Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại BIDV Quảng Ninh - Pdf 10

Lời mở đầu
Một nền kinh tế muốn phát triển nhanh và bền vững trớc hết phải đợc đáp ứng
nhu cầu về vốn đầu t. Vậy vốn đầu t cho nền kinh tế có thể đợc cung cấp từ những
nguồn nào? Đó là: vốn tự có của chủ đầu t; vốn từ Ngân sách Nhà nớc; vốn đầu t từ n-
ớc ngoài; vốn vay ngân hàng
Xuất phát từ đặc điểm kinh tế xã hội của nớc ta, có thể nói nguồn vốn đầu t
từ ngân hàng là nguồn vốn quan trọng nhất. Các ngân hàng thơng mại đã và đang góp
một phần rất lớn vào sự nghiệp Công nghiệp hóa- Hiện đại hóa của đất nớc. Tuy
nhiên, ở nớc ta, gói gọn trong thập niên mà chúng ta đang sống, sự sụp đổ hoàn toàn
của hệ thống hợp tác xã tín dụng, sự ra đi của một số NHTM cổ phần và ngay cả một
số NHTM quốc doanh nếu không có sự nâng đỡ từ phía Nhà nớc thì chắc gì đã tồn
tại đợc. Nhng rõ ràng những sự nâng đỡ nh thế không phải là giải pháp tối u, đặc
biệt là khi nớc ta tiến tới hội nhập với khu vực và thế giới. Những bài học xơng máu
từ những Epco- Minh Phụng, Tamexco ở trong n ớc hay các cuộc sụp đổ ngân hàng
trong khu vực chỉ vừa mới xảy ra gần đây khiến chúng ta không thể không quan tâm
đến việc khắc phục những tồn tại yếu kém nhằm nâng cao hơn nữa chất lợng hoạt
động của các NHTM. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc xây dựng một nền kinh tế
vững mạnh năng động.
Qua quá trình học tập, nghiên cứu tại nhà trờng và thời gian thực tập tại Ngân
hàng Đầu t và phát triển Quảng Ninh, một ngân hàng giữ vai trò chủ lực trong cho
vay trung và dài hạn phục vụ cho đầu t và phát triển kinh tế trên địa bàn tỉnh Quảng
Ninh. Nhận thấy những vấn đề còn tồn tại trong tín dụng trung và dài hạn, em quyết
định chọn đề tài :Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lợng tín dụng trung và dài
hạn tại chi nhánh Ngân hàng Đầu t và phát triển Quảng Ninh làm chuyên đề tốt
nghiệp của mình với hy vọng đóng góp một phần nhỏ bé vào việc nâng cao hơn nữa
chất lợng tín dụng trong hoạt động của Chi nhánh Ngân hàng Đầu t và phát triển
Quảng Ninh nói riêng và các NHTM nói chung.
1
Mặc dù đợc sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo Kiều Đức Thiện và tập thể
CBCNV trong Chi nhánh Ngân hàng Đầu t và phát triển Quảng Ninh, bản thân em
cũng hết sức cố gắng, nhng do trình độ lý luận và thực tiễn có hạn mà đây lại là một

chức năng phân phối lại vốn tiền tệ của tín dụng ngân hàng là do đặc điểm tuần hoàn
vốn trong quá trình tái sản xuất xã hội đã thờng xuyên xuất hiện hiện tợng tạm thời
thừa vốn ở nơi này, trong khi ở nơi khác lại thiếu vốn. Hiện tợng thừa thiếu phát sinh
do có sự chênh lệch về thời gian, số lợng giữa các khoản thu nhập và chi tiêu, trong
khi quá trình tái sản xuất đòi hỏi phải đợc tiến hành liên tục. Tín dụng thơng mại đã
không giải quyết đợc vấn đề này, chỉ có ngân hàng là tổ chức chuyên kinh doanh tiền
tệ mới có khả năng giải quyết mâu thuẫn đó.
3
I.1.2. Vai trò của tín dụng trung và dài hạn ngân hàng trong nền kinh tế
thị trờng.
