Tài liệu TIỂU LUẬN: Phép biện chứng về mối hệ phổ biến và vận dụng phân tích mối liên hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với hội nhập kinh tế - Pdf 10

TIỂU LUẬN:

Phép biện chứng về mối hệ phổ biến
và vận dụng phân tích mối liên hệ
giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự
chủ với hội nhập kinh tế
1. Xu hướng hội nhập thế giới xu hướng của thời đại:
Như chúng ta đã biết, cách đây hàng nghìn năm đã có sự trao đổi hàng hoá trong
từng quốc gia và giữa các quốc gia với nhau. Tuy nhiên, suốt thời gian dài dưới thời kì
chiếm hữu nô lệ và thời kì phong kiến quan hệ trao đổi hàng hoá phát triển không đáng
kể. Về mặt cơ bản, nền kinh tế của từng quốc gia vẫn mang tính tự cung tự cấp. Với sự
xuất hiện của chủ nghĩa tư bản, quan hệ trao đổi hàng hoá đã có sự thay đổi về chất.
Trong từng quốc gia, nền kinh tế với một thị trường thống nhất được hình thành, các
loại hàng hoá và số lượng hàng hoá trao đổi được tăng lên rất nhiều, đặc biệt sức lao
động cũng trở thành hàng hoá. Chủng loại hàng hoá và số lượng hàng trao đổi giữa các
quốc gia cũng tăng lên nhanh chóng. Chủ nghĩa tư bản ngày càng phát triển thì lượng
hàng hoá trao đổi giữa các quốc gia càng lớn, chính vì vậy sự phụ thuộc về mặt kinh tế
giữa các quốc gia càng chặt chẽ hơn.
Vào những năm 80 của thế kỉ XX, khoa học kĩ thuật phát triển như vũ bão, con


Chương II : Phép biện chứng duy vật là khoa học về mối liên hệ phổ biến

1. Triết học Mac- LêNin:
Triết học Mac- LêNin cũng như toàn bộ chủ nghĩa Mac- LêNin ra đời vào những
năm 40 của thế kỉ XIX do C.Mac và Ph.Ăngghen sáng lập ra. Sau đó, V.I.LêNin phát
triển nó cao hơn.
Triết học Mac- LeNin ra đời không phải chỉ do sự suy tư cá nhân, sự tưởng tượng
của C.Mac và Ph.Ăngghen mà do những nguyên nhân kinh tế, xã hội và sự phát triển
của nhân loại trước đó quy định. Triết học Mac- LêNin ra đời dựa trên 3 cơ sở cơ bản
sau:
(a) Cơ sở về kinh tế và xã hội: Vào những năm đầu của thế kỉ XIX các cuộc
cách mạng công nghiệp đã đem lại cho các nước TBCN sự phát triển mạnh mẽ. Để
nhận xét về điều này C.Mac đã nói: “ Giai cấp tư sản trong quá trình thống trị giai cấp
chưa đầy một thế kỉ, đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực
lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trước cộng lại”. Sự phát triển ấy đã chứng minh
tính chất tiến bộ của phương thức sản xuất TBCN hơn hẳn các chế độ khác trước đó.
Tuy nhiên, sự phát triển đó ngày càng làm hằn sâu thêm sự mâu thuẫn giữa giai cấp tư
sản và giai cấp vô sản. Giai cấp vô sản ngày càng lớn mạnh và đứng lên đấu tranh
giành quyền lợi. Chính vì vậy họ cần một thứ vũ khí lý luận sắc bén và triết học Mac-
LêNin ra đời đã thoả mãn được yêu cầu đó.
(b) Cơ sở lý luận: Triết học Mac- LêNin dựa trên phép biện chứng của
Hêghen và quan điểm duy vật triệt để của Phoi-ơ-băc. Hai ông C.Mac và Ph.Ăngghen
đã dựa và đó sáng lập ra phép biệnchứng duy vật. Các ông đã kế thừa và phát huy
những mặt tích cực của Hêghen và Phoi-ơ -băc. Đồng thời, hai ông cũng dần dần bù
đắp những thiếu sót.
(c) Cơ sở khoa học tự nhiên: Do sự phát triển mạnh của KH-TN đã đánh đổ

