách hàng có một đặc trưng riêng
phản ánh quá trình mua sắm của họ. Do đó doanh nghiệp phải có chính sách đáp
ứng nhu cầu từng nhóm cho phù hợp.
-Đối thủ canh tranh : Bao gồm các nhà sản xuất, kinh doanh cùng sản phẩm
của doanh nghiệp hoặc kinh doanh sản phẩm có khả năng thay thế. Đối thủ canh
tranh có ảnh hưởng lớn đến doanh nghiệp, doanh nghiệp có cạnh tranh được thì
mới vó khả năng tồn tại ngược lại sẽ bị đẩy lùi ra khỏi thị trường , Cạnh tranh giúp
doanh nghiệp có thể nâng cao hoạt động của mình phục vụ khách hàng tốt hơn
,nâng cao được tính năng động nhưng luôn trong tình trạng bị đẩy lùi.
-Người cung ứng : Đó là các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong và
ngoài nước mà cung cấp hàng hoá cho doanh nghiệp, người cung ứng ảnh hưởng
đến hoạt động kinh doanh cua doanh nghiệp không phải nhỏ ,điều đó thể hiện
trong việc thực hiện hợp đồng cung ứng, độ tin cậy về chất lượng hàng hoá, giá
cả, thời gian, điạ điểm theo yêu cầu …
2-Các yếu tố chủ quan : Là toàn bộ các yếu tố thuộc tiềm lực của doanh