Trong nền kinh tế thị trờng, vai trò của tín dụng ngân hàng đối với nền kinh tế
đã đợc thay đổi về bản chất so với nền kinh tế tập trung trớc kia. Thời kỳ mà nền kinh
tế của nớc ta là nền kinh tế bao cấp thì tín dụng ngân hàng chỉ là một công cụ cấp
phát thay Ngân sách. Ngày nay, vai trò của tín dụng ngân hàng phải thực sự đợc sử
dụng là một đòn bẩy kinh tế, là nhân tố thúc đẩy lực lợng sản xuất phát triển, điều tiết
và di chuyển vốn, tăng thêm tính hiệu quả của vốn tiền tệ đối với nền kinh tế.
Tín dụng trung và dài hạn là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng.
Mối quan hệ này đợc hình thành trên cơ sở sự thỏa thuận giữa các bên tham gia dựa
trên nguyên tắc cùng có lợi. Nh vậy rõ ràng việc tham gia vào quan hệ tín dụng này là
hoàn toàn tự nguyện và nó đem lại lợi ích cho cả hai bên tham gia là ngân hàng và
khách hàng. Không chỉ có vậy, ngân hàng và doanh nghiệp là hai chủ thể quan trọng
hàng đầu trong nền kinh tế quốc dân, do đó việc nâng cao hiệu quả hoạt động của hai
chủ thể này sẽ góp phần vào sự phát triển chung của toàn bộ nền kinh tế. Ngày nay
với sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của các NHTM , ta có thể thấy tín dụng ngân
hàng có vai trò quan trọng nh thế nào đối với sự vận hành của một nền kinh tế, trong
đó tín dụng trung và dài hạn có vai trò đặc biệt quan trọng trong cho việc phát triển
kinh tế của đất nớc. Tóm lại, việc mở rộng quy mô và nâng cao chất lợng tín dụng
trung và dài hạn là cần thiết khách quan, nó đem lại lợi ích cho cả ba chủ thể là ngân
hàng , doanh nghiệp và nền kinh tế nói chung.
* Đối với ngân hàng: Hoạt động tín dụng là hoạt động chủ yếu nhất của một

các nhu cầu đó của mình, song một trong những nguồn quan trọng nhất thờng đợc
các doanh nghiệp sử dụng là nguồn vốn tín dụng ngân hàng. Đặc biệt trong điều kiện
đang phát triển của Việt Nam nhu cầu cho đầu t phát triển sản xuất kinh doanh của
các doanh nghiệp là rất lớn. Trong khi đó nguồn vốn tự tích lũy của các doanh nghiệp
5
lại rất thấp, nguồn vốn nhàn rỗi trong dân c rất dồi dào nhng việc đầu t trực tiếp vào
các doanh nghiệp còn khá xa lạ đối với họ, thị trờng chứng khoán đã ra đời song mới
chỉ ở thời kỳ sơ khai nên là một trở ngại lớn cho các doanh nghiệp trong việc huy
động vốn. Trong điều kiện nh vậy thì vốn tín dụng ngân hàng là một sự lựa chọn hiệu
quả nhất.
Trong môi trờng nền kinh tế cạnh tranh gay gắt các chủ thể kinh doanh luôn
phải chủ động tìm kiếm và thực hiện nhiều biện pháp để làm cho sản phẩm có đợc
chỗ đứng trên thị trờng. Điều này đồng nghĩa với việc doanh nghiệp phải không
ngừng đổi mới, đầu t trang thiết bị hiện đại, mở rộng dây chuyền sản xuất, nâng cao
chất lợng sản phẩm thì doanh nghiệp mới có thể tồn tại và phát triển trên thị trờng.
Do đó vấn đề đầu t cho phát triển sản xuất đợc đa ra nh một yêu cầu bức thiết đối với
mỗi doanh nghiệp.