chỉ là những dạng tồn tại khác nhau của một thế giới duy nhất là thế giới vật chất.
Ngay cả tư tưởng của con người cũng là một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc
người, nội dung của chúng cũng chỉ là kết quả phản ánh của các quá trình vật chất
khách quan. Ngoài ra, theo quan điểm duy vật biên chứng còn thừa nhận tính đa dạng
của sự liên hệ: có mối liên hệ bên ngoài, mối liên hệ bên trong; có mối liên hệ thứ yếu
và mối liên hệ chủ yếu Các loại liên hệ khác nhau có vai trò khác nhau đối với sự vận
động vầ phát triển của các sự vật hiện tượng. Trong đó, mối liên hệ bên trong giữ vai
trò quyết định đối với sự tồn tại, vân động, phảttiển của sự vật. Mối kiên hệ bên ngoài,
nói chung, không có ý nghĩa quyết định và thường phải thông qua mối liên hệ bên
trong mà phát huy tác dụng.Như vậy, quan điểm duy vật biện chứng về sự liên hệ đòi
hỏi phải thừa nhận tính tương đối trong sự phân loại các mối liên hệ. Các mối liên hệ
khác nhau có thể chuyển hoá lẫn nhau. Trong tính đa dạng của hình thức và các loại
liên hệ tồn tại trong tự nhiên, trong xã hội và tư duy con người, phép biện chứng duy
vật tập trung nghiên cứu những loại liên hệ chung mang tính phổ biến.
2.3 Yêu cầu của nguyên lý phổ biến:
2.3.1 Quan điểm toàn diện: Với tư cách là một nguyên tắc phương pháp
luận trong việc nhận thức các sự vật hiện tượng, quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta
phải xem xét nó:
+ Trong mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, các thuộc
tính khác nhau của chính sự vật đó.
+ Trong mối liên hệ qua lại giữa sự vật đó với các sự vật khác (kể cả trực
tiếp và gián tiếp).
Hơn thế nữa, quan điểm toàn diện còn đòi hỏi để nhận thức được sự vật
hiện tượng chúng ta cần xem xét nó trong mối liên hệ với nhu cầu thực tiễn của con
người. Quan điểm toàn diện đối lập với quan điểm phiến diện không chỉ ở chỗ nó chú ý
tới nhiều mặt, nhiều mối kiên hệ. Việc chú ý tới nhiều mặt, nhiều mối liên hệ của sự
vật vẫn có thể là phiến diện, nếu chúng ta đánh giá ngang nhau những thuộc tính,


Chương III: Toàn cầu hoá
1. Toàn cầu hoá kinh tế là gì? Những đặc điểm của toàn cầu hoá kinh tế:
Con người là một loài sinh vật đặc biệt, chúng ta có trí thông minh và có trình
độ tổ chức xã hội cao. Con người sống với nhau dựa trên rất nhiều mối quan hệ, trong
đó quan hệ về kinh tế là chủ yếu. Có một số nhà nghiên cứu cho rằng “ toàn cầu hoá”
đã có từ rất lâu và trước đây chính là quá trình quốc tế hoá. Vậy trong tình hình hiện
nay “Toàn cầu hoá” là những mối quan hệ kinh tế vượt qua biên giới quốc gia, với quy
mô toàn thế giới, đạt trình độ và chất lượng cao hơn các quá trình quốc tế hoá trước
kia. Toàn cầu hoá kinh tế có một số đặc điểm sau khác với các quá trình quốc tế hoá
trước kia:
a) Sau khi Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ thì Mỹ là một siêu cường
lớn nhất thế giới. Tuy nhiên, trong tình hình hiện nay, Mỹ đang có chiều hướng chững
lại và các nước phát triển khác đang vươn lên, điều đó tạo nên một thế giới có nên kinh
tế không còn một cực như trước kia mà là đa cực.
b) Kinh tế thị trường nhiều kiểu, nhiều mức độ khác nhau đang lan tràn
khắp thế giới, kéo theo nó là sự tăng cường tự do hoá kinh tế và xu hướng vừa hợp tác
vừa cạnh tranh.
c) Cách mạng khoa học kĩ thuật làm cho con người có khả năng thực hiện
rất nhiều việc mà trước đây không thể. Chính điều này đã thúc đẩy sự toàn cầu hoá một
cách nhanh chóng.
d) Các mối quan hệ của toàn cầu hoá ngày càng toàn diện chứ không phải
chỉ dừng lại ở thương mại xuất – nhập khẩu.
e) Toàn cầu hoá được thúc đẩy bởi một số nhân tố sau:
+ Đó là các công ty cực lớn, vừa, nhỏ tới từng cá thể tích cực tham gia
vào quá trình toàn cầu hoá. Trong hàng triệu, hàng nghìn công ty trên, có vai trò lớn
nhất nằm trong tay khoảng chừng 50.000 công ty xuyên quốc gia

- Chính sách rất có tính toán của Mỹ và các nước cường quốc khác mà không
phải chỉ riêng Mỹ.
+ Một bản chất nữa của toàn cầu hoá là tính bất đối xứng của nó. Điều đó được
thể hiện như sau:
-Toàn cầu hoá phân phối thành quả rất bất công. Người giàu, nước giàu
ngày càng được nhiều lợi, nước nghèo, người nghèo bị thiệt. Dần dần một mảng lớn
dân cư trên thế giới bị loại khỏi quá trình toàn cầu hoá.
-Toàn cầu hoá hiện nay, không hài hoà, không đồng bộ, các lĩnh vực so
le, chênh lệch nhiều, cả về chiều sâu lẫn chiều rộng. Đặc biệt là: thứ nhất, toàn cầu hoá
kinh tế không đi đôi với sự quan tâm đúng mức về xã hội và con người. Điều này khiến
cho phần thua thiệt về xã hội và con người rất nặng nề. Thứ hai, toàn cầu hoá không đi
đôi với một cơ cấu và cơ chế quản lý toàn cầu tương xứng. Điều này dẫn đến toàn bộ
thế giới như một con tàu không người lái.
+ Toàn cầu hoá hiện nay bỏ qua các vấn đề khác, nó chỉ chú trọng tới thị trường,
xem nhẹ nhà nước và nhất là xã hội.
3. Toàn cầu hoá những cơ hội và thách thức
(a) Những cơ hội:
+ Thứ nhất, sự phát triển của toàn cầu hoá kinh tế phá bỏ những cản trở,
những hàng rào ngăn cách giữa các quốc gia. Nó mở ra những điều kiện thuận lợi cho
sự phát triển về quan hệ kinh tế thế giới. Từ đó, các quốc gia có thế lợi dụng để mở
rộng thị trường ra bên ngoài quốc gia mình.
+ Thứ hai, toàn cầu hoá phát triển giúp các nước chậm phát triển sớm tham
gia vào hệ thống phân công lao động quốc tế. Điều này, giúp các nước chậm phát triển
hình thành một cơ cấu kinh tế – xã hội hiệu quả, đẩy nhanh, rút ngắn tiến trình hiện đại
hoá nền kinh tế.
+ Thứ ba, toàn cầu hoá phát triển tạo điều kiện cho các nước tiếp cận với
những nguồn vốn và công nghệ kĩ thuật cao cũng như học tập công nghệ quản lý.
quốc tế. Nếu như không xác định được một đường lối phát triển nội lực là chính thì các
nước rất dễ bị phụ thuộc và mất quyền tự chủ.
+ Thứ tư, toàn cầu hoá cho phép vận dụng nguồn vốn bên ngoài nhằm rút
ngắn quá trình phát triển. Tuy nhiên trong đó cũng ẩn chứa nhiều nguy hiểm không
vững chắc.
+ Thứ năm, toàn cầu hoá còn đặt ra nhưng hậu quả phi kinh tế. Đó là vấn đề
lan toả các dịch bệnh, đặc biệt là HIV/AIDS. Ngoài ra, các luồng văn hoá ngoại lai tác
động không nhỏ tới thuần phong mỹ tục làm bại hoại đạo đức con người. Chính vì vậy,
xu hướng toàn cầu hoá đã nổi lên xu hướng dân tộc, bảo vệ bản sắc dân tộc.