Mục đích của tín dụng trung và dài hạn đối với các doanh nghiệp là đầu t vào
mở rộng sản xuất, xây dựng cơ sở hạ tầng mua sắm trang thiết bị công nghệ hiện đại,
tức là đầu t theo chiều sâu nên ta có thể thấy tác động trực tiếp của tín dụng trung và
dài hạn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tài sản cố định, cơ sở
vật chất kỹ thuật, công nghệ hình thành từ vốn vay dài hạn sẽ đợc cải tạo nâng cấp và
hiện đại hóa làm cho năng suất lao động đợc nâng cao, giảm giá thành sản phẩm, dẫn
đến sản phẩm sản xuất ra có sức hấp dẫn thu hút khách hàng sẽ thúc đẩy chiếm lĩnh
thị trờng. Từ đó làm tiền đề cho việc tăng lợi nhuận của các doanh nghiệp.
* Đối với nền kinh tế: Nền kinh tế của mỗi quốc gia trong mỗi thời kỳ, dù đó
là một quốc gia chậm phát triển, đang phát triển hay phát triển thì nhu cầu vốn trung
và dài hạn cho đầu t phát triển đều rất cần thiết. Đối với các nớc chậm phát triển hoạt
động đầu t chủ yếu là theo chiều rộng dới hình thức xây dựng mới, các nớc phát triển
thì chủ yếu đầu t chiều sâu theo hớng hiện đại hóa, còn các nớc đang phát triển thì

7
nghiệp hóa _ Hiện đại hóa. Trớc mắt là nhu cầu về vốn nhất là vốn trung và dài hạn
để đầu t xây dựng và phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật, đổi mới và nâng cao trình độ
công nghệ, máy móc thiết bị, chuyển dịch nền kinh tế từ nông nghiệp lạc hậu sang
nền kinh tế hiện đại với cơ cấu Công nghiệp - Nông nghiệp - Dịch vụ hợp lý, phát
triển sản xuất trong nớc theo cả chiều rộng và chiều sâu. Nguồn vốn để đáp ứng cho
nhu cầu đầu t bao gồm cả vốn đầu t trong nớc và vốn đầu t nớc ngoài. Tuy nhiên bài
học kinh nghiệm từ các nớc trong khu vực trong thời gian qua đã cho thấy việc quá
lạm dụng vào vốn nớc ngoài sẽ đa đất nớc đến những biến động về tài chính tiền tệ
không thể kiểm soát nổi. Chính vì nhận thức đợc tầm quan trọng của vốn trong nớc
nên tại Đại hội Đảng lần VIII đã khẳng định: Vốn n ớc ngoài là quan trọng, vốn
trong nớc là quyết định . Đối với nguồn vốn trong nớc thì nguồn vốn cấp phát từ
Ngân sách Nhà nớc rất hạn hẹp, không thể đầu t dàn trải cho nhiều lĩnh vực mà chủ
yếu tập trung xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng và một số công trình công nghiệp
lớn. Nguồn vốn tự tích lũy của hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay quá nhỏ
bé, không thể đáp ứng nhu cầu đổi mới trang thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất.
Chỉ có nguồn vốn nhàn rỗi trong dân c là khá dồi dào song việc huy động đợc nguồn
vốn này lại không phải là dễ dàng. Các hình thức đầu t trực tiếp vào các doanh nghiệp
vẫn còn rất xa lạ với đại bộ phận công chúng. Thị trờng chứng khoán mới ra đời và
cha phát triển hoàn thiện do đó việc huy động vốn bằng phát hành cổ phiếu và trái
phiếu gặp phải nhiều khó khăn. Trong bối cảnh đó thì hiện tại và thời gian tới vốn tín
dụng ngân hàng vẫn đóng vai trò quyết định cho tiến trình Công nghiệp hóa_ Hiện
đại hóa đất nớc. Vì vậy mở rộng và nâng cao chất lợng tín dụng trung và dài hạn là
điều kiện cần thiết góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế của đất nớc.
I.1.3. Các loại hình tín dụng chủ yếu trong ngân hàng.
Trong quản lý tín dụng Ngân hàng, các nhà kinh tế thờng dựa vào các tiêu thức
khác nhau để phân loại tín dụng. Sau đây là các cách phân loại cụ thể:
8
Thứ nhất, căn cứ vào thời hạn, tín dụng đợc phân làm 3 loại: Tín dụng ngắn
hạn, tín dụng trung hạn và tín dụng dài hạn.

thực hiện.