Chương IV: Xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ vững mạnh
1. Nền kinh tế như thế nào được gọi là một nền kinh tế độc lập tự chủ:
Thực ra, khái niệm nền kinh tế độc lập tự chủ đã không ít lần được nhắc tới. Tuy
nhiên, quan niệm về nền kinh tế độc lập tự chủ trước đây và hiện nay có những nét
khác nhau. Vậy thế nào là nền kinh tế độc lập tự chủ?:
+ Nền kinh tế độc lập tự chủ là nền kinh tế không bị lệ thuộc, phụ thuộc vào
nước khác, hoặc một tổ chức kinh tế nào đó về đường lối, chính sách phát triển, không
bị bất cứ ai dùng những điều kiện kinh tế, tài chính, thương mại, viện trợ để áp đặt,
khống chế, làm tổn hại chủ quyền quốc gia và lợi ích cơ bản của dân tộc.
+ Nền kinh tế độc lập tự chủ là nền kinh tế trước những biến động của thị
trường, trước sự khủng hoảng kinh tế tài chính ở bên ngoài, nó vẫn có khả năng cơ bản
duy trì sự ổn định và phát triển; trước sự bao vây, cô lập và chống phá của các thế lực
thù địch, nó vẫn có khả năng đứng vững, không bị sụp đổ, không bị rối loạn.
+ Tuy nhiên, trong thời đại hiện nay, nói tới độc lập tự chủ về kinh tế không ai
hiểu đó là nền kinh tế khép kín, tự cung tự cấp, mà đặt trong mối liên hệ biện chứng
với mở cửa, hội nhập, chủ động tham gia sự giao lưu, hợp tác và cạnh tranh quốc tế
trên cơ sở phát huy tốt nhất nội lực và lợi thế so sánh quốc gia, từng bước xây dựng
một cơ cấu sản xuấtđáp ứng được cơ bản nhu cầu thiết yếu về đời sống của nhân dân

yếu tố, trong đó cơ bản nhất là nội lực của nền kinh tế nước đó. Nước nào mạnh thì thu
được nhiều lợi hơn. Toàn cầu hóa, thương mại hoá, vừa tạo ra sự hợp tác, phụ thuộc
lẫn nhau, đồng thời cũng tạo nên sự cạnh tranh rất khốc liệt và rất không cân sức giữa
các nền kinh tế. Sự cạnh tranh ấy khốc liệt đến nỗi có thể tạo nguy cơ gây mất ổn định
về kinh tế và chính trị. Thậm chí còn có thể xảy ra xung đột giữa các nước với nhau.
Chính vì lẽ đó, các nước không thể đứng nhìn toàn cầu hoá tác động tới mình, mà họ
phải chủ động tham gia, đưa ra các quyết sách nhằm hội nhập xu hướng của thế giới,
đồng thời làm sao thu lợi nhiều nhất mà vừa bảo vệ được nền kinh tế của mình. Trên
thực tế đã có rất nhiều nước tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, tham gia
vào các tổ chức kinh tế, tài chính, thương mại thế giới từ lâu nhưng vẫn trong tình
trạng trì trệ, thậm chí mức độ bị phụ thuộc, mất tự do lại còn tăng hơn. Như vậy đủ
thấy là mỗi nước sẽ không thể thực hiện được những mục đích đã định ra nếu không có
ọt nền kinh tế của chính mình và đủ mạnh.
+ Chúng ta cần một nền kinh tế độc lập vững mạnh vì sự phát triển vững chắc và
đảm bảo tính an toàn. Trong quá trình toàn cầu hoá hiện nay ẩn chứa rất nhiều những
yếu tố bất ổn, bất lường, bất công mà mức độ cũng như khả năng phòng tránh, khắc
phục nó lại tuỳ thuộc rất nhiều ở trình độ phát triển của các nền kinh tế. Ai cũng rõ,
toàn cầu hoá làm lây lan nhanh chóng những cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính, tiền
tệ làm trầm trọng thêm những vấn đề mang tính toàn cầu mà thế giới chưa tìm được
lối thoát. Điều đó cũng có nghĩa là các nền kinh tế trở nên dễ biến động, bất ổn định
hơn trước. Ví dụ: Trong những năm 1997 – 1998, Châu á gặp phải một cuộc khủng
hoảng tài chính – tiền tệ trầm trọng. Tuy nhiên, các nước này nhanh chóng phục hồi là
nhờ lúc đó nền kinh tế Mỹ đang tăng trưởng khá. Hiện nay, từ sau ngày 11 – 9, nền
kinh tế Mỹ đang ngập trong khó khăn thì người ta dự đoán rằng nền kinh tế ở một số
nước Châu á khó bề vươn dậy được. Lý do, họ dựa quá nhiều và xuất khẩu mà không
tranh thủ thời cơ để tiến hành cải cách cần thiết trong nước. Rồi đến Châu Phi đang
phải gánh chịu một bài học đắt giá về việc chỉ biết sống dựa vào bên ngoài, phụ thuộc

Một là, phải có đường lối chính sách đúng đắn, chính sách độc lập tự chủ. Độc
lập tự chủ về đường lối, chính sách kinh tế có nghĩa là chúng ta tự lựa chọn định hướn
phát triển, tự mình xác định chủ trương chính sách và mô hình kinh tế, không bị động
và lệ thuộc bên ngoài, không chịu sức ép của bất cứ ai vì mục đích không lành mạnh
của họ. đại hội IX của Đảng đã xác định đường lối kinh tế của nước ta: Đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đưa nước ta trở thành
một nước công nghiệp; ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời xây dựng quan
hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa; phát huy cao độ nội lực, đồng
thời tranh thủ nguồn lực từ bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát
triển nhanh, có hiệu quả và bền vững; tăng trưởng kinh tế đi liền với phát triển văn hoá,
từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và
công bằng xã hội, bảo về và cải thiện mội trường; kết hợp phát triển kinh tế – xã hội
với tăng cường quốc phòng – an ninh.
Hai là, Chúng ta phải có một nền kinh tế đủ mạnh:
- Toàn bộ giá trị sản xuất trong nước phải đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng
của nhân dân và có tích luỹ cần thiết từ nội bộ nền kinh tế quốc dân để tái sản xuất mở
rộng trong nền kinh tế.
- Phải có thể chế kinh tế – xã hội bền vững, có cơ cấu kinh tế gắn bó với
cơ cấu công nghệ, phát huy được lợi thế so sánh có đủ khả năng tạo ra sức cạnh tranh
và hiệu quả, trả được nợ, tạo được tích luỹ, đáp ứng được nhu cầu của thị trường trong
nước, chiếm lĩnh và giữ được thị trường ngoài nước; bảo đảm được nhịp độ tăng
trưởng nhanh, ổn định, bền vững.
- Phải có một năng lực nội sinh về khoa học và công nghệ để làm chủ công
nghệ nhập khẩu và sáng tạo công nghệ mới của Việt Nam, bảo đảm cho sự trao đổi
bình đẳng về kinh tế và công nghệ với bên ngoài, nhất là trong điều kiện ngày nay, khi
sức mạnh kinh tế ngày càng dựa vào thế mạnh và khả năng về khoa học, công nghệ.
- Phải luôn luôn giữ được sự ổn định kinh tế vĩ mô với hệ thống tài chính,