I.2.Chất lợng tín dụng Ngân hàng trong nền kinh tế thị trờng.
I.2.1.Khái niệm chất lợng tín dụng Ngân hàng.
I.2.1.1.Chất lợng tín dụng Ngân hàng.
Trong nền kinh tế thị trờng, doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì cạnh
tranh là một tất yếu khách quan không thể tránh khỏi, sản xuất hàng hoá càng phát
triển thì cạnh tranh càng gay gắt trên 3 phơng diện chủ yếu: Chất lợng, số lợng và giá
cả, trong đó chất lợng là yếu tố quan trọng hàng đầu, là điều kiện tiên quyết trong
việc chiếm lĩnh thị trờng.
Có nhiều quan niệm khác nhau về chất lợng sản phẩm nh: Chất lợng là phù
hợp với mục đích sử dụng hoặc là một trình độ dự kiến trớc về độ đồng đều và độ
tin cậy với chi phí thấp, phù hợp với thị trờng, hay theo Hiệp hội về tiêu chuẩn Pháp
thì chất lợng là năng lực của một sản phẩm, dịch vụ nhằm thoả mãn những nhu cầu
của ngời sử dụng.
Với cách đề cập vấn đề đề nh vậy, ta có thể hiểu chất lợng tín dụng ngân hàng
là sự đáp ứng một cách tốt nhất yêu cầu của khách hàng ( ngời gửi tiền và ngời vay
tiền ) trong quan hệ tín dụng đồng thời đảm bảo an toàn trong việc thu hồi vốn thông
qua sự phát huy hiệu quả của phơng án đợc hình thành bằng đồng tiền vay hay hạn
1
0
chế thấp nhất rủi ro về đồng vốn, tăng lợi nhuận của ngân hàng, phù hợp và phục vụ
sự phát triển kinh tế xã hội.
* Xét trên góc độ hoạt động kinh doanh của ngân hàng thì chất lợng tín dụng
là khoản tín dụng đợc đảm bảo an toàn hiệu quả, sử dụng đúng mục đích, phù hợp với
chính sách tín dụng của ngân hàng, hoàn trả gốc và lãi đúng thời hạn đem lại lợi
nhuận cho ngân hàng với chi phí dịch vụ thấp, tăng khả năng cạnh tranh của ngân
hàng trên thị trờng, làm lành mạnh các quan hệ kinh tế, phục vụ tăng trởng và phát
triển.
* Xét trên góc độ lợi ích kinh tế của khách hàng thì khoản tín dụng có chất l-
ợng phải phù hợp với mục đích sử dụng của khách hàng với lãi suất và kỳ hạn hợp lý,

ro, những rủi ro trong lĩnh vực này đều đa đến những thiệt hại nặng nề, thậm chí phá
sản. Lý do là các khoản tiền vay chiếm tới hơn 70% tài sản có nhng lại kém lỏng hơn
so với các tài sản khác bởi việc chuyển chúng sang tiền mặt là rất phức tạp và tốn
kém ngay cả khi đã đến hạn. Mặt khác, ngân hàng lại không thể loại trừ hết những rủi
ro trong hoạt động của mình mà chỉ có thể bằng những biện pháp đồng bộ hữu hiệu
nhằm ngăn ngừa, hạn chế tối đa những thiệt hại có thể xảy ra, đảm bảo an toàn nguồn
vốn.
Do vậy, nâng cao chất lợng tín dụng là tất yếu khách quan trong hoạt động của
ngân hàng, góp phần lành mạnh hóa quan hệ tín dụng vì sự tồn tại và phát triển lâu
dài của hệ thống NHTM Việt Nam.