quan có hiệu lực chung (CEPT) cuẩ AFTA. Theo quy định của CEPT, tới năm 2006
chúng ta có nghĩa vụ phải giảm thuế nhập khẩu xuống còn o – 5% ( trừ một số hàng
nông sản nhạy cảm sẽ thực hiệ tới năm 2010). Tới năm 2010 sáu nước thành viên cũ
của ASEAN sẽ thực hiện toàn bộ các mặt hàng có thuế suất bằng 0%, với Việt Nam là
2015.
+) Tháng 3 năm 1996, nước ta đã tham gia Diễn Đàn Hợp Tác á - Âu
(ASEM) với tư cách là thành viên sáng lập. Nội dung thảo luận chủ yếu tập trung vào
thuận lợi hoá thương mại và đầu tư và hợp tác giữa các nhà doanh nghiệp á - Âu. Cam
kết tự do hoá thương mại, đầu tư chưa được đặt ra.
+) Ngày 15 tháng 6 năm 1996, Việt Nam gửi đơn xin gia nhập Diễn Đàn
Hợp Tác Kinh Tế Châu á - Thái Bình Dương (APEC) lúc bấy giờ gồm 18 nước và lãnh
thổ (ngày nay là 21) và tháng 11 năm 1998 đã được công nhận là thàng viên chính thức
của tổ chức này. APEC quyết định hội nhập đầy đủ vào năm 2010 đối với các thành
viên phát triển, và 2020 đối với các nước đang phát triển (trong đó có Việt Nam).
+) Tháng 12 năm 1994, chúng ta đã gửi đơn xin gia nhập tổ chức Thương
Mại Thế Giới (WTO). Cho tới nay chúng ta đã thực hiện được 4 phiên đàm phán. Để
gia nhập được vào WTO chúng ta cần đàm phán đa phương với WTO và song phương
với khoảng 30 nước, Việt Nam đang rất nỗ lực để hoàn thành.
2.Những thành tựu và hạn chế:
(a) Những thành tựu:
+ Chúng ta đã làm thất bại âm mưu bao vây, cấm vận, cô lập về kinh tế
của các nước đối địch. Chúng ta đã tạo được môi trường quốc tế và khu vực thuận lợi
cho việc phát triển và bảo vệ Tổ Quốc, nâng cao vị thế của nước ta trên chính trường
quốc tế.
+ Không những chúng ta khắc phục được tình trạng khủng hoảng kinh tế
do Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa sụp đổ, mà còn mở rộng thêm thị trường
xuất nhập khẩu. Trong quá trình hội nhập, chúng ta không ngừng mở rộng thị trường

kiện của Đảng. Tuy nhiên, nhận thức về từng bước đi, lộ trình hội nhập còn đơn giản;
nhiều cán bộ, đơn vị chưa nhận thức được những cơ hội và thách thức của quá trình hội
nhập, chữ chủ động tìm hiểu vượt qua các thách thức nắm bắt cơ hội vươn lên. Một số
đơn vị còn có chính sách lạc hậu không bắt kịp quá trình phát triển gây trở ngại cho
toàn cục.
+ Chủ trương hội nhập mới chỉ được triển khai ở các đơn vị cấp TW, các
thành phố lớn chưa có sự phối hợp đồng bộ của nhiều đơn vị. Chính vì vậy nó mất đi
sức mạnh của khối đại đoàn kết.
+ Chúng ta chưa có một kế hoạch lâu dài cho quá trình hội nhập và chưa
có lộ trình hợp lý cho việc hội nhập.
+ Nhiều doanh nghiệp lạc hậu, thiếu sự năng động, thiếu hiểu biết về
luật pháp quốc tế, khả năng cạnh tranh kém, lại quá ỷ lại vào sự bao cấp của Nhà Nước
còn nặng.
+ Nước ta tuy đã biến đổi nhiều nhưng môi trường kinh doanh vẫn chưa
thật sự thông thoáng. Hệ thống pháp luật tuy đã được cải thiện nhiều nhưng vẫn chưa
đồng bộ, rườn rà. Kết cấu hạ tầng kém, hệ thống hành chính vẫn có nhiều biểu hiện
quan liêu, tham nhũng. Trình độ năng lực nghiệp vụ còn yếu kém, chưa được đào tạo
đến nơi đến chốn.
+ Đội ngũ làm kinh tế đối ngoại còn thiếu và yếu. Các cơ quan chức năng
còn chưa chuẩn bị cho các doanh nghiệp hội nhập kinh tế.
3. Những giải pháp cho Việt Nam:
(a) Hội nhập kinh tế là một xu hướng đang phát triển mạnh mẽ trên thế
giới. Việt Nam là một thành viên trong một mái nhà không thể đứng ngoài cuộc. Chính
vì vậy, trong rất nhiều kỳ họp Đảng ta đã đưa ra mục tiêu và một số quan điểm chỉ đạo
sau:
+ Về mục đích của hội nhập kinh tế: Chủ động hội nhập kinh tế nhằm mở
rộng thị trường, tranh thủ thêm vốn, công nghệ khoa học kỹ thuật, khoa học quản lý

+ Tuyên truyền rộng rãi, giải thích đối với mọi tầng lớp về vấn đề hội nhập
kinh tế quốc tế. Làm sao cho nhân dân ta thấy rằng đó là một bước đi tất yếu và có
niềm tin để tham gia vào quá trình hội nhập.
+ Nhgiên cứu và xây dựng một lộ trình phù hợp với điều kiện của nước ta.
Đồng thời trong khi hội nhập cần chú ý tới các ngành mà ta còn yếu kém như viễn
thông, dịch vụ
+ Chủ động và khẩn trương chuyển đổi cơ cấu của nền kinh tế, nâng cao
trình độ khoa học kĩ thuật, nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam.
Chúng ta phải không ngừng nâng cao chất lượng, đồng thời phải tìm cách hạ giá thành
sản phẩm.
+ Tích cực hoàn thành một cơ cấu quản lý đồng bộ theo định hướng xã hội
chủ nghĩa. Nhà nước cần thúc đẩy làm nhanh chóng hình thành nên các thị trường hàng
hoá, bất động sản, thị trường chứng khoán
+ Có kế hoạch về đào tạo nhân lực tinh thông về nghiệp vụ, vững vàng về
chính trị.
+ Kết hợp hoạt động đối ngoại về chính trị và kinh tế chính trị.
+ Chủ chương hội nhập kinh tế với đảm bảo an ninh quốc phòng.
+ Tích cực đàm phán để tham gia vào Tổ Chức Thương Mại Thế Giới
WTO.
+ Kiện toàn Uỷ ban kinh tế quốc tế đủ năng lực và thẩm quyền.
(b) Khai thông thị trường, chủ động hội nhập quốc tế: Sau gần 15 năm
thực hiện đường lối đổi mới và mở cửa theo tinh thần Đại Hội VI của Đảng, nền kinh
tế nước ta đã đạt được những thành tựu rất quan trọng, tạo thế và lực lượng khá vững
chắc cho đất nước bước vào thế kỉ XXI. Đến nay quy mô nền kinh tế đã tăng gấp hai
lần so với năm 1990. Chúng ta đã thiết lập quan hệ với hơn 170 nước, tranh thủ được
đầu tư trực tiếp của gần 100 nước với 2290 dự án, vốn đăng kí trên 35,5 tỉ USD và vốn
thực hiện đạt trên 15,1 tỉ USD. Đáng chú ý là chúng ta đã khai thông được quan hệ với

các mặt hàng thiết yếu; hỗ trợ lãi xuất cho các cơ sở thu mua sản phẩm nông
nghiệp Nhà nước nên chú trọng nâng cao thu nhập cho nông dân; giảm thuế nông
nghiệp cho nông dân và có chính sách bao tiêu sản phẩm
3. Đối với thị trường bất động sản: đẩy nhanh quá trình cấp giấy sử dụng
đất, khuyến khích tất cả các hộ đăng kí và làm thủ tục hợp pháp hoá quyền sử dụng đất
để có thể giao dịch trên thị trường được dễ dàng. Đơn giản hoá thủ tục mua bán, kinh
doanh nhà đất, có giải pháp khuyến khích đối với các công ty bán nhà trả góp, giảm giá
thuế chước bạ
4. Đối với thị trường sức lao động: Nhà nước cần xác định đầu tư tối ưu
cho giáo dục - đào tạo là đầu tư cho tương lai, đầu tư cho phát triển. Một mặt tăng ngân
sách cho GD - ĐT. Mặt khác, khuyến khích đầu tư từ nhiều nguồn, đặc biệt chú trọng
hoạt động đào tạo, dạy nghề cung ứng cho thị trường nguồn nhân lực có chất lượng.
5. Đối với thị trường ngoại hối: để ổn định tình hình của thị trường này cần
tiếp tục cơ chế điều hành tỉ giá linh hoạt, từng bước đưa đồng Việt Nam tới giá trị thực
nhằm khuyến khích xuất khẩu. Tăng cường các giao dịch kì hạn trên thị trường ngoại
tệ liên ngân hàng, kiểm soát giao dịch trên thị trường tự do, tiến tới chỉ dùng đồng Việt
Nam trên lãnh thổ Việt Nam (trừ những khu vực cửa khẩu, khu thương mại tự do )
6. Đối với thị trường chứng khoán: Vì mới được thành lập chưa lâu tuy có
một số điểm khả quan, nhưng do nhận thức về thị trường mới mẻ này còn ít của người
dân vì vậy sẽ cần sự can thiệp rất nhiều của nhà nước. Nhà nước nên có một bộ luật
hoàn chỉnh về thị trường chứng khoán, theo dõi sát xao và có chính sách thúc đẩy thị
trường này phát triển.
(c) Nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước:
Như đã nói ở trên, hội nhập kinh tế không những đem lại cho chúng ta
những cơ hội mà còn đem đến cho chúng ta những thách thức hết sức to lớn. Trong đó,
việc phải cạnh tranh với các nước tiên tiến là rất khó khăn. Hơn lúc nào hết, chúng ta
phải tự nâng cao sức cạnh tranh của mình. Muốn nâng cao sức cạnh tranh của nước ta