* Đối với chủ thể vay vốn:
* Đối với nền kinh tế: Với chức năng là ngời đi vay để cho vay, Ngân hàng huy
động những nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong dân c và các tổ chức kinh tế-xã hội để
đáp ứng nhu cầu vốn cho các đơn vị, tổ chức, cá nhân khi thiếu vốn cần đợc bổ sung
trong hoạt động sản xuất kinh doanh và tiêu dùng. Các Ngân hàng đóng vai trò là ng-
ời phân phối lại vốn tiền tệ, đáp ứng nhu cầu tái sản xuất xã hội. Tín dụng Ngân hàng
1
2
đã và đang là nhân tố thúc đẩy lực lợng sản xuất phát triển, điều tiết và di chuyển
vốn, tăng thêm vốn tiền tệ trong nền kinh tế. Tín dụng Ngân hàng tác động tới hiệu
quả sản xuất, thúc đẩy cạnh tranh trong nền kinh tế thị trờng, góp phần dịch chuyển
cơ cấu ngành, thực hiện đầu t chiều sâu và chiều rộng, hình thành nên các ngành kinh
tế mũi nhọn, xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý và khai thác triệt để các nguồn lực. Làm
tốt công tác tín dụng là động lực cho nền kinh tế phát triển ổn định và lành mạnh. Ng-
ợc lại, nếu làm không tốt công tác tín dụng sẽ dẫn tới hậu quả không lờng cho ngành
ngân hàng và cho cả nền kinh tế.
I.2.3. Các chỉ tiêu đánh giá chất lợng tín dụng ngân hàng:
I.2.3.1. Nhóm chỉ tiêu chung đánh giá chất lợng tín dụng ngân hàng:
* Tổng nguồn vốn huy động : cho biết tổng nguồn tiền ngân hàng huy động đ-
ợc trong nền kinh tế. Đây là cơ sở để ngân hàng phát triển quy mô hoạt động của

đầu ra.
Đánh giá chất lợng tín dụng của một ngân hàng phải đánh giá cả lợi nhuận mà
tín dụng đó mang lại cho ngân hàng. Lợi nhuận tín dụng trung và dài hạn
Tổng lợi nhuận
Chỉ tiêu này cho thấy rõ vai trò, vị trí của tín dụng trung và dài hạn đối với hoạt
động của ngân hàng. Chất lợng tín dụng càng cao thì lợi nhuận thu đợc càng lớn.
I.2.4. Các nhân tố ảnh hởng tới chất lợng tín dụng ngân hàng:
Có thể nói, hoạt động của ngân hàng trong nền kinh tế là rất nhạy cảm, chỉ cần
một tác động nhỏ từ trong hay ngoài đều ảnh hởng tới cả hệ thống. Do vậy, nhằm
nâng cao hơn nữa chất lợng hoạt động tín dụng trong ngân hàng đòi hỏi phải tiến
1
4
hành phân loại các nhân tố có tác động đến hoạt động tín dụng của ngân hàng, từ đó
đề ra những biện pháp hữu hiệu để ngăn ngừa, hạn chế tối đa những tác động tiêu
cực, làm trong sạch, lành mạnh hệ thống ngân hàng.
Có rất nhiều nhân tố ảnh hởng đến chất lợng tín dụng ngân hàng, nhng gộp
chung lại có thể phân thành 4 nhóm nhân tố chính nh sau:
I.2.4.1. Nhóm nhân tố thuộc môi trờng kinh tế:
Xét một cách tổng thể, nền kinh tế ổn định là điều kiện thuận lợi cho tín dụng
ngân hàng phát triển. Bởi nền kinh tế ổn định là nền kinh tế mà trong đó lạm phát đợc
kiềm chế ở mức hợp lý, không có khủng hoảng, hoạt động sản xuất kinh doanh của
các doanh nghiệp tiến hành tốt, có hiệu quả, mang lại lợi nhuận cao, doanh nghiệp
hoàn trả đợc vốn vay ngân hàng đúng hạn ( cả gốc và lãi ). Do đó hoạt động tín dụng
của ngân hàng sẽ phát triển, chất lợng tín dụng đợc nâng cao. Ngợc lại, trong thời kỳ
suy thoái kinh tế, sản xuất kinh doanh bị thu hẹp đầu t và tiêu dùng giảm sút, lạm
phát cao, nhu cầu tín dụng giảm, vốn tín dụng thực hiện cũng khó có thể sử dụng có
hiệu quả hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng, thậm chí không thu hồi đợc vốn
hoạt động tín dụng của ngân hàng giảm sút mạnh cả về quy mô và chất lợng.
Mức độ phù hợp giữa lãi suất ngân hàng và lợi nhuận mà doanh nghiệp thu đợc
trong quá trình sản xuất kinh doanh dịch vụ cũng ảnh hởng rất lớn đến chất lợng tín

đầy đủ.
* Điều kiện cho vay là cần phải có tài sản thế chấp trong khi đó chúng ta cha
có luật về sở hữu nên không có cơ quan nào chịu cấp chứng th sở hữu tài sản và quản
lý quá trình dịch chuyển tài sản. Còn đối với doanh nghiệp Nhà nớc, chỉ thị 178 ngày
29/02/1999 của Chính phủ, thông t 06 ngày 04/04/2000 của Ngân hàng Nhà nớc vẫn
là thế chấp, nhng dù văn bản đã có hiệu lực từ lâu nhng Cục quản lý vốn vẫn cha chịu
xác nhận tài sản và cơ quan công chứng thì cha có chủ trơng do vậy vẫn còn ách tắc
không có cơ quan nhận đăng ký tài sản thế chấp.
1
6
* Các quy định pháp luật kế toán thống kê, kiểm toán cha đủ khả năng và hiệu
lực buộc các doanh nghiệp thực hiện chế độ kế toán thống kê kiểm toán chính xác và
kịp thời ( hiện nay mới bắt buộc với doanh nghiệp Nhà nớc ). Trên thực tế có đến
50% khách hàng không thực hiện đúng quy định của Nhà nớc về kế toán thống kê, số
liệu làm căn cứ cho vay lại không đúng số liêu thật dẫn đến rủi ro.
* Tín dụng thơng mại ( mua bán chịu) đang trở thành phổ biến trong giao dịch
thơng mại nhng cha có những chế định về lu thông kỳ phiếu thơng mại nên xảy ra
tình trạng chiếm dụng vốn công nợ dây da, lừa đảo, trốn thuế, sử dụng vốn vay ngân
hàng sai mục đích, gây khó khăn cho các cơ quan chức năng trong việc kiểm soát.
Có thể khái quát một số mặt hạn chế trong môi trờng pháp lý cho hoạt động
của các NHTM nh: hệ thống văn bản pháp luật cha đồng bộ, quá rờm rà, chồng chéo
với các văn bản pháp luật khác và đặc biệt là xa rời thực tế dẫn tới rất khó áp dụng.
Đồng thời sự thay đổi chủ trơng, chính sách của Nhà nớc cũng là nguyên nhân ảnh h-
ởng đến khả năng trả nợ của các doanh nghiệp và gián tiếp ảnh hởng tới chất lợng tín
dụng của các NHTM.
I.2.4.3. Những nhân tố về phía ngân hàng:
Đây là những nhân tố thuộc về phía ngân hàng, có liên quan đến sự phát triển
của ngân hàng nói chung và tín dụng nói riêng mà ta có thể liệt kê ra nh sau:
* Chính sách tín dụng : Chính sách tín dụng là kim chỉ nam đảm bảo cho hoạt
động tín dụng đi đúng quỹ đạo. Nó có ý nghĩa quyết định đến sự thành công hay thất

tín dụng.
* Thông tin tín dụng: một nhân tố nữa không thể bỏ qua đó là vấn đề thông tin
tín dụng. Trong các quan hệ tín dụng, các bên tham gia thờng không hiểu biết đầy đủ
chính xác về nhau để có những quyết định đúng đắn. Ngời đi vay thờng chủ động hơn
1
8
ngời cho vay trong vấn đề dự đoán rủi ro kèm theo dự án đầu t. Sự không cân bằng
thông tin mà mỗi bên có đợc gọi là thông tin không cân xứng.
Để nâng cao đợc chất lợng tín dụng các ngân hàng phải vợt qua những vấn đề
về lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức. Muốn vậy các ngân hàng phải có thông tin
tín dụng tốt, từ nhiều nguồn đáng tin cậy để đa ra những quyết định phù hợp. Do vậy
thông tin càng đầy đủ, nhanh nhậy, chính xác và toàn diện thì khả năng phòng ngừa
rủi ro trong hoạt động kinh doanh càng lớn, chất lợng tín dụng càng cao.