hình thức giáo dục chính quy, không chính quy, thực hiện giáo dục mọi người, cả nước
trở thành một xã hội học tập. Thực hiện phương châm học đi đôi với hành, giáo dục kết
hợp với sản xuất, nhà trường gắn với xã hội. Chăm lo phát triển giáo dục mầm non, mở
rộng hệ thống nhà trẻ và trường lớp mẫu giáo trên mọi địa bàn dân cư, đặc biệt là vùng
nông thôn và những vùng khó khăn. Củng cố thành tựu xoá nạn mù chữ và phổ cập
giáo dục tiểu học, đồng thời đẩy nhanh quá trình phổ cập trung học. Tăng ngân sách
nhà nước dành cho giáo dục và đào tạo nghề theo đầ tăng trưởng của nền kinh tế. Hiện
đại hoá các cơ sở giáo dục. Mở rộng hợp lý quy mô giáo dục đại học, làm chuyển biến
rõ nét về chất lượng và hiệu quả đào tạo. Tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo
đức, lối sống cho học sinh sinh viên. Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục, tạo
điều kiện chó người nghèo có cơ hội học tập. Chính phủ tăng cường chính sách hỗ trợ
đặc biệt những học sinh có năng khiếu, vượt khó học giỏi; có quy hoạch và chính sách
tuyển chọn người giỏi. Tăng ngân sách cho việc cử người đi học tập ở các nước tiên
tiến.
(e) Nhà nước cần đầu tư hơn nữa cho phất triển khoa học và công
nghệ: cùng với giáo dục và đào tạo thì đây là quốc sách hàng đầu, là nên tảng và động
lực đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Chúng ta phải coi trọng việc nghiên cứu
cơ bản trong khoa học. Tăng đầu tư ngân sách và huy động các nguồn lực khác cho
khoa học và công nghệ. Sắp xếp, đổi mới hệ thống nghiên cứu khoa học, phối hợp chặt
chẽ nghiên cứu khoa học tự nhiên, khoa học - công nghệ với khoa học xã hội và nhân
văn. Hoàn thành việc xây dựng những khu công nghệ cao và hệ thống phòng thí
nghiệm trọng điểm quốc gia. Sử dụng có hiệu quả các quỹ hỗ trợ cho khoa học và công
nghệ. Đẩy mạnh việc hợp tác quốc tế trong nghiên cứu khoa học và công nghệ. Thực
hiện tốt chính sách bảo hộ sở hữu trí tuệ. Nhà nước cần có chính sách thưởng và đãi
ngộ đối với các nhà khoa học có công trình xuất sắc.
(f) Mở rộng quan hệ đối ngoại: Nhiệm vụ đối ngoại của chúng ta là tiếp
tục giữ vững môi trường hoà bình và tạo điều kiện quốc tế thuận lợi để đẩy mạnh phát


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status