* Kiểm soát nội bộ: đây là biện pháp giúp ban lãnh đạo ngân hàng có đợc
những thông tin về tình trạng kinh doanh nhằm duy trì có hiệu quả các hoạt động
kinh doanh đang xúc tiến, phù hợp với các chính sách, đáp ứng đợc mục tiêu đã định.
Hoạt động kiểm soát bao gồm:
Kiểm soát chính sách tín dụng, quy trình tín dụng và các thủ tục có
liên quan đến các khoản vay.
Kiểm tra định kỳ do kiểm soát viên nội bộ thực hiện, báo cáo các tr-
ờng hợp ngoại lệ, những vi phạm chính sách, thủ tục, kiểm toán kế toán và các nghiệp
vụ có liên quan đến kế toán cho vay.
Chất lợng tín dụng tùy thuộc vào mức độ phát hiện kịp thời nguyên nhân các
sai sót phát sinh trong quá trình thực hiện một khoản tín dụng của công tác kiểm soát
nội bộ để có biện pháp khắc phục kịp thời.
* Trang thiết bị phục vụ cho hoạt động tín dụng:
Trang bị đầy đủ trang thiết bị tiên tiến phù hợp với khả năng tài chính, phạm
vi và quy mô hoạt động của ngân hàng sẽ giúp cho ngân hàng:
Phục vụ kịp thời các yêu cầu của khách hàng với chi phí mà cả hai bên
cùng chấp nhận đợc.

luôn đòi hỏi họ phải có kế hoạch sản xuất kinh doanh cụ thể. Bởi đó là cơ sở để ngân
hàng đánh giá khả năng kinh doanh trong tơng lai của doanh nghiệp và là tiêu chí để
ngân hàng theo dõi xem doanh nghiệp có sử dụng vốn vay vào đúng mục đích ban
đầu hay không.
* Tổ chức sản xuất kinh doanh, tổ chức công tác tiêu thụ sản phẩm của doanh
nghiệp và hoạt động Marketing một cách khoa học linh hoạt để nâng cao năng suất,
chất lợng, hiệu quả lao động, tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, làm cho sản
phẩm đợc nhiều ngời biết đến là cơ sở nền tảng để hoàn thành kế hoạch kinh doanh
đã đề ra. Một khi sản phẩm của doanh nghiệp chiếm lĩnh đợc thị trờng, doanh nghiệp
sẽ có điều kiện mở rộng sản xuất kinh doanh, tăng lợi nhuận tăng vòng quay và hiệu
quả sử dụng vốn.
* Vốn, khả năng tài chính của doanh nghiệp: vốn vay ngân hàng chỉ đóng vai
trò hỗ trợ còn nền tảng cho hoạt động sản xuất kinh doanh, khả năng trả nợ của doanh
nghiệp chính là vốn tự có của doanh nghiệp.
* T cách đạo đức của khách hàng: T cách đạo đức của khách hàng trong quan
hệ tín dụng với ngân hàng đợc xét trên phơng diện khách hàng đó có ý muốn trả nợ
vay ngân hàng hay không. Trong nhiều trờng hợp, ngời vay có ý định lừa đảo, chiếm
đoạt vốn, không hoàn trả nợ vay mặc dù có khả năng trả nợ. Điều này đã và đang gây
ra cho ngân hàng rất nhiều rủi ro.
I.2.4.5. Nhóm nguyên nhân khác:
Ngoài những nhóm nhân tố có ảnh hởng tới hoạt động tín dụng ngân hàng nêu
trên, còn có những nhân tố khác mà ảnh hởng của chúng cũng gây không ít khó khăn
cho ngân hàng. Đó là những nguyên nhân không mong đợi ngoài tầm kiểm soát của
ngân hàng nh thiên tai, hỏa hoạn, do vậy, để hạn chế một cách thấp nhất rủi ro tín
dụng và nâng cao hiệu quả của vốn tín dụng thì mỗi ngân hàng nên đa dạng hóa các
loại hình cho vay và nhất thiết phải phân tán rủi ro bằng cách không đầu t vốn vay
2
1
quá lớn vào một khách hàng hay một lĩnh vực kinh tế mà nên trải rộng vốn đầu t khắp
các ngành nghề và mọi lĩnh vực sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế.

ngừa rủi ro đáp ứng đợc các yêu cầu sau :
Một là, quản lý tốt rủi ro tín dụng phải đạt yêu cầu an toàn trong hoạt động
kinh doanh.
Hai là, hạn chế rủi ro tín dụng nhng trên cơ sở phải mở rộng thị phần trong nền
kinh tế thị trờng.
Ba là, quản lý phải đảm bảo tính lành mạnh của các khoản tín dụng.
Bốn là, quản lý rủi ro tín dụng phải trên cơ sở tuân thủ các quy định của Ngành
Ngân hàng và pháp luật.
Phục vụ đầu t, phát triển .
Mặc dù thời gian qua nên kinh tế của chúng ta chịu ảnh hởng không nhỏ từ
cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở khu vực, song ban Giám đốc cũng nh toàn thể
đội ngũ CBCNV trong chi nhánh bằng sự nhanh nhạy, khéo léo đã hoàn thành tốt kế
hoạch nguồn vốn mà NHĐT & PT Việt Nam giao, đảm bảo đủ vốn đáp ứng nhu cầu
vay và thanh toán của khách hàng. Điều này còn chứng tỏ lòng tin của dân c và các tổ
chức kinh tế đối với NHĐT & PT Quảng Ninh ngày càng tăng, tạo nền tảng vững
chắc cho Ngân hàng trong việc mở rộng quy mô hoạt động của mình, đảm bảo kinh
doanh an toàn, hiệu quả.
2. Sử dụng vốn.
Bên cạnh vai trò của công tác huy động vốn thì việc sử dụng vốn có ý nghĩa
sống còn đối với Ngân hàng. Bởi vì mọi khoản lợi nhuận mà Ngân hàng thu đợc là từ
công tác sử dụng vốn.
2
3
Ngân hàng Đầu t và phát triển Quảng Ninh với truyền thống phục vụ cho vay
trong lĩnh vực đầu t và phát triển đã và đang góp phần tích cức vào sự nghiệp phát
triển kinh tế trên địa bàn, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo chủ trơng của
Đảng và Nhà nớc. Từ 1995, với định hớng tiếp tục đổi mới toàn diện, chuyển hẵn
sang kinh tế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc Ngân hàng thực hiện kinh doanh đa
năng tổng hợp tích cực linh hoạt lấy hiệu quả kinh doanh của khách hàng làm mục
tiêu. Trên cơ sở nguồn vốn huy động đợc Ngân hàng Đầu t và phát triển Quảng Ninh

4.276
233.486
231.486
2.560
225.264
223.884
1.380
2 D nợ trung, dài hạn
Trong đó: - Trong hạn
- Quá hạn
214.180
211.177
3.003
200.568
198.814
1.754
267.941
263.982
3.959
Tổng d nợ 377.656 434.054 493.337
(Nguồn: Báo cáo công tác tín dụng BL của Ngân hàng Đầu t và phát triển
Quảng Ninh năm 1998-2000)
Có thể thấy d nợ cho vay của NHĐT & PT đang tăng một cách đều đặn: Năm
1998 là 377.656 Trđ, trong năm 1999 là 434.054 Tr.đ năm 2000 là 493.337 Tr.đ, tăng
13,65% so với năm 1999 và 30,63% so với 1998. Trong đó, d nợ ngắn hạn có tốc độ
tăng trởng khá tốt, chất lợng cũng đợc đảm bảo. Riêng d nợ trung, dài hạn bao giờ
cũng chiếm một tỷ trong lớn trong tổng d nợ của NHĐT & PT Quảng Ninh. Năm
1998 d nợ trung, dài hạn là 214.180 Tr.đ; sang năm 1999, giảm xuống còn 200.568
Tr.đ, bằng 93,64% so với năm 1998. Đến năm 2000 d nợ tín dụng trung, dài hạn tăng
thêm 53.761 Tr.đ, tức là đạt 267.941 Tr.đ tơng ứng với 25,10% so với năm 1998. Đây


